SSD01. AMSTERDAM STORIES
KẺ ĂN BÁM
Nescio
I.
Ngoại trừ người đàn ông đã nghĩ Sarphatistraat là nơi đẹp nhất Châu Âu này ra, tôi chưa từng gặp bất cứ ai kỳ lạ hơn kẻ ăn bám này.
Kẻ ăn bám mà bạn phát hiện đang nằm trên giường ngủ của bạn với đôi giày bẩn thỉu khi bạn về nhà muộn, kẻ này đã hút xì gà của bạn, đổ đầy thuốc lào vào ống điếu của bạn, đốt than để sưởi và nhìn vào tủ đựng đồ quí của bạn, mượn tiền của bạn để xài, mang giày, mặc áo khoác của bạn mỗi khi anh ta phải về nhà trong cơn mưa. Kẻ ăn bám luôn mượn danh người khác để đặt hàng, kẻ chỉ biết ngồi uống rượu jenever như một hoàng tử trên bàn ngoài trời của nhà hàng Hollandais qua hoá đơn trả tiền của người khác, kẻ mượn ô và không bao giờ mang về, kẻ sưởi ấm bằng bếp cũ của Bavink cho đến khi nó nứt, kẻ đeo vòng cổ đôi của anh trai và cho mượn sách của Appi, và đi du lịch nước ngoài bất cứ khi nào đòi lại tiền từ ông già, và mặc những bộ côm-lê mà anh ta không bao giờ trả tiền.
Tên đầu của anh ấy là Japi, tôi chưa bao giờ biết họ của anh ấy. Bavink xuất hiện với anh ta khi anh trở về từ Veere.
Suốt cả mùa hè Bavink đã vẽ tranh ở Zeelands, và chính ở Veere, anh đã gặp Japi lần đầu. Japi chỉ ngồi đó, Bavink một đôi lần đã tự hỏi: gã đó là loại người gì? Không ai biết. Anh ta luôn ngồi ở đâu đó bên bờ nước, chỉ ngồi và ngồi hết giờ này đến giờ khác, không di chuyển. Vào lúc giữa trưa và lúc sáu giờ tối, anh ta vào trong nhà khoảng một tiếng để ăn; phần còn lại của ngày anh vẫn ngồi đó. Việc này kéo dài khoảng ba tuần, sau đó Bavink không thấy anh ta đâu nữa.
Hai ngày sau, Bavink về lại Rotterdam. Thỉnh thoảng anh cũng cần có nhiều người xung quanh, anh đi bộ dọc theo bến cảng Rotterdam trong vài ngày, và thế cũng đã đủ. Anh lên tàu thuỷ từ Numansdorp đến Zijpe, lại có Japi ngồi bên cạnh. Một cơn gió lạnh buốt thổi qua khá mạnh sáng hôm đó, và có những chiếc mũ lưỡi tai màu trắng trên mặt nước. Thỉnh thoảng những con sóng bạc đầu vỗ lên mạn tàu làm tung toé nước qua lan cang ở mũi con tàu. Các cửa kính trên boong trước được đóng kín; không ai đứng ở mũi tàu. Chỉ có Japi, đang đứng nhìn qua lan cang tàu và bị ướt sũng. “Nhìn kìa,” Bavink nghĩ. “ Kia không phải chính là anh chàng đó sao”. Anh đến và đứng cạnh anh ta. Con tàu tròng trành và lắc lư trên sóng nước. Japi ngồi trên chiếc băng nhỏ, giữ chặt mũ lưỡi trai và để chính mình bị ướt sũng. Việc này kéo dài khá lâu cho đến khi anh nhận ra có người đến bên cạnh mình. Bavink nói “thời tiết đẹp quá,” Japi nhìn Bavink bằng đôi mắt xanh to tròn và giữ chặt mũ lưỡi trai. Ngay lúc đó một cơn sóng lớn vỗ vào mạn thuyền làm tung toé nước lên boong tàu. Có những giọt nước trên mặt Japi. “Không sao đâu,” Japi nói. Mặt trước của con tàu bị xóc mạnh xuống mặt nước. Ai đó cố mở cửa kính của phòng trên tàu, nhưng gió đã làm nó đóng lại. Bavink nói, “chúng ta có nhiều thời gian chỉ để có điều gì đó muốn nói với nhau. “Ồ,” Japi nói, “thời gian không có ý nghĩa gì nhiều đối với tôi”. Câu chuyện đã bị đình trệ. Japi nhìn những con sóng, Bavink nhìn chiếc mũ lưỡi trai màu xám của Japi và nghĩ: Anh chàng này là ai? Đột nhiên Japi nói, “Nhìn kìa, có một cầu vồng trong nước”. Có một phần của vòng cung cầu vồng trong nước nhưng không có gì trên bầu trời. Japi lại nhìn Bavink với đôi mắt to xanh biếc và bỗng trở nên nói nhiều.
“Ở đây thật đẹp, nếu bạn hỏi tôi,” anh ta nói. “Thật tệ là không phải lúc nào cũng có thể như thế này được”. “Trong khoảng một tiếng nữa là chúng ta sẽ ở đó,” Bavink nói.
“Bạn sẽ đến Zierikzee?” Japi hỏi.
“Thực ra, tôi sẽ đi tiếp đến Veere tối nay,” Bavink nói. “Tôi hiểu rồi,” Japi nói “ bạn đang ở đó?”
“Vâng, tôi đang ở đó và bạn có phải là quý ông đến từ Amsterdam, người luôn ngồi bên bờ nước không?” Japi bật cười và nói, “Tôi ngồi bên bờ nước rất nhiều, nhưng “ luôn luôn” là hơi quá nhiều đấy. Vào buổi tối tôi nằm trên giường, tôi cần một giờ để mặc quần áo và ăn sáng, tôi ăn bữa trưa khoảng nửa tiếng và lúc sáu giờ tôi lại phải ăn bữa tối. Nhưng tôi ngồi bên bờ nước rất nhiều. Đó là lý do tại sao tôi đến Zealand. Đôi khi tôi vẫn để áp lực đến với mình. Tuần trước tôi đã đến Amsterdam. Tôi phải làm vậy vì tôi hết tiền”.
“Bạn đến từ Amsterdam?” Bavink hỏi. “Đúng vậy, ơn Chúa”. Bavink nói, “tôi cũng vậy”.
“Bạn không vẽ?” Bavink hỏi. Đó là một câu hỏi kỳ lạ nếu chỉ để hỏi ai đó, nhưng Bavink vẫn đang cố gắng tìm xem anh chàng này là loại người nào. Japi nói, “Không, cảm ơn Chúa,” và tôi không phải là nhà thơ, tôi không phải là người yêu thiên nhiên và tôi cũng không phải là người theo chủ nghĩa vô chính phủ. Tôi, cảm ơn Chúa, hoàn toàn không là gì cả”.
Điều đó chắc chắn là rất hấp dẫn đối với Bavink.
Con tàu bị sóng nhồi cực mạnh, va dập, tròng trành, lắc lư từ bên này sang bên kia, nước bắn tung toé và tràn qua lan cang tàu. Không ai ở trên boong tàu. Phía trước là khoản trời nước mênh mông, vô tận, với những con sóng bạc đầu; bóng của những đám mây lớn trông như một hòn đảo trôi nổi; một con tàu chở hàng màu đen xa tít đằng xa đang lao tới, lao vút lên một cách điên cuồng. Japi nói, “ hãy nhìn xem, “thành phố Ghent”. Từ xa bạn có thể nhìn thấy tia nước phun lên ở hai bên mũi tàu; cánh quạt tàu khuấy tung nước thành bọt, làm sủi bọt xung quanh. Những con sóng dập dềnh với những đỉnh nhọn trong vùng biển lõm xuống, màu xanh lục, xanh nước biển, vàng, xám và trắng tuỳ thuộc vào độ sâu và độ che khuất của những đám mây, không chỗ nào, không khoảnh khắc đơn thuần nào giống nhau cả. Một chiếc tàu kéo nhỏ đang kéo một sà lang.
Japi nói, “không, tôi chẳng là gì và cũng chẳng làm gì cả”. Nhưng thực ra tôi làm quá nhiều. Tôi đang bận khắc phục cơ thể. Điều tốt nhất là chỉ ngồi tĩnh lặng. Đi đến nhiều nơi và suy nghĩ lung tung chỉ dành cho những kẻ xuẩn ngốc. Tôi không đi cũng không nghĩ. Thật quá tệ, tôi phải ăn và ngủ. Tôi thích dành cả ngày và cả đêm chỉ để ngồi trong tĩnh lặng”. Bavink bắt đầu suy nghĩ: đây là một trường hợp khá thú vị. Anh ta gật đầu. Japi luôn giữ chặt chiếc mũ lưỡi trai trên đầu bằng bàn tay phải, cánh tay phải chống lên thành lan cang. Gió thổi mạnh đến nỗi Bavink phải dùng bàn tay che mũi để thở. Japi cứ ngồi đó như anh đang ngồi tại nhà. Sau đó Japi nói kế hoạch tiếp theo của anh là sẽ lưu lại Veere thêm ít tuần nữa cho đến khi nào hết sạch số tiền mặt.
Việc vẽ tranh có vẻ đủ tốt đối với anh nếu có thể làm được điều đó. Anh lại không thể làm được bất cứ điều gì, do vậy anh đã không làm bất cứ thứ gì. Và sau tất cả, anh không thể diễn tả mọi thứ theo cách anh cảm nhận. Anh chỉ có một mong muốn: khuất phục được cơ thể, để không còn cảm giác đói hay kiệt sức, giá lạnh hay mưa dầm. Đó là những kẻ thù lớn. Anh luôn phải ăn và ngủ, rồi lại ăn uống và ngủ nghỉ, hết lần này đến lần khác. Anh phải cố vượt qua cái lạnh, sự ướt át, sự mệt mỏi và nỗi khổ đau. Bây giờ hãy nhìn vào mặt nước kìa. Nó có cái hay: nó chỉ biết gợn sóng và phản chiếu những đám mây, nó luôn đổi thay nhưng vẫn luôn giữ nguyên thể trạng. Nó không có vấn đề gì cả.
Suốt lúc này Bavink cố đứng vững bằng gậy chống, tựa lưng vào gió và gật đầu với Japi. Hắn đang mãi mê gì trong đó, Bavink nghĩ. Và anh hỏi một cách nhẹ nhàng liệu Japi có tiếp tục đến Veere không. Và thế là câu chuyện lại chuyển hướng sang Zierikzee, Middelburg, Arnemuiden, và tất cả những nơi mà cả hai đã từng đi bộ, đứng, ngồi quanh quẩn. Vì, thực ra Japi đã làm khá nhiều thứ trong cuộc sống của anh hơn là chỉ ngồi bên bờ nước ở Veere. Và Bavink trước đó đã nhận biết rằng Japi không chỉ có thể đi, đứng và ngồi mà còn có thể thấy nữa. Và thảo luận về cái thấy đó hằng nhiều giờ. Và khi họ đặt chân lên đất liền một lần nữa ở Zijpe, Japi chỉ về phía tây nam nơi có ngôi tháp rộng ở Zierikzee, có thể nhìn thấy một cách lờ mờ ở phía” chân trời, và nói, “Fat Jan, lão già Fat Jan đầy kiên nhẫn ấy vẫn đứng vững. Tôi nghĩ vậy. Chắc chắn lão vẫn còn đứng vững”. Và sau đó, Bavink hỏi Japi liệu có phải lúc nào tâm trạng cũng luôn vui vẻ như vậy không. Japi trả lời, “Tôi là như vậy đó,” không có gì khác hơn nữa. Khi họ đến Zierikzee, cả hai bước xuống xe điện, Japi đập đế giày của mình lên những viên đá cuội nóng hổi của một con phố nhỏ trải dài, không một bóng râm, chỉ đang phơi mình trong nắng, và nói rằng cuộc sống thực sự hết sức buồn cười. Và rồi anh ta quơ chiếc gậy một cách đầy thách thức trước mặt trời và nói, “mặt trời này, đứng yên! Nó chiếu sáng, nhưng sau đó nó bắt đầu đi xuống, nó không đi lên lại, đến sau buổi trưa xế, nó phải lặn. Vào đêm trời sẽ trở nên mát mẻ trở lại. Mắt của mọi người sẽ không lìa khỏi đầu của họ nếu một ngày nào đó nó không lìa khỏi cổ. Đẹp và ấm áp, phải không. Những thứ của tôi đang dính chặt vào cơ thể tôi. Không khí biển đang phà hơi quanh cổ áo tôi”.
Vì vậy, rõ ràng cái thứ “khuất phục cơ thể” này không hoàn toàn theo nghĩa đen như tất cả những điều đó.
Tại bàn ăn, Japi là người nói nhiều hơn, anh ta nói đủ cho ba người và ăn đủ cho sáu người. Họ nói ở Veere rằng “không khí biển đào sâu trong anh một lỗ hổng. Anh ta uống đủ cho sáu người nữa và hát toàn bộ những bài hát tồi tệ của Nancy Brick. Nói tóm lại, anh ta là loại người lăng xăng và huyên náo, Bavink nghĩ một chàng trai như thế này đáng giá ngàn vàng.
Anh ta là thế đó. Vào buổi chiều anh ta đưa Bavink đến vòng đai quanh kênh đào và cho anh ta đi bộ ba vòng quanh Zierikzee. Miệng không ngớt huyên thuyên và gậy của anh liên tục chỉ chỏ. Và khi có những người Zierikzee nào đứng lại và chăm chăm nhìn anh, thế là anh ta liền bước đến chỗ họ và gọi họ là “người đàn ông trẻ tuổi”, vỗ vai và hỏi thăm sức khoẻ họ. Bavink gập người lại vì cười quá mức. Japi rất giỏi kết thân ngay cả với những người Hà Lan có văn hoá tốt, những người không kiên nhẫn với bất kỳ ai, những người, ít nhất là, không trông có vẻ xuẩn ngốc và nhạt nhẽo như họ, những người chế giễu bạn, nói tất cả những điều về bạn trước mặt bạn, ở nơi công cộng, như thể các mục sư và linh mục ở ngay cả những ngôi làng nhỏ nhất đã không cố gắng nâng cao sự hiểu biết cho mọi người đúng cách qua nhiều thế kỷ. Japi là một con ngựa thồ cần mẫn và cậu ta, nếu cần, cũng có thể trở thành một con người với kỹ năng và nghị lực đến nỗi ngay cả những người thô lỗ tàn bạo nhất cũng phải quy phục. Mọi thứ đã không đi xa đến như thế ở Zierikzee. Người dân ở Zeeland thực sự rất tốt. Japi thích nói, “Một điều tôi cảm thấy rất tiếc là thỉnh thoảng ở Walcheren không có sự ẩu đả”.
II.
Trong hai ngày Bavink và Japi đi quanh quẩn quanh Veere và đã trở nên trơ lì như những tên trộm. Họ ngồi bên nhau hàng giờ trên mái nhà của Hospitaal và nhìn ra Walcheren , Kreed, và Veergat cũng như miệng của Oosterschelde và những đụn cát trên Schouwen. Lại có Fat Jan, tháp Zierikzee, bây giờ đến phía bắc. Có Goes, Tall Jan, tháp Middelburg, ngọn tháp mà Walcheren quay quanh, trái tim của thế giới này. Và thuỷ triều đến rồi đi, lên lên xuống xuống. Mỗi đêm người gác bến cảng khập khiễng đến, trước tiên ông ta bật đèn xanh trên đê chắn sóng Noorderhoofd, rồi trở xuống, rồi ông ta phải đi một vòng quanh bến cảng, rồi bạn lại thấy ông ta bên toà tháp, mở cánh cổng gỗ, leo lên những bậc thang bằng gỗ và thắp sáng tất cả đèn trên tháp. Và sau đó Japi nói, “Một ngày khác, xếp hả,” người gác bến cảng khập khiễng nói, “Vâng, thưa ngài, một ngày khác”. Và rồi khi bạn nhìn về phía Schouwen, bạn thấy ánh đèn nhấp nháy khi nó xoay. Và một giờ ra khơi, chiếc phao nổi, ánh đèn của nó chiếu sáng rồi tắt, sáng và vụt tắt. Nước dâng lên rồi rút xuống suốt đêm. Mặt trời mà bạn không thể nhìn thấy đã lướt qua phía bắc và tia sáng cuối cùng trong ngày bạn có thể nhìn thấy cũng lướt qua phía bắc cùng với nó và biến thành ánh sáng đầu tiên vào buổi sáng của một ngày mới. Một ngày chạm với một ngày tiếp theo, như cách các ngày luôn tiếp diễn trong suốt tháng Sáu.
Đối với trái đất, mọi thứ đủ đơn giản. Nó chỉ quay quanh trục của nó và đi theo hướng đi quanh mặt trời và không có gì phải lo lắng. Nhưng người trên trái đất có cả một nỗi băn khoăn, vô vàn rắc rối, đầy ắp âu lo, quan tâm và lo lắng vô tận, như thể nếu không có những rắc rối này, những sự quan tâm này, và những nỗi âu lo này, ngày không biến thành đêm được. Japi biết rõ hơn ai hết. Mặt trời lặn xuống đại dương bên chính những cồn cát ở Walcheren. Bavink đôi khi lại theo cách tồi tệ. Anh là người thường làm việc chăm chỉ. Mọi người nghĩ anh là người tốt. Anh thường có những trận cười sảng khoái về điều đó. Anh ta đã không bán bất cứ thứ gì khi anh không cần phải; anh ấy gác lại công việc tốt nhất của mình và không bao giờ đoái hoài đến nó nữa, luôn luôn không hài lòng. Chừng nào anh còn làm việc thì mọi thứ đều ổn, ngay khi anh dừng lại, liền phải chịu đựng khổ đau. Đôi lúc anh rã rời vì mệt mỏi. Nếu mọi người biết được anh ấy thực sự nhìn thấy mọi thứ như thế nào, mọi thứ quấn lấy anh ta ra làm sao, thì họ sẽ cười nhạo sự bung bét của anh ấy, sự nổ lực vụng về đáng thất vọng để tái tạo vẻ uy nghi đó. Có những lúc Bavink chẳng làm gì cả, chỉ biết buông thả, bỏ mặc mọi thứ và nghĩ rằng thật “tuyệt vời” biết bao khi mọi thứ “quá đẹp” như anh gán cho nó. Những lúc anh cảm thấy đau nhói trong hộp sọ khi nghĩ về tất cả những nổ lực vô ích của mình, “việc làm đáng ngưỡng mộ” của anh, công việc đáng khâm phục! Nó khiến anh muốn nôn thốc khi nghĩ về nó. “Việc làm đáng khâm phục,” họ nói. Họ không biết điều đầu tiên về nó. Rõ ràng là Chúa đã không đá họ như đã với Bavink. Anh ước chi anh có thể từ bỏ việc vẽ tranh, nhưng điều đó chẳng đơn giản chút nào: những gì từ nội tâm anh muốn bộc lộ ra ngoài. Và do đó, một sự tra tấn lại bắt đầu: làm việc, làm việc, làm việc như một cái máy cả ngày và đêm. Vẽ cả ngày và trăn trở suốt đêm, ở lại với nó, làm suốt với nó, lo lắng về việc liệu lần này có thực sự nắm bắt được mọi thứ hay không. Anh đã không ngủ hoặc ăn nhiều, lúc đầu anh hút rất nhiều xì gà, hết điếu này đến điếu khác, nhưng sau ngày đầu tiên, anh cũng ngừng làm việc đó. Anh đã có những lúc hạnh phúc lớn nhất, một niềm vui mà tất cả sự uể oải của anh đắm chìm trong đó, một niềm vui mà “cái đẹp mỹ miều” không thể mang lại cho anh. Và rồi người ta đổ xô đến xem, người này, người nọ, họ đứng sau anh nhóm hai người, ba, bốn, họ xem, gật đầu, chỉ tay. Và đột nhiên nó đã kết thúc. Anh nói “chết tiệt” thật và bỏ đi nằm trên chiếc giường tre của mình, và sai người nào đó đi lấy một bình rượu, pha rượu và thế là xong. Sau đó một vài ngày, anh cất tấm bạt với phần còn lại. Trong suốt những ngày tiếp theo, anh sống trong đau khổ, mệt mỏi, lầm lì, tê liệt và ốm yếu, và anh lại bắt đầu đi loanh quanh trở lại, như anh đã: không làm gì cả, đi tha thẩn xung quanh nhà, đi đi lại lại cả ngày. Khi nào cần tiền, anh lôi một thứ gì đó ra khỏi “đống rác” của mình, tìm kiếm một thứ “phế liệu” mà ai đó sẽ cho một thứ gì đó” rồi bán thứ đó để có tiền. Không ai có thể thay đổi cách làm của anh ấy – đó là cách anh đã từng làm. Điểm mạnh và điểm yếu của anh là một. Khi anh bán được thứ gì đó, anh nhét tiền vào túi, và rủng rỉnh những đồng guilder, đồng đô la, đi xuống khu Kalverstraat huýt sáo theo một giai điệu, thân thiện chào hỏi, và vui vẻ vẫy tay bất cứ khi nào bạn tình cờ gặp anh ta. Sau đó, đến đứng cạnh bạn và ranh mảnh khoe với bạn về những đồng “tiền xu” trong túi, cười thành tiếng và nói, “bạn có thể tin được những kẻ hút máu đó không?” Anh không bao giờ nhận tiền giấy: bạn không thể rung ra rủng rỉnh những tờ giấy bạc trong túi cho người ta nghe được. Anh phải có những đồng tiền vàng, bạc, và khi đã có quá nhiều để không thể mang hết thì anh bảo,”anh sẽ ghé lại để lấy phần còn lại sau.”
Đó chính là Bavink. Rõ ràng ai đó ở trong trạng thái thường xuyên muốn khuất phục cơ thể sẽ hoàn toàn thích thú với anh ta. Người ấy có thể học được điều gì đó từ một người đàn ông như thế. Ai đó nghĩ thật tốt khi để gió lùa qua tóc mình, là đã để cho gió lạnh làm ướt sũng quần áo và cơ thể mình, đưa lưỡi lướt trên môi vì hương vị của đại dương quá “ngon chết bỏ”, hít đôi bàn tay mình trong đêm để ngửi mùi biển. Ai đó nghĩ rằng chỉ cần còn sống và có sức khoẻ tốt là đủ, người đó đã đi trên lối đi vui vẻ của mình giữa trời và đất của Chúa và nghĩ rằng thật ngu ngốc khi con người tự gây ra rất nhiều rắc rối cho chính mình và cười lớn tiếng với chúng, và mãi ngồi đó với nụ cười thanh thản, lặng lẽ tận hưởng nước, bầu trời, mây và cánh đồng, để mặc cho mưa làm ướt sũng cả người mà không cần để ý đến nó, sau đó lại nói,”tôi nghĩ tôi bị ướt” và cười sảng khoái. Một người có thể ăn một bữa ăn đắt tiền, uống rượu jenever đắt tiền hơn bất cứ ai ở Hà Lan và sau đó, vào những thời điểm khác, trên những chuyến đi bộ dài của mình (bởi vì anh ta không phải lức nào cũng ngồi yên một chỗ, nên thường xuyên dành cả ngày cho đôi chân của mình), anh ăn bánh mì tròn khô ngày này qua ngày khác và cảm động đến rơi nước mắt vì ở ngoài trời một miếng bánh mì như thế này có thể ngon hơn cả tuyệt vời”.
Và khi Bavink đang làm việc, Japi ngồi trên bãi cỏ bên cạnh, hoặc ngồi dựa ngửa trên một chiếc ghế bên trong, hút thuốc lá. Khi cả hai vào trong nhà, Japi để một chiếc ghế khác gần đó với một ít rượu trên đó, thỉnh thoảng vói tay lấy nó. Anh đã giữ cho Bavink đi đúng hướng. Bavink ít khi nói một lời với ai khi anh đang làm việc, nhưng anh đã nói chuyện với Japi. “Quỷ tha ma bắt,” Japi nói, “Nó tốt hay không tốt, không thành vấn đề! Bạn làm những gì bạn có thể, bạn chỉ là một đứa con hoang đáng thương như bao người khác. Bạn phải vẽ. Bạn không thể dừng lại, có phải không? Những thứ không đáng để quan tâm nếu bạn không hiểu chúng một cách chính xác theo cách bạn nhìn thấy chúng. Dù sao thì người khác cũng chẳng hiểu gì cả, không phải đồ vật, không phải công việc của bạn, không phải chính bạn. Với tôi, tôi có thể dành thời gian của mình theo nhiều cách khác nhau hơn là ngồi đây uống rượu và dán mắt vào mớ sơn màu lộn xộn đó. Bạn nghĩ rằng tôi sẽ tệ hơn trước kia?
“Không, sai bét cả rồi,” anh nói sau đó, “quá xanh – bạn không nhớ chúng ta đã nói chuyện gì ngày hôm qua sao? Quá nhiều màu xanh rồi, làm ơn đi! Bạn nghĩ nó sẽ tóm lấy bạn như cách nó đã làm nếu nó chính là màu xanh kỳ lạ đó?”
Japi đáng giá bằng vàng đối với Bavink. Bavink đã đưa anh ta đi khắp mọi nơi. Chính Bavink là người đã biến Japi trở thành người như thế nào khi Bavink xuất hiện cùng với anh ta ở Amsterdam.
Không lâu trước đó, Japi còn tệ hơn về tiền bạc, Bavink sẽ không để cho anh ta đi nếu vì vấn đề tiền bạc trên thế giới này. Việc làm duy nhất của Japi là xem qua “đống rác” và anh ta hiểu ra vấn đề ngay lập tức – chưa bao giờ “bãi rác” mang lại lợi nhuận đến như vậy. Rồi từ đó, Bavink trả tiền cho mọi thứ, hoặc hầu hết mọi thứ. Thỉnh thoảng Japi có được chút ít tiền từ quê nhà. Nhưng điều đó không tạo ra sự khác biệt nào vì đôi khi họ sống như những ông trùm. Khi họ có tâm trạng tốt họ đến Amsterdam vài ngày, đến Brussels, Paris, Luxembourg, họ ở Normandy hai tuần. Japi thường mang theo vài thứ từ đống phế liệu, anh ấy gọi chúng là “ một con chip từ đống phế liệu cũ”. Ở Pháp và ở Bỉ, anh đến nhà những người trên phố, bấm các chuông cửa. Bavink đã không để cho bất cứ ai khác trên thế giới này làm bất cứ điều gì trong số này. Nhưng không ai khác đã hiểu nghệ thuật đã giữ Bavink sống còn, như Bavink đã nói. Cuộc trò chuyện của anh ta là không biết mệt mỏi. Anh đã có một ký ức về phong cảnh gắn liền với những điều kỳ diệu. Anh biết mọi thứ dọc theo tuyến đường sắt từ Middelburg đến Amsterdam: mọi cánh đồng, mọi con mương, mọi nhà, mọi con đường, mọi hàng cây, mọi bãi cây thạch nam ở Brabant, mọi ghi trên đường ray xe lửa. Nếu bạn đã đi du lịch hằng giờ trong đêm tối, Japi nằm dài ra ngủ trên chiếc ghế suốt thời gian đó và bạn đánh thức anh ta và hỏi, “Japi, chúng ta đang ở đâu?” Bạn chỉ cần đợi cho đến khi anh ta tỉnh thức hoàn toàn, và tất cả những gì anh ấy phải làm là lắng nghe âm thanh của tàu chạy trên đường ray và sau đó anh sẽ nói, “Tôi nghĩ chúng ta đang ở Etten-Leur”. Và anh ấy đã đúng. Anh ta có thể cho bạn biết một cách chính xác là bằng cách nào, vào một ngày như thế, và như thế, bóng của một cây như thế và- như thế ở Zaltbommel lại đổ xuống một con đường như thế và- như thế, và những con tàu nào ra đi xuôi Kuilenburg vào Lek tại khoảnh khắc mà bạn và Japi đang vượt qua một cây cầu đường sắt nhất định. Và rồi anh chăm chú ngồi bên cửa sổ: “bây giờ điều này đang đến, bây giờ điều đó đang đến”. Hằng nhiều giờ. Anh sẽ gật đầu và cười bất cứ khi nào anh nhìn thấy điều gì đó mà anh đặt biệt biết rõ. Hoặc nếu không, anh ta sẽ nói, “Nhìn này, cái cây đã biến mất”, hoặc, “Này, có những quả táo mới trên nó, lần trước tôi không nhìn thấy”. Hoặc: “Hai tuần trước mặt trời ở ngay sau ngọn cây đó, bây giờ hơi lệch về bên trái và thấp hơn, đó là vì chúng ta đã đi hai tuần nữa và chúng ta cũng sẽ trễ mười phút”.
III.
Và vì vậy, khi mùa đông đến Amsterdam, họ cũng đến đó nữa. Japi đã ngồi trong phòng tôi một đêm, ngồi tại bàn và hút xì gà, hết điếu này đến điếu khác. Xì gà của tôi.
Đó là đêm mà Hoyer đã kết thúc công việc. Cậu ta đã trở về từ Paris, giờ thì đang ngồi đó, gầy gò và cao lêu nghêu, đội chiếc mũ rơm, vào tháng Mười Một, và chiếc áo khoác màu cá hồi, say mê về công việc của anh và về các cô gái. Anh đang đọc lở dở câu chuyện khó hiểu về một cô gái trẻ và người đánh xe thuê và một giỏ lươn thì chúng tôi nghe thấy tiếng bước chân huỳnh huỵch đi lên cầu thang. Vì ở trong một khu phố dành cho tầng lớp lao động nên bạn thường chỉ có thể đi lên chung một cầu thang, hầu hết các cửa trước đều để ngõ.
Bavink bước vào đầu tiên và nói,”mọi chuyện thế nào rồi, các bạn?” Tôi đây. A ha! Hoyer, phải không? Khoẻ chứ, Hoyer? Mọi việc vẫn tiến triển tốt chứ? Xin gửi lời chào thân ái nhất đến các bạn. Với cậu nữa, Koekebakker, cậu có thể ở đây chơi lâu với chúng tôi”. Japi đứng ở cửa. Họ ngửi thấy mùi nước biển và mùi cỏ. “Vào đi, anh bạn, mời vào!” Bavink mời anh ấy vào – vào căn hộ của tôi.
“Vì Chúa, Hoyer nói, “làm ơn đóng cửa lại, Koekebakker,” Bavink nói,”Đây là Japi, một chàng trai biết cách làm thế nào để có một thời gian thoải mái. Tôi biết Hoyer vẫn lịch sự hơn bao giờ hết. Ngồi xuống, Japi,” Bavink nói, ngồi phịch xuống chiếc ghế trống duy nhất, “chỉ cần kéo cái rương kia ra”. Một chiếc tủ áo màu nước biển đặt ở đó, chứa đựng một chiếc áo sơ mi sạch và những bức thư của chị gái tôi. “ Chờ đó, tôi sẽ giúp,” tôi nói. Sau đó, chúng tôi trượt cái rương đến gần bàn, Japi và tôi, và rồi Japi thấy một chiếc thùng rỗng chứa tinh bột của Hoffmann có hình một con mèo trên đó.
Tôi đã cho đất vào trong đó nhưng không có gì mọc lên được. “Thay vì vậy, cái kia thì sao,” Japi nói, “ nếu không thì tôi thật thấp”. “Tôi sẽ lấy một trong những điếu này,” Bavink nói, châm một điếu xì gà của tôi. “Bạn cũng vậy, Japi ?” Japi thích nghi được là tốt. “ Thế cái gì kia? Bavink hỏi. Quyển Le Lys dans la Vallee của Balzac đang nằm trên bàn. “À, cụ Balzac tốt bụng. Ông ấy không còn là người trẻ tuổi đầy tự phụ. Đã chết? Chết lâu rồi. Dĩ nhiên. Cơn gió nào từ đâu đưa cậu đến đây, Hoyer? Cậu đang mặc chiếc áo khoác đẹp biết bao! Đứng dậy xem nào. Quá ngắn, anh bạn, quá ngắn. Bavink đang trong tâm trạng khá thoải mái. Hoyer nói, “Tôi biết. Tại sao bạn không cho mình biết là bạn đã trốn biệt tích ở đâu và quý ông này là ai vậy”?
Sau đó là câu chuyện, kèm theo những cái gật đầu và cười toe toét từ Japi. Và thỉnh thoảng vói tay về phía bàn của tôi, và Hoyer cũng đang hút thuốc như một ống khói nữa, tôi đã bỏ hút lâu rồi. “Chờ một chút,” Bavink nói, “Đây, tôi có một số xì gà loại đặc biệt, Kamper Middelburgs từ Besem & Hoogenkamp của Lange Delft”. Tôi nói, “tôi biết chúng”. “Bạn của tôi,” Japi nói, và đang nhìn quanh căn phòng trên sân thượng của tôi, “nó trông rất ấm cúng. Chúa ơi, ở đây thật ấm cúng”. Anh đứng dậy và đi tới sát bức tường. “À, Breitner. Rất tốt. Và chúng ta có gì ở đây? Ở đây rất tối. Vì vậy, lão Anton Mauve tốt bụng. Kìa, chúng ta có toà đô chính, ơn Chúa. “Đó là bản phác thảo của toà đô chính Veere. “Bavink,” Japi nói, “Tôi tin chắc bạn rất quen thuộc với điều này. Tôi sẽ đi tìm một chỗ làm ngay bây giờ nếu điều đó không chút gì liên quan đến việc của bạn”. “Cậu may mắn lắm,” Bavink nói. “Tôi nghĩ vậy,” Japi nói, và anh ngồi xuống. “Không, thực sự, tôi nhất định sẽ quay lại nơi đây một lần nữa. Tôi thích nơi đây”. Ngay lúc đó chiếc máy hát đĩa của người thợ cắt kim cương, bên kia đường vang lên. “Vỗ tay,” Japi nói. Và chúng tôi vỗ tay. Bốn người chúng tôi đứng ở cửa sổ đang mở và tán thưởng hết mình. Bạn có thể nghe thấy tiếng các cánh cửa hình vòm mở ra ở mọi nơi, mọi người bước ra ngoài nhà, một số người vỗ tay chào đón chúng tôi, một đứa trẻ bắt đầu khóc, một con chó tru lên như thể cả khu nhà sẽ chết trong vòng một tháng. Người thợ cắt kim cương không hề nao núng – ông ta thật tuyệt vời. Một phụ nữ trẻ bên kia đường hét lên, “Bọn ngốc Buncha!”. Một cô bé hét lên vài lần: “Đó là Papus! Đó là Zeppelin! Một cậu nhóc bắt đầu thổi harmonica . “Đã đến lúc chung ta rời đi rồi,” Hoyer nói.
Vì vậy chúng tôi đã đi huỳnh huỵch xuống cầu thang. Trên tầng bốn và tầng ba có những cuộc tranh luận ồn ào đang diễn ra bên trong. “Về chúng tôi,” Japi nói. Trên tầng hai, không có ai ở nhà. “Này, Japi,” Bavink nói khi ra đến đường phố, “cậu phải đạt được vòng này”. “Chắc chắn rồi,” Japi nói, “đi thôi”. Vì vậy chúng tôi phải xem Japi như thế nào trong đêm đó. Chủ thuyết của Hoyer là bia không bao giờ gây hại ai, vì vậy chúng tôi đã uống một lượng rất đáng kể. Japi không có một xu dính túi. Hoyer thẳng thừng từ chối, Bavink quá say và nhìn chăm chăm vào khoảng không và nhấn mạnh rằng “anh chàng chết tiệt này là người rất tốt và anh ta sẽ lọt vào vòng này” – ý nói là Japi – “và người phục vụ bàn chết tiệt đó cũng là anh chàng tốt bụng nữa”. Tôi có mười chín xu; Hoyer chuồn ra ngoài. Tôi quyết định đặt “tình huống” này vào hoá đơn tính tiền của tôi, người phục vụ bàn quen biết tôi. Và lúc một giờ sáng chúng tôi băng qua đường Frederiksplein, vui vẻ nhảy múa. Tôi đã nhận lại tiền từ Bavink sau đó; anh ta một mực bắt tôi phải nhận. Japi thấy tất cả đều tuyệt vời, và ba ngày sau anh ta đang ngồi trên mép giường của tôi, đu đưa chân qua lại; anh nói Bavink thật ngu ngốc khi để cho say tuý luý như vậy, cũng may mà “mọi thứ đều ổn”. Khi anh ta ra đi có mang theo quyển Le Lys dans la Vallee.
IV.
Một tháng sau, thời tiết ở dưới mức đóng băng trong nửa tháng, nhưng vào đầu tuần có một sự thay đổi đột ngột. Lúc này, trời đã về đêm và mưa rất to. Cả ngày trời đã mưa tầm tã, gần như không lúc nào ngớt. Nước chảy thành dòng xuống khung cửa sổ nhà tôi. Bên trong nhà cảm thấy thật ấm cúng, tôi rất thích. Tôi không có bếp lò và chiếc áo khoác mùa hè của tôi vẫn còn ở tiệm cầm đồ. Tôi chưa bao giờ sở hữu một chiếc áo khoác mùa đông. Băng giá là vấn đề; bạn phải nằm tại giường vì nghèo, đó là cách duy nhất để giữ cho ấm áp. Thông thường trong những trường hợp này, tôi chỉ ghé qua nhà của Bavink. Nhưng chính lúc này cậu ta đang ngủ vùi cả ngày và đi loanh quanh suốt đêm. Tôi ngồi bên bếp lò của cậu ta cả đêm, một mình và cảm thấy bị bỏ rơi – anh sẽ cần đến tôi nhưng điều đó thực sự không mấy vui. Và bây giờ tôi ngồi nghe mưa rơi lộp độp trên mái nhà và vui mừng vì trời đang tan băng, tan băng rất nhanh. Món bánh mì của tôi, hai lát dày, nằm trực tiếp trên mặt bàn, chiếc đĩa bàn cuối cùng của tôi đã bị vỡ vào đêm hôm trước. Bên cạnh bánh mì là tiền mặt của tôi: bốn tờ giấy bạc màu xanh, hai đồng tiền xu rijksdollar, ba đồng guilder, và một vài xu. Và cái lò đốt bằng dầu trên sàn nhà trong góc phòng, nước trong cái ấm nhỏ bắt đầu sủi bọt. Bên cạnh là bình trà của tôi, nắp mở, sẵn sàng chờ nước sôi; đã có trà bên trong. Và tôi ngồi duỗi chân dưới bàn, chân trần, mặc áo sơ mi, tay thọc vào túi quần, tôi nhìn thức ăn, nhìn số tiền tuyệt vời của tôi, trước ngọn đèn dầu, trước ánh sáng duy nhất của lò đốt dầu nhỏ của tôi, lắng nghe tiếng mưa rơi từng giọt tí tách lòng cảm thấy hạnh phúc.
Bây giờ là tám giờ, tôi đặt đồng hồ xuống bàn bên cạnh tiền của mình, chiếc đồng hồ không còn trên đường đến tiệm cầm đồ và tôi nói, “Bây giờ bạn sẽ ở lại đây với gã Koekebakker cổ lỗ sĩ này, chiếc đồng hồ nhỏ bé ạ,” và tôi lại thọc tay vào túi. Tôi đã quen với việc trò chuyện với những thứ của mình vì có quá ít điều đáng nói với hầu hết mọi người.
Lúc này tôi đã ra khỏi rừng – Mùa thu thân yêu đã không làm tôi thất vọng. Những chiếc lá vàng rơi, gió tây nam đã uốn cong cây cối trên Veerschenweg thậm chí xa hơn về phía đông bắc và thổi những tiếng chuông của Tall Jan đến tai tôi, và làm cho những ngọn tháp lắc lư và rung chuyển trong sợ hãi bên dưới những đám mây đen – cuối cùng tôi đã biến nó thành vàng tại bàn viết của tôi và giờ tôi có thể ngồi và lặng ngắm nó dưới dạng đồng tiền vàng của riêng tôi, tiền mà bạn có thể trông cậy và chẳng bao giờ làm bạn thất vọng và không bao giờ khiến bạn phải chao đảo. Tôi đã về đến nhà một tiếng trước đó, bị ướt như chuột lột, với một ổ bánh mì, nửa cân bơ, sáu lạng xúc xích, nửa cân đường, ba lạng trà và một hộp xì gà, hai mươi lăm điếu, với giá bốn xu – một sự giàu có mà tôi đã không biết tới kể từ sinh nhật của tôi vào tháng trước.Tôi cất xúc xích, cái đó để ngày mai. Tôi đã có một chiếc tủ nhỏ được xây kế bên cửa sổ, và đó là nơi tôi đặt mọi thứ thành hàng trên kệ dưới cùng: bơ, trà, đường, xúc xích, tất cả các thứ có thể rất ngon một khi bạn đã không có chúng quá lâu. Và phần còn lại của ổ bánh mì, trừ hai lát, được chất ở trên một kệ cao hơn.
Quần áo của tôi được phơi trên đầu cầu thang, dưới xà nhà: áo khoác, áo len, quần dài, quần lót, áo sơ mi và tất. Nước bắt đầu sôi, nắp ấm lạch cạch lên xuống. Tôi nhìn hơi nước và bắt đầu nghĩ về việc ngày mai tôi sẽ lấy áo khoác từ tiệm cầm đồ như thế nào và vì một lần không ăn tối tại nhà hàng kosher – thịt bò và khoai tây với giá ba mươi xu, xúp đậu với thịt ba mươi lăm xu. Và tôi chỉ nghĩ rằng thật không vô lý khi nghĩ đến việc chuẩn bị một chút gì đó để uống trong nhà khi mà quá trình thiền định của tôi bị gián đoạn bởi tiếng bước chân nặng nề bên ngoài cửa. Ai đó đang sờ soạng vào cửa của tôi. Bạn không thể gõ cửa được vì cánh cửa được làm bằng giấy dán tường dán vào hai tấm vải màn, nếu bạn gõ cửa, bạn có thể thọc tay xuyên qua nó. Mọi người đều biết điều đó. Ắt hẳn là Hoyer,” tôi nghĩ, “anh ta không bao giờ tìm thấy cái móc”. Cái móc cửa ở bên trong, nhưng cánh cửa không bao giờ đóng lại đúng cách và bạn chỉ cần đưa ngón tay qua khe nứt và mở cửa từ bên ngoài. “Vào đi,” tôi hét lên, quá lười biếng để đứng dậy. “Nói thì dễ hơn làm,” tôi nghe một giọng nói, “mọi việc thế nào?” “Tôi không nhận ra giọng nói đó,” tôi nghĩ, “đó có thể là ai?” Tôi đứng dậy và mở cửa, một giọt nước lăn trên tay tôi. “Mình là Japi,” người đàn ông nói. “Mời vào,” tôi nói một lần nữa. Anh ta đứng đó, nước chảy ra từ từng nếp gấp quần áo và cả mũ của anh ta nữa. “Trời đang mưa to,” Japi nói. “Tôi có thể để áo khoác của tôi ở đâu đó không? Chờ một chút, tôi phải đặt cái này xuống trước đã”. Anh ta lấy ra một cái gói được gói bằng giấy báo từ dưới áo khoác ra – sách, bạn có thể đoán – và đặt nó lên bàn. “Vậy, có chỗ nào để treo cái này không?” anh ấy nói, vừa trao cho tôi chiếc áo khoác của anh. Anh ấy tựa mũ vào bếp nấu ăn nhỏ của tôi. “Chờ một chút, anh bạn già ạ,” tôi nói và mang áo khoác và mũ của anh ta ra khu vực chung, treo áo khoác bên cạnh quần áo ướt của tôi, và giũ chiếc mũ ra, đặt nó trên sàn nhà trong góc. Japi đã ngồi sẵn, xổ ống quần ra và nhìn xung quanh. “Nhờ ở gì mà tôi có được niềm vinh hạnh này, thưa ông?” “Cứ gọi tôi là Japi,” anh ta nói. Anh ta mở gói hàng ra và đặt quyển Le Lys dans la Vallee xuống bàn. “Của bạn đấy, ông bạn”. “Cảm ơn,” tôi nói, “và đó là những gì?” “Ồ,” Japi nói, “một quyển sách của Appi”. “Dạo này Appi có đang đọc Handelsblad không?” “Không, Japi nói. “Tờ báo là của ông già tôi. Có một mục quảng cáo cần người trên đó”. “Một mục quảng cáo cần người?” “Mục quảng cáo cần người, trông này, tôi vừa nhận nó từ ông già”. “Tìm một thư ký trợ lý cho Doanh Nghiệp Xuất Khẩu đầy bận rộn” – hiểu chứ?”. Một Doanh Nghiệp Xuất Khẩu bận rộn – kiến thức rộng về các ngôn ngữ hiện đại, tốc ký, đánh máy. Những ứng viên có kinh nghiệm trước đây trong lĩnh vực xuất khẩu – nghe thấy không? Kinh nghiệm trước! – sẽ được xem xét ưu tiên.” Hãy tận hưởng sự cứu xét ưu tiên, tôi thích điều đó. Lương: 300- 400/ năm. Nộp đơn tại #1296 Handelsblad ofc. “Có vẻ giống Floris the Fifth. Floris the Stiff thì giống hơn. Floris the Stiff bắc qua kênh đào Overtoom. Chưa bao giờ nghe thấy điều đó? Bạn biết tại sao họ lấp đầy Overtoom Canal không? Họ cảm thấy chán ngán khi thấy anh chàng cứng nhắc đó nhảy qua nó mọi lúc. 300 – 400 nghe có vẻ tốt với tôi đấy, phần còn lại không quá nhiều.
“Bạn nghĩ là bạn sẽ trả lời mục quảng cáo đó?” tôi hỏi. “Nghĩ?” Japi nói. “Tôi phải làm theo lời ông già. Ông nói thật không thể tiếp tục như thế này. Tôi không thấy lý do tại sao không. Phải chăng tôi là gánh nặng đối với ông ấy? Tôi chỉ ngủ tại nhà hai lần trong tháng này, ông ấy chẳng cho tôi một xu. Nhìn này”. Anh ta thò một chân ra. Tôi nhìn thấy một chiếc giày màu vàng mới toanh. “Cái quỷ gì vậy, tôi biết đôi giày đó”. – Tôi đã nhìn thấy đôi giày màu vàng giống như vậy ở đâu? - “Bây giờ chúng hơi đậm hơn vì có nước,” Japi nói và anh thò bàn chân còn lại ra bên cạnh chiếc đầu tiên. “Từ Appi! Và tại sao? Bởi vì tôi không phải là gánh nặng cho ông già của tôi, tôi đã đi lại trên đôi giày cũ của mình cho đến khi chúng còn nhiều lỗ hơn một cái sàng. Appi là một người tốt. Không thể vẽ và sẽ không bao giờ vẽ, điều đó là chắc chắn rồi, nhưng bạn có thể trông cậy vào cậu ta. Cậu ta chẳng bao giờ có lấy một đôi tất trên tay. Tôi đi chân trần trong đôi giày này,” Japi nói và kéo ống quần lên để tôi thấy đôi chân trần của anh. “Và cậu ấy có sách. Tôi không thể đọc hết những cuốn sách đó nếu tôi đọc cả ngày lẫn đêm trong một năm”.
Cha của Appi có một cửa hàng bán thịt đang làm ăn khá khắm, ông ấy có đủ khả năng chi trả. Và Japi đã đúng khi thấy rằng Appi sẽ không bao giờ học cách vẽ như thế nào. Cha của anh ta sau đó kiếm cho anh một chỗ làm: sơn nhà, vẽ bảng hiệu và biển quảng cáo.
Tôi đã pha trà, Ngồi xổm bên chiếc lò đốt, tôi đổ nước vào bình trà và đặt lên trên ấm nước. Japi khịt khịt.
“Có mùi thơm,” anh nói, và xoay người, đẩy ghế ngồi tới để anh có thể ngồi với mũi ngay bên trên bình trà. “Tôi đã đánh nhau với Bavink,” anh nói. “Có thật không?” tôi hỏi.Tôi có nghe Hoyer kể rằng hai người đã đi cùng nhau lang thang khắp nơi, cả ngày lẫn đêm, rằng họ ngủ cùng giường, Japi ở cuối chăn và Bavink ở đầu, thay phiên uống rượu jenever trong một ly bia mà Bavink để lại. “Tôi đã làm hỏng bếp lò của anh ấy hôm tối Chủ nhật”.
Trong một đêm, anh đã đun nó nóng đến nỗi nó bị vỡ. Và anh vẫn cứ chất thêm than vào, dùng cây que chọc xung quanh và cứ nhìn cái bụng, phì phèo điếu thuốc, với cái ló sưởi giữa hai đầu gối, có thể nói như vậy. Và anh ta không nói bất cứ điều gì, cho đến khi Bavink đột nhiên thấy có một vết nứt lớn và biến thành địa ngục. Japi cứ để cho anh ta nổi sấm sét, anh chỉ đứng dậy và di chuyển ghế của mình ra xa. Bavink mở tấm vỉ lò bằng que cời và đốt một lỗ trên đáy lò bằng than phát sáng mà anh lôi ra. Trong khi Bavink vẫn còn đang nổi cơn thịnh nộ, Japi nói, “Bạn và cái bếp lò của bạn” rồi lạnh lùng rời đi và trở về nhà ông già của mình, khoác một trong những chiếc cổ áo sạch sẽ của anh trai và nhận một miếng bánh từ tay mẹ còn thừa từ đĩa các món tráng miệng. Anh trải qua một đêm ở tại nhà và chiều hôm sau, anh tình cờ gặp Loef ngoài phố, trước đó anh cũng đã gặp Loef rồi, người mà về sau bị chết đuối khi bơi lội, ngay khi anh ta đang bắt đầu tự làm một việc gì đó – Loef đã đưa Japi trở lại với Bavink và nói, “Đây Bavink, tôi có một cái lò sưởi cho cậu đây,” và Bavink đã cười. Japi đi thẳng đến kệ và tìm thấy một chai Bols mới ở nơi quen thuộc, “bên cạnh Dante”. Và ba người trong số họ đã nốc cạn gần hết chai rượu, rồi Japi cắt những lát bánh dày từ ổ bánh mì của Bavink để làm bánh sandwich, xong cả ba cùng đi đến Amstelveld và họ mua một cái bếp mới kiểu thời tiền sử, với giá bảy mươi xu (đó là vào một ngày thứ Hai), và họ đưa nó về nhà bằng xe cút kít, cả ba người.
Tôi đưa cho Japi một tách trà. Anh ta uống bằng một cái bát lớn, tôi không có tách cho anh ta. Anh ta than vãn trong sự mãn nguyện và đập cái bát xuống bàn. “Những gì tôi thực sự có thể sử dụng bây giờ là một ít bánh mì,” anh nói. “Đừng bận tâm, tôi nghĩ tôi có thể tìm nó”. Anh đưa mắt về phía tủ của tôi một lúc rồi nói, “Này,” anh ta nói, “bạn có biết là bạn có thịt trong nhà không?” Tôi biết! Anh ta cho một ít xúc xích vào bánh mì.”Xúc xích trên bánh mì – thức ăn của mọi người”. Xúc xích của tôi, kho báu của tôi, đối tượng của niềm mơ ước xa xỉ của tôi: thịt giăm bông thì để dành cho ngày mai. Tất nhiên, Japi đã rất thẳng thắn về điều đó. Tôi phải thừa nhận rằng anh ta không quên tôi – anh ấy cho tôi hai lát xúc xích trên mỗi lát bánh mì. Có đủ cho việc đó. Và Japi đã ăn. Anh ta ăn sao sao ấy! Chiếc bánh mì ở đó trên bàn cạnh anh ta và anh chỉ cắt thành lát mỏng. Tôi bắt đầu tận hưởng nó. “Đừng ngại, Japi, có đủ tiền mà”. Japi chưa chú ý thấy tiền. “Chết tiệt!” anh ta nói, “Đó là một hũ vàng!” Ắt hẳn họ đã in một quyển khác trong số các tác phẩm của bạn”. Tôi gật đầu. “Họ cũng nên như vậy,” anh ta nói. “Những người đó có lợi gì khác ngoài việc trả chi phí cho chúng ta, tôi muốn biết điều đó. Tôi cũng đã viết một hai điều trong ngày của tôi”. Anh ta nhét đầy bánh mì và xúc xích vào miệng mình và lau tay trên tờ báo trước khi vò nát nó. “Tôi không nên viết ra bất cứ thứ gì, mặc dầu vậy, nó không giống như là tôi giỏi cả”.
Sau đó anh lấy một tờ báo cũ từ túi trong ra, cũ, mốc, có mùi khó chịu với những nếp nhăn đã sờn rách. Đó là tờ The Vlagt-ivedde Sentinel và anh đã cho tôi xem một bài báo về “Những bức thư từ Amsterdam” ở trên cùng. Anh nói, Anh đã viết sáu bức thư, nhưng anh trai anh đã làm mất năm bức còn lại. Japi đã tự giúp mình nướng một miếng bánh mì khác. “Bạn không dùng nữa?” anh ấy hỏi. Tôi từ chối và Japi lấy một phần tư pound xúc xích cuối cùng của tôi. “Thức ăn của mọi người” dường như đồng ý với anh ta. “Làm vào ban đêm,” Japi nói miệng đầy thức ăn và chỉ vào tờ báo với con dao của mình. “Sau nhiều tiếng đồng hồ. Tôi luôn luôn phải trở lại văn phòng vào ban đêm. Nhiều lúc tôi phải gục đầu dưới vòi nước để cho tỉnh táo. Bây giờ tôi không muốn nói lời cảm ơn. Tôi quan tâm điều gì? Không. Nó chỉ làm bạn mệt mỏi thôi. Tôi chỉ muốn đi bộ xung quanh và nhìn người ta đi lại, nhìn các toa tàu, nhìn nhà cửa hai bên đường. Đặc biệt là nhìn các cô gái xinh xắn, các cô dâu có khuôn mặt tươi tắn. Bạn luôn có thể chọn ra những phụ nữ vừa mới kết hôn, bạn có thể biết ngay. Và rồi tôi nghĩ về niềm vui mà tôi không hề có với tất cả những sinh vật thân thương ấy. Tôi thích làm điều đó hơn là viết về nó. Những người ngốc nghếch quan tâm gì đến những thứ tôi thấy. Họ cứ lê bước trên các con phố của mình, cúi gằm mặt xuống đất với sự tẻ nhạt trong đầu vì không có sự nghiệp, vì cuộc sống quá khó khăn khiến họ khốn khổ. Họ đã từng làm gì đối với tôi? Hãy để họ giữ vài đồng đô la của họ”.
Bài báo được thực hiện khá tốt, nhưng sau đó Hoyer nói rằng anh chắc chắn là Japi đã không viết bài báo đó.
“Giờ thì tôi thực sự có thể đi uống một vại bia,” Japi nói, ngã người ra phía sau. “Xin lỗi anh bạn,” tôi nói, “không có ai trong nhà, không còn bia, không có rượu jenever, không còn quần áo để mặc ra đường, nhưng chỉ còn có xì gà”.
Mưa rơi lộp độp trên mái nhà như thể sắp xuyên thủng và những ô cửa sổ trắng xoá vì nước. Japi không còn tâm trạng muốn ra ngoài nữa, tôi chắc chắn điều đó. Anh ta châm một điếu xì gà, lơ đễnh nhìn làn khói một lúc rồi nói, “Hoyer đó, anh ta thực sự là loại đàn ông nào vậy?” Hoyer và Japi đã không thể sống thân thiện với nhau. Tôi đã nhận biết điều đó. Hoyer là một kẻ keo kiệt tiền bạc và cũng nói lên suy nghĩ của mình. “Anh ấy thật vô dụng,” Japi nói, “anh ấy nên bám vào việc bôi bẩn tranh vẽ xung quanh của anh ta chứ chẳng ích lợi gì cho việc khác”.
Bavink đã rời khỏi thị trấn trong ngày, “đi giao dịch kinh doanh”, Japi nói, còn anh ta (Japi) đã gặp Van Houten trên đường về nhà từ sở làm. Van Houten là một người bạn của Bavink, làm việc trong một văn phòng và nghĩ mình cũng có thể viết lách được. Anh ta đã xuất bản một quyển tiểu thuyết và nhà xuất bản đã trả anh ta một khoản tiền kha khá. Japi để mình được mời đi ăn tối. Hoyer cũng có mặt ở đó, cậu ta là người đầu tiên nói, “Này, kẻ ăn bám!” Japi nghĩ điều đó thật tuyệt vời. Rốt cuộc, ai trong chúng ta không phải là kẻ ăn bám? Giai cấp tư sản có mặt ở đó để thanh toán các chi phí của chúng tôi”. Cũng trong đêm đó, anh ta yêu cầu Hoyer cho anh ta vay một rijksdollar, chỉ để chọc tức anh ta. Anh biết khá rõ rằng Hoyer sẽ không tình cờ có một khoản tiền nào vào lúc này, nhưng cuối cùng ngay cả Hoyer cũng không thể đừng được. Japi đã mượn chiếc áo khoác màu cá hồi kỳ cục của Hoyer, rồi cũng không bao giờ mang trả nó lại. Mặc dầu vậy, Japi cũng không mấy thích thú . Anh ta luôn lao vào những trận chiến về nó, và cuối cùng những kẻ vô lại đã xắn tay áo đánh nhau trên cầu ở Ouderkerk.
“Trông này,” Japi nói, “ chín giờ mười lăm rồi. Đã đến lúc bắt đầu. Hãy lắng nghe cơn mưa”. Anh ta đến đứng gần cửa sổ rồi nói, “Trời tối đen như mực”. “Không thể nhìn thấy gì qua cơn mưa này. Phù, tôi rùng mình, ống quần tôi vẫn còn ướt. Thật tệ là bạn không có thứ gì để uống trong nhà. Tôi lấy lại chiếc áo khoác của anh ta. Nó vẫn còn ướt sũng nước. “Bạn đã đi một chặng đường dài trong thời tiết thế này sao?” tôi hỏi.”Tôi có thể đến nhà ông già tôi,” Japi nói, “nhưng nó còn xa đến nửa tiếng đồng hồ nữa. Đó là tổ ấm của bạn, phải không?” Japi vén rèm cửa sang một bên, ngồi xuống giường tôi và ngáp dài. “Tôi nghĩ là tôi bị ốm rồi,” anh ta nói. “Bạn biết là bạn nên làm một cái gì đó, hãy đi mua một ít rượu jenever, tôi trả tiền. Tôi sẽ hoàn trả lại cậu khi nào có cơ hội”. Tôi vẫn còn đứng đó với chiếc áo khoác của anh ta trên cánh tay tôi. “Hãy mặc áo khoác của tôi,” anh ta nói. Tôi loạng choạng bước ra khỏi căn gác xép trên sân thượng – áo len của tôi ít nhiều đã khô. Cửa hàng bán rượu không quá xa. Tôi choàng chiếc áo khoác ướt mèm của Japi lên áo len tôi. Điều đó đã khiến tôi cảm thấy lạnh và khó chịu. Tôi đi xuống cầu thang như thế đó và băng qua đường. Không phải xếp hàng nên tôi trở lại trong vòng mười phút. Khi lên lầu tôi thấy Japi nằm ngáy khò khò trong bộ quần áo và đôi giày ướt mèm của mình.
“Xin chào!” Tôi hét to lên và lắc mạnh vai anh. Anh lầm bầm điều gì đó. “Xin chào! Rượu ngon jenever tới rồi đây”. Anh trông có vẻ còn ngái ngủ, nhìn tôi rồi từ từ ngồi dậy. “Ồ,” anh nói, “vậy là tôi hiểu rồi”. Anh uống một hớp. “ Như thế này sẽ giúp tôi ổn định lại. Này, tớ có thể qua đêm ở đây không? Tớ đã không chợp mắt được một chút đêm rồi và hôm nay nữa”. Tôi phải nói gì đây. Anh ta nói anh có thể ngủ dưới sàn nhà nếu anh có một cái gì đó để đặt dưới đầu mình. “Cảm ơn Chúa” anh nói, ném cả hai chiếc giày của mình khắp phòng cùng lúc. “Cảm ơn Chúa, tôi đã thoát lũ quái vật đang rỉ nước ướt sũng đó!” Rồi anh treo quần của mình quanh lưng ghế, “để cho khô”. Anh đẩy chiếc lò sưởi nhỏ của tôi sang một bên, đặt sách của Appi xuống góc phòng, đặt áo vét của anh ta lên trên và khoác chiếc áo len vào. Sau đó, anh lấy chiếc chăn đẹp nhất của tôi, cuộn mình trong đó, uống thêm một ngụm rượu jenever, nằm gục đầu trên một cái cọc nhỏ và nói, “Ngủ ngon”.
Tôi trở lại bàn, ngồi xuống, nhìn vào số tiền của mình rồi ngủ thiếp đi. Khi tôi thức dậy, ngọn đèn hết dầu, phụt tắt. Tôi bò vào giường và ngủ say vì lạnh. Japi không nhận thấy điều gì.
Khi trời sáng, tôi thức dậy, không biết lần thứ bao nhiêu, tôi nghe thấy tiếng anh ta lục lọi xung quanh. Anh bận pha trà, tự ý xuống nhà lấy nước và bảo với người hàng xóm bị giật mình của tôi rằng anh là em họ của tôi. Anh đã ngủ ngon, chỉ hơi tê người một chút. Anh hy vọng đã không đánh thức tôi. “Tôi đã ăn rồi,” anh nói. “Tôi nghĩ bạn đã hết nhẵn cả bánh mì rồi”. Anh nói anh phải đi. Anh sẽ nói chuyện với Bavink, người mà trong những ngày gần đây thường đi ngủ vào khoảng mười giờ sáng. Anh mang cho tôi một bát trà đang pha tại giường và đứng cạnh cửa sổ, húp xì xụp bát của mình. Anh giữ chặt nó bằng cả hai tay và nhìn ra ngoài. Anh nói: “Dạo này khắp nơi đều rất khó khăn”. “Vậy thì, chào nhé, tôi có thể tự lấy áo khoác từ dây phơi”. Tới cửa anh quay lại. “Một nơi như thế này trông đẹp hơn rất nhiều vào ban đêm”.
Tôi cũng nghĩ như vậy. Tôi loạng choạng bước ra khỏi giường, lạnh lẽo và khổ sở. Số tiền của tôi vẫn còn nằm trên bàn. Anh ta đã nói anh ta không cần tiền của ông già mình, tôi nghĩ, hoặc tiền của giai cấp tư sản. Bạn thử nói xem.
V.
“Koekebakker,” Japi nói, “tôi cảm thấy trong người rất lạ”. Đó là vào một buổi chiều tại nhà của Bavink. Tôi đã ghé vào để nói chuyện với Bavink, nhưng anh ấy đã ra ngoài. Japi đang ngồi tại bàn với một lọ mực nhỏ và một chồng báo trước mặt anh.
“Koekebakker, tôi cảm thấy trong người rất lạ”. “Ồ, chắc chắn bạn ngửi có mùi rượu jenever,” tôi nói.
“Không,” Japi nói, “không phải là rượu jenever. Tôi nghĩ linh hồn tôi quá lớn”. Bạn có thể tin được không? Kẻ ăn chực đó! “Những tờ báo để làm gì, Japi?” tôi hỏi. Japi vỗ lên chồng báo, nói “Tin Tức Hằng Ngày (Daily News), Koekebakker, Daily News. Một trong số chúng đã được một tháng tuổi”. “Lại phải đi xin việc làm hả, Japi?” “Bạn đoán xem. Không thể tiếp tục như thế này được. Tranh thủ chộp lấy một ghế. Trông này: KH14684, Daily News. Kính thưa quý vị:” – “Cho đến ngày giờ này cậu đã làm được bao nhiêu việc rồi?” tôi hỏi. – “Việc đầu tiên. Nó diễn ra rất chậm. Bạn, những người chưa từng làm việc trong văn phòng, bạn không biết nó như thế nào đâu.
Bạn sẽ uống gì, anh bạn? Bạn không phiền nếu tôi tiếp tục, phải không? Thế là anh ta cắm bút vào lọ mực rồi nhìn chăm chăm vào trang giấy trắng. “Koekebakker,” Japi nói, nhìn xung quanh một cách bất lực và đặt bút xuống. “Không ổn đâu. Tôi không phải là người dành cho việc này. Đã có lần tôi làm việc trong một văn phòng và tôi không cảm thấy thích thú với công việc ở đó chút nào. Tôi biết từ kinh nghiệm. Tôi không hiểu gì về nó. Mục đích của nó là gì? Tôi hoàn toàn hài lòng như tôi hiện tại. Chúng ta hãy dẹp tất cả qua một bên”. Anh ta nhặt chồng báo lên và cẩn thận đặt chúng khuất tầm nhìn bên dưới bàn.
“Đó, giờ thì tôi không còn nhìn thấy chúng. Bạn không biết công việc văn phòng là như thế nào đâu, Koekebakker, hay là bạn sẽ không cười. Đầu tiên bạn đi học cho tới năm mười tám tuổi. Bạn có biết có bao nhiêu cừu ở nước Úc không, hay kênh đào Suez sâu bao nhiêu? Quan điểm của tôi chính xác. Nhưng tôi biết tất cả những điều đó. Bạn có biết phân cực là gì không? Tôi cũng không, nhưng tôi đã từng. Tôi đã phải học những điều kỳ lạ nhất: Ghi bản kê hàng tồn kho, hãy dịch cái đó sang tiếng Pháp, hãy thử làm điều đó. Bạn không biết, Koekebakker. Và nó tiếp diễn trong nhiều năm. Rồi ông già của bạn đưa bạn vào một văn phòng. Và rồi bạn nhận biết lý do bạn học tất cả những thứ đó là chỉ để bạn có thể làm ướt tờ giấy bằng một chiếc bút lông nhỏ. Và nó lúc nào cũng giống nhau như một thói quen cũ kỹ. Đến đúng chín giờ mỗi ngày, ngồi yên ở đó hằng giờ đồng hồ. Tôi nhận thấy mình không thể làm được. Tôi luôn đến trễ, tôi thực sự cố gắng đến đó đúng giờ nhưng điều đó chưa bao giờ xảy ra, nó đã diễn ra quá lâu, Và thật nhàm chán. Họ nói tôi đã làm sai mọi thứ, và tôi chắc chắn rằng họ đã đúng về điều này.
Tôi muốn lắm chứ, nhưng tôi không thể làm được. Tôi không phải là loại người bận rộn vì công việc. Thế rồi họ nói tôi đang làm phân tâm những người khác. Có lẽ họ đúng về điều đó nữa. Khi tôi phàn nàn rằng điều này thật nhàm chán với tôi và hỏi liệu đây có phải là lý do tại sao tôi học được tất cả những sự thật kỳ lạ đó ở trường không, người kế toán già nói, “Vâng, cậu bé của tôi, cuộc sống không như trong tiểu thuyết”. Tôi có thể kể một câu chuyện tiếu lâm và họ thích thú với câu chuyện đó, nhưng đối với họ như thế là chưa đủ. Không mất nhiều thời gian trước khi người kế toán già không còn ý tưởng gì để nói với tôi. Khi ông chủ không có ở đó, tôi đã tạo ra tiếng của một vài con vật, hay hát những bài hát vui nhộn mà họ chưa từng nghe trước đây. Con trai của ông chủ là một cậu nhóc hợm mình, ăn nói trịch thượng, thỉnh thoảng vẫn đến văn phòng để kiếm một số tiền. Tất cả những gì cậu ta nói đều tỏ ra kiêu căng một cách khủng khiếp và cậu ta coi thường nhân viên của bố mình với một vẻ trịch thượng tuyệt đối không thể chấp nhận được, hoàn toàn vô căn cứ. Các chàng trai đã cười ngoặt nghẽo khi tôi bắt chước một quý ông trẻ tuổi. Tôi đã làm hỏng một chiếc máy đánh chữ ở đó nữa và đặt nhầm chỗ một quyển sách. Sau đó họ cho tôi ngồi vào một cái máy mà họ gọi là máy xén giấy, và tôi phải cắt các mẫu giấy. Hàng nhiều ngày, nhiều ngày tôi ngồi đó và xén giấy. Tất cả những mẫu tôi cắt đều bị cong. Ắt hẳn họ đã biết điều đó thế nào cũng sẽ xảy ra, họ còn mong đợi điều gì ở tôi nữa? Họ chỉ đặt tôi ở đó để ngăn khỏi bất cứ điều gì tồi tệ hơn. Họ vứt ra những mẫu – khách hàng không bao giờ nhìn thấy chúng. Nhưng tôi cũng đã xoay sở bằng cách nào đó để bỏ một lá thư vào nhầm phong bì. Thật khá tồi tệ, dĩ nhiên: người nhận lá thư được cho là không biết rằng ông chủ đang làm ăn với người mà lá thư được viết cho. Kế toán gần như bị đột quỵ. Đó là lúc tôi nghĩ rằng sẽ tốt hơn biết bao nếu tôi rời đi. Ông chủ chìa tay ra, và tôi rất vui được lên đường nữa. Tôi bắt tay và lắc mạnh nhiều lần một cách chân thành. Tôi nói tôi xin lỗi nhưng không còn cách nào khác hơn là ra đi. Tôi nghĩ tôi cũng đã có ý định đó nữa. Thấy chưa, Koekebakker, đó là một việc làm trong văn phòng. Sau đó, tôi thực tập trong văn phòng của một công ty môi giới chứng khoán một lần nữa. Xem qua các tờ báo với một cuốn sách để xem liệu có trái phiếu nào của khách hàng đã được chọn để mua lại hay không. Tôi không mong ước điều đó nơi kẻ thù tồi tệ nhất của tôi. Họ phải loại bỏ tôi. Tôi cũng phải sao chép vào đó, nhưng tôi không nghĩ họ có thể tìm ra những gì tôi đã sao chép. Tôi có thể thấy điều đó đã không thành công, tôi không thể giữ sự tập trung.
“Ông già tôi đã vô phương. Giờ ông đang hy vọng rằng mọi thứ sẽ được cải thiện theo thời gian. Tôi không chắc lắm. Đừng nhìn theo cách đó đối với tôi. Tôi đang làm rất tốt. Bạn có biết Bavink vừa kiếm được một khối tiền với bức tranh mới nhất của anh ấy? Mương nước ở Kortenhoef, với những chú bê con và đống cỏ khô. “Nhìn này,” anh lấy ví của mình ra. Nó đang phình to với tiền mặt, Koekebakker, bạn tôi ơi, nó đang phình to với tiền mặt. Tiền mặt cứng lạnh. Tôi sẽ đi du lịch vào ngày mai”.
“Với Bavink?” tôi hỏi. “Không, không phải với Bavink. Một mình. Tôi sẽ đến Friesland.”. “Vào giữa mùa đông?” Japi gật đầu.. “Để làm gì?” anh ta nhún vai. “Làm gì à?” Không làm gì cả. Tất cả các bạn, mọi người đều có thể cảm nhận một cách thảm bại : mọi thứ đều có lý do và mục đích. Tôi sẽ đến Friesland, không phải để làm bất cứ điều gì, không phải vì bất cứ điều gì. Chẳng có lý do gì. Vì tôi cảm thấy thích nó”.
Ngày hôm sau, tôi đưa anh ta đến nhà ga lúc bảy giờ để kịp chuyến tàu tốc hành. Trời đã tối.
Anh ta đang mặc một chiếc áo khoác có cúc áo bị mất, quá lớn so với khổ người của anh.và một chiếc mũ có vành trùm xuống hai tai, và chân mang đôi giày mới màu vàng của Appi. Trên tay anh là một hộp đựng xì gà bằng giấy có mục quảng cáo trên đó..”Chờ một chút,” anh ấy nói, khi chúng tôi đang xuống cầu thang, “tôi quên mất cái này”. Anh quay lại ngay và mang ra một cái cần câu.
Tối hôm đó anh ta không nói nhiều. Tôi không thể thoát ra khỏi anh ta với những gì anh dự định làm với cần câu. Trên đường đến nhà ga, anh hút bốn điếu xì gà trong vòng nửa tiếng với hộp xì gà của anh. Khi tôi nói lời tạm biệt ở cổng vào, anh hỏi tôi liệu tôi có tình cờ cho anh xin một ít thuốc lá không.
Sáu tuần sau anh trở lại với sáu hột cúc áo trên áo khoác anh, và một đôi giày nhung đỏ trên chân. Anh từ chối đưa ra bất cứ lời giải thích nào. Cần câu đâu? Ồ, cái đó anh đã thả rơi ra khỏi xe lửa. Một lần anh cũng bị rơi xuống nước, anh ấy nói. Chỉ khác là môi anh đã bị dán kín. Rõ ràng là anh đã không hề cạo râu trong suốt thời gian qua. Anh trông có vẻ màu gạch đỏ và có mùi như phân bò. Anh mang về hai cân thuốc lá mà không ai khác có thể hút được. Anh nghiện nó, và không hỏi xin xì gà trong hai tuần. Sau đó, hai cân thuốc lá đã biến mất cộng với cuốn lá thuốc anh ta mang về nữa. Hoá ra bạn không thể mua loại thuốc lá đó ở bất kỳ đâu ở Amsterdam. Anh đã viết thư đến Friesland để hỏi thêm nhưng không nhận được câu trả lời. Anh buồn bã không thể nào nguôi. Thế nhưng chỉ vài hôm sau, tôi lại thấy anh ngồi tại nhà Bavink với điếu xì gà trên môi, tất nhiên là một trong những điếu thuốc của Bavink.
VI.
Mùa hè năm sau Japi lại biến mất. Thế rồi, một hôm tôi tình cờ gặp lại anh trên Đại lộ Du Nord ở Brussels. Ngài Japi lúc này mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao, đầu đội chiếc mũ màu xám, thắt cà vạt lụa nhỏ màu vàng, áo sơ mi ca rô bỏ trong quần, có thắt lưng, áo khoác bằng vải fla-nen màu trắng với sọc nhỏ màu xanh, quần vải lanh màu trắng với gấu vén lên hoàn hảo, bít tất có hoa văn hình thoi màu nâu và trắng, giày đế bằng.
Mọi chuyện diễn ra như thế nào? -Thuộc túp người thích ăn diện. Anh ta đang làm gì ở đây? -Tản bộ qua lại dọc theo các đại lộ giữa Gare du Nord và Gare du Midi. Có thời gian thoải mái chứ? -Tuyệt vời. Cư trú? -Trong Uccle. Ăn nhờ ở? Anh ta cười nhưng không trả lời. Chúng tôi uống với nhau vài ly bia mạnh tại quán rượu Maastricht trên Place de Brouckrect. Anh ta thích bia ở đó. Thực ra thì anh ta uống vài panh (0.568 lít) bia, còn tôi thì một panh mà không hết. Anh ta ngồi thẳng một cách uy nghi trên ghế và uống một cách đàng hoàng, vô cùng sảng khoái, đưa ra các chủ đề về đường trải nhựa, Grote Markt, và về thời tiết tốt, rồi nói anh phải đi, và hỏi xem tôi đang ở đâu để có dịp anh sẽ ghé thăm tôi. Nói xong, anh trả tiền ly bia của anh, và bỏ mặc tôi ngồi ở đó trong sự kinh ngạc.
Anh ta trở lại Amsterdam vào đầu tháng Tám với cái đầu băng bó. Một công nhân mỏ ở Marchienne-au-Pont đã đập một cái lọ bằng sứ lên đầu anh. Anh trông có vẻ xuống sắc và tiều tuỵ hơn bao giờ hết. Ông già anh đã giữ anh ở lại bằng cách xích bằng sợi dây da ngắn khủng khiếp. Anh mặc một chiếc quần dài màu trắng, đã lâu không còn trắng nữa, đến tận tháng Mười Một. Anh không còn là con người trước đây của mình nữa - anh lầm lì ít nói hơn, ít hút thuốc hơn nhiều. Khi anh đến chỗ của Bavink và Bavink đặt xì gà của mình lên bàn, anh ta gục xuống ghế, giữ áo khoác và mũ, cầm điếu xì gà một cách khó khăn, từ từ cắn vào cuối điếu thuốc, khó khăn trong việc tìm que diêm, do dự trước khi đốt, hút từ từ, và hiếm khi hút nhiều hơn một điếu trong một đêm. Nếu châm điếu xì gà thứ hai, anh sẽ vứt gần như nguyên điếu xì gà đi, điều mà trước đây anh chưa từng làm. Anh ấy thường hút một điếu xì gà cho đến khi phần cuối còn quá ngắn để không thể cầm và sau đó anh cắm một chiếc ghim vào để hút hết phần còn lại. Chẳng bao lâu nó cháy cong lại. Có lần anh để bếp lò của Bavink tắt. Chúng tôi đã từ bỏ anh ấy.
Thế rồi, vào một đêm trời có sương giá dày đặc, giữa Giáng sinh và Năm mới, Hoyer xuất hiện, sau nhiều tháng trời chúng tôi không gặp anh. Chúng tôi nói hết chuyện này đến chuyện nọ một lúc rồi anh ấy hỏi về Japi. Và bắt đầu hồi tưởng. Chúng ta có còn nhớ mùa hè năm đó (khoảng sáu tháng trước), anh ấy đã chèo thuyền với chúng ta như thế nào trên tàu Amstel vào ban đêm – anh ấy có nhiệm vụ ngồi ở mũi tàu và tiếp tục canh chừng vì lúc ấy chiếc Perseverance đang tông nát mấy chiếc thuyền nhỏ thành nhiều mảnh. Nó vừa đánh chìm một chiếc thuyền nhỏ ở Omval. Japi ngồi nhìn những vì sao phản chiếu trong nước, anh thọc tay phải xuống nước, không chú ý thấy chiếc Perseverance, nên chiếc Perseverance gần như phải né vào một khúc quanh để tránh chúng tôi và đã bị mắc cạn. Họ rất tức giận và một người trong số họ đã chạy trở lại boong phía sau và mắng nhiếc chúng tôi vì là những kẻ ngu ngốc đáng ghét, và ném một hòn đá lao xuống nước ngay trước mũi tàu của chúng tôi. Lúc đó Bavink nói anh biết thế nào cũng có một điều gì đó như thế này sẽ xảy ra và Japi nói: “Đóng một cái”. Hoyer đột nhiên nói “Apropos trong số đó”. Hoyer thích đưa ra những cụm từ hoa mỹ. Tôi đã thấy Japi ở Veere với một phụ nữ Pháp, một người đẹp chết tiệt”. Cả đêm hai người họ đứng nói chuyện với nhau trên cầu tàu bằng đá và nhìn qua lan cang. Chiếc phao nổi thắp sáng và chùm đèn quay của ngọn hải đăng Schouwen, và họ lắng nghe tiếng sóng, và “khuôn mặt búng ra sữa” như Hoyer nói một cách cục mịch. Bavink lại nói rằng anh luôn biết một cái gì đó như thế này sẽ xảy ra, và tôi nói, “Chúng ta là những kẻ thật ngu ngốc biết bao! Đáng lẽ chúng ta đã biết,” và rồi chúng tôi không thể không nói về Japi và cách mà anh ấy không phải là kẻ ăn bám như cách chúng ta quen gọi như thế nữa.
Phải mất thêm một tháng nữa Japi mới xuất hiện. Ông già anh ấy đã tìm cho anh một chỗ làm và anh được cho là sẽ bắt đầu vào ngày một tháng Ba. Anh không nói anh nghĩ nó sẽ rất khốn khó. Anh chờ xem mình sẽ làm được những gì. Anh sẽ kiếm được khoảng năm mươi guilders mỗi tháng. Đêm đó lại có một đợt sương giá nghiêm trọng khác. Những ngôi sao sáng và cao một cách kinh khủng. Bếp lò lạnh ngắt. Ba chúng tôi ngồi với áo khoác trên người, cổ áo kéo lên, mũ đội trên đầu. Cái cách mà chúng tôi thường ngồi rất nhiều lần với nhau khi chúng tôi cứng rắn hơn tinh thần tư bản chủ nghĩa và không có gì để đốt bếp lò lên cho ấm.
Và rồi Japi bắt đầu nói và nói và sẽ không ngừng nói. Thật là rùng rợn. Đây, chúng ta đang tác động mạnh lên trái đất này qua hố đen vũ trụ băng giá, nơi mà màn đêm không bao giờ kết thúc, mặt trời đã biến mất không bao giờ mọc lại. Trái đất vượt qua bóng tối, gió lạnh gào thét đằng sau nó. Tất cả những thiên thể này đang chuyển động một cách đơn lẻ trong không gian. Và nếu một trong số chúng đâm vào bạn là bạn mất mạng, mất mạng cùng với một ngàn năm trăm triệu người không may mắn khác.
Japi ngồi run rẩy trong chiếc áo khoác của mình. Căn phòng đã bị đóng băng. Rồi anh bắt đầu lại bằng một hướng khác. Mặt trời có thể rất đẹp, chiếu sáng rực rỡ trên sông Waal. Anh ấy đã thấy mặt trời chiếu sáng rực rỡ trên sông Waal lần mới đây khi anh đi trên xe lửa chạy qua cầu. Mặt trời tạo nên một mảng ánh sáng lớn trên mặt nước giữa chiếc cầu và thành phố. Nước chảy qua và mặt trời chỉ chiếu vào nó, một trăm, một ngàn, một trăm ngàn lần. Hai ngàn năm trước, dòng nước chảy qua và mặt trời chiếu sáng. Có Chúa mới biết nó chảy qua bao lâu. Mặt trời đã mọc hơn bảy trăm ngàn lần, lặn hơn bảy trăm ngàn lần và tất cả thời gian đó, nước vẫn chảy. Toán học khiến anh ta cảm thấy buồn nôn. Đã có bao nhiêu ngày mưa trong ngần ấy thời gian? Đã bao nhiêu đêm mà trời trở nên lạnh như đêm nay, hay lạnh hơn? Có bao nhiêu người đã nhìn thấy dòng nước đó chảy qua và mặt trời chiếu sáng trong đó, và nhìn thấy tất cả các vì sao vào những đêm lạnh khủng khiếp như thế này? Đến giờ này, đã có bao nhiêu người đã chết rồi? Và bao nhiêu người sẽ còn nhìn thấy nước chảy trong tương lai? Hai nghìn năm không là gì cả, trái đất đã tồn tại hàng nghìn, hàng nghìn năm hơn thế và có lẽ sẽ tồn tại hàng nghìn năm nữa. Nước có lẽ sẽ chảy trong hàng nghìn năm nữa mà anh không nhìn thấy nó. Và ngay cả khi thế giới này kết thúc, thì điều đó cũng không thực sự có ý nghĩa. Sẽ có rất nhiều thời gian sau đó. Thời gian không bao giờ kết thúc. Và trong tất cả thời gian đó, anh ta sẽ chết. Hàm răng của Japi đập vào nhau kêu lập cập. Không còn một ngụm rượu jenever nào trong nhà, và không có cách nào lấy được tiền trên thẻ tín dụng.
Sau đó, Japi trở nên đa cảm. Anh bắt đầu nói về Jeanne, không vì lý do đặc biệt nào cả, và như thể chúng tôi đã biết mọi thứ về cô ấy. Rằng tay của cô thật mịn, thật ấm áp, đôi mắt cô ấy lấp lánh làm sao. Cô có đôi mắt đen nhánh và mái tóc đen. Chúng tôi bắt đầu khó chịu. Anh ấy kể cho chúng tôi nghe những điều riêng tư khủng khiếp nhất, về chiếc váy ren trắng, về chiếc váy lụa màu oải hương, về đôi chân trắng nõn nà của cô ấy, về tất cả những bộ phận trên cơ thể mà bạn không thể viết ra trong một câu chuyện.
Cuối cùng anh nói chuyện bằng tiếng Pháp, chúng tôi nghe thấy những từ “cheri” và “ cherie” vài chục lần. (Anh ấy phát âm cuối “e” trong từ “cherie”. Sau đó anh lại nói tiếng Hà Lan và đi đúng vào vấn đề. Cô ấy định ly hôn với chồng, một lão già nổi loạn, hơn cô hai mươi tuổi. Chúng tôi thấy tất cả đều sáo rỗng. Và vào ngày Một tháng Ba anh đã phải xuất hiện ở văn phòng, anh lấy tay xoa mặt và nói, “Tôi đi đây. Bắt tay”. Anh loạng choạng bước xuống cầu thang. Anh ấy không xuất hiện ở văn phòng vào ngày Một tháng Ba. Chính là vào tháng Tư, trước khi anh có bất cứ hình dạng nào để đi làm trở lại. Những ngày ăn bám của anh đã kết thúc.
Vài tháng sau, vào một buổi tối, Bavink nhìn thấy anh ta đang ngồi trên tầng bốn của một toà nhà văn phòng nào đó. Anh đang ngồi làm việc bên cửa sổ. Nơi này được chiếu sáng rực rỡ. Bavink lên lầu. Japi ngồi một mình và rất bận rộn. Bavink không moi được gì từ anh ta – anh chỉ làm việc và gần như không nói một điều gì. Bavink bước chầm chậm xung quanh, thỉnh thoảng lấy một quyển sách ra khỏi kệ, lật qua vài trang rồi đặt nó trở lại, lắc đầu nói “whoa” một vài lần, xoay tay cầm của máy quay rô-nê-ô, nhìn xuống đường phố, và mở tất cả những cửa sổ để có không khí trong lành.
Bên ngoài tuyết rơi nhẹ. Một vài bông tuyết bay vào phòng, “Làm ơn đóng giùm của sổ lại,” Japi nói và tiếp tục viết. Bavink chọn một quyển sổ ghi chép, đọc một chút trong đó, lắc đầu một lần nữa rồi bước tới chỗ Japi, cuốn sổ vẫn còn mở trên tay. “Này, bạn đã viết tất cả những điều này?” Japi gần như không ngước nhìn lên và chỉ nói, “không phải tất cả”, “Rốt cuộc thì bạn cũng khá thông minh,” Bavink nói, “ công việc kinh doanh này không hề dễ dàng”. Sau đó Bavink rời đi.
VII.
Japi biến thành một công nhân chăm chỉ, không bao lâu sau chuyến thăm viếng của Bavink, họ đã gửi anh ta đến Châu Phi. Trong vòng hai năm, anh ta trở về: ốm yếu, chết một nửa. Không ai nghe tin tức gì về anh ta mãi đến khi tôi nhìn thấy anh vào một buổi chiều tháng Mười Một, đứng cạnh một bức tường đá của bến cảng Wijkbij Duurstede. Anh ta đứng đó, chăm chăm nhìn vào bùn lầy. Tôi đã gặp khó khăn khi nhận ra anh ta. Anh mặc một chiếc áo khoác cồng kềnh màu xám, quá rộng đối với khổ người anh, với một chiếc mũ lưỡi trai cồng kềnh màu xám trùm xuống mắt và tai. Anh ta đi một đôi giày nâu đế vuông to cồng kềnh và một đám thanh niên đi sau anh ta. Tôi nghĩ: Ai kia trông giống như Japi. Đúng vậy. Đó chính là anh ta, xanh xao và gầy gò, không râu hoặc ria mép và với ánh mắt nhìn chằm chằm kỳ lạ, nhưng đó nhất định là Japi.
Japi không nhìn thấy gì, không nghe thấy bất cứ điều gì. Tôi vỗ vai anh ta và nói, “Cậu đang làm gì ở đây, công việc thế nào rồi, cơn gió nào đưa cậu đến đây? Anh chìa tay ra, không nói gì, cũng không lấy làm lạ. “Chỉ cần đứng đây và nhìn chăm chăm,” anh ta nói.
“Tôi có thể hiểu điều đó,” tôi nói. “Đi kiếm cái gì để uống?” “Tốt,” Japi nói. Một nhóm người thô lỗ, đang đứng tựa lưng vào bức tường đá, tự thích thú với những lời bình luận ồn ào, thiếu tư cách, giờ đã đưa ra những lời chào hỏi rất thành kính, vì tôi đã ném khá nhiều tiền vào Wijk bij Duurstede và thậm chí còn vả vào lưng công chứng viên vào ngày Chủ nhật hôm đó.
Sau một ly rượu jenever, Japi đã hồi phục lại sức sống. Anh ấy đã làm việc ở Châu Phi, bị dày vò bởi cái nóng và lũ muỗi, bị hành hạ bởi sốt rét – dành nhiều thời gian để chống chọi với cơn sốt hơn là làm việc hay làm bất cứ thứ gì khác. Anh đã trở về vào mùa hè năm đó, gần như chỉ còn da bọc lấy xương.
Cô bạn gái người Pháp của anh đang sống ở Paris với một thanh niên người Hà Lan, người đã hợp đồng một toà nhà dùng làm văn phòng trong một thời gian dài quái dị. Cô cũng có một bạn trai khác, một đại tá. Đã chiêu đãi ông ta một bữa tối ở Paris và gọi ông ta là một “con thú hoang tốt bụng” bằng tiếng Hà Lan đứt đoạn của cô và cười vào mặt ông ta. Thắt nịt bít tất của cô khi ông ở ngay đó để có thể thấy đầu gối trần của cô. Sau đó đuổi ông ta đi. Ông phải cười. Ông không còn yêu nữa. Cô choàng một chiếc khăn lụa màu xanh nhạt. Một lần anh thấy cô ta uống rượu với viên đại tá ở một chiếc bàn ngoài trời. Viên đại tá đã hành động rất tự mãn, trông rất dã man và hống hách. Cô rảo mắt nhìn Japi từ phía sau lưng viên đại tá.
Cô có vấn đề về phổi và số tháng còn lại của cô chỉ còn được tính trên đầu ngón tay. Vẫn sống động như mọi khi, nhưng có lúc khó khăn trong việc đi bộ.
Và kế hoạch của Japi là gì? Vẫn là một kẻ ăn bám? Anh vẫn sống dựa dẫm bằng sự độ lượng ở văn phòng, anh nói; ngày cuối mỗi tháng anh đến văn phòng và nhận tiền.
Anh ta đang trở thành một công nhân khốc liệt đến thế sao? Ồ, không, anh ta đã tự khiến cho chính mình trở nên khó khăn. Anh đã già đi khoảng mười lăm tuổi trong ba hoặc bốn năm qua.
Anh đốt một điếu xì gà mới. Một của tôi, và một điếu đắt tiền từ ban nhạc. Tôi đã làm tốt trong những ngày đó. Anh đã rời ban nhạc.
Anh đã phải làm việc cật lực, đã chứng kiến và sẻ chia những khổ đau. Nó bắt đầu ở Marchienne- au – Pond và Charleroi. Anh đã đến đó để vui chơi giải trí với Jeanne. Sau ba ngày, cô ấy đã thấy đủ, anh đã ở lại. Anh cho tôi xem một bức ảnh nhỏ: một cái đầu của tử thần đang nhe răng cười toe toét, con gái của một công nhân trong nhà máy thuỷ tinh. Bảy đứa trẻ, năm đứa đã chết và đứa thứ sáu chết trong khi anh đang ở trọ ở đó. Cô ta chính là người trong ảnh. Ở đó anh đã học được cách nhìn, đã thấy công việc thực sự là gì. Anh đã luôn biết cách để có một khoảng thời gian tuyệt vời như thế nào để tiêu tiền mà người khác kiếm được. Giờ thì anh đã để nó đến chỗ anh và đã khiến anh trở nên khó khăn. Anh nghĩ về việc trở thành một nhà xã hội chủ nghĩa. Anh đã phải làm việc để kiếm miếng ăn, đã bị săn đuổi, săn đuổi và áp bức bởi mọi người và bởi nhu cầu sự sống. Như mọi người khác, anh đã làm việc hàng đêm: ở Amsterdam, anh đã từ văn phòng về nhà lúc một hoặc hai giờ sáng, rồi sau đó ngồi dậy, nghiền ngẫm, nguệch ngoạc viết bản phát thảo, viết toàn bộ thành tiểu thuyết rồi đốt chúng.
Anh có thể làm gì? Họ có thể đạt được những gì với tất cả những thứ đó? Anh đã để nó đến với anh, mơ về những bài phát biểu rực lửa, và những bài báo dữ dội, trong khi anh chỉ ngồi trong văn phòng và làm việc cho công việc kinh doanh của sếp, làm việc chăm chỉ. Mọi người ngạc nhiên trước khối lượng công việc mà anh có thể tạo ra. Thế giới vẫn quay, quay một cách chính xác theo cách mà nó luôn có, và nó vẫn tiếp tục quay nếu không có anh. Anh ta đã để nó tự nhiên đến với anh. Giờ thì anh ấy tỏ ra hợp lý hơn. Anh đã rảnh tay hơn vì đã có đủ nhân viên bán hàng, nhà văn, những kẻ nói chuyện và những người đã để nó đến với họ.- quá đủ rồi.
Và họ luôn sợ hãi một điều gì đó, và buồn bã vì một chuyện gì đó. Luôn sợ hãi vì đến nơi nào đó muộn, hoặc bị ai đó mắng chửi, hoặc họ kiếm không đủ sống, hoặc nhà vệ sinh bị nghẽn, hoặc bị ung thư, hoặc bộ côm-lê ngày Chủ nhật đẹp nhất của họ đã bắt đầu cũ sờn, hoặc tiền thuê nhà đã đáo hạn. Họ không thể làm điều này vì điều đó và không thể làm điều đó vì điều này. Khi còn bé anh chưa bao giờ ngu ngốc đến thế. Hút một vài điếu xì gà, trò chuyện huyên thuyên một chút, nhìn quanh quẩn một chút. Tận hưởng ánh nắng mặt trời khi trời có nắng, tận hưởng cơn mưa khi trời tắt nắng; khỏi cần nghĩ đến ngày mai, không mơ ước trở thành ông này bà nọ, không, không muốn bất cứ thứ gì ngoại trừ thỉnh thoảng có một chút thời tiết đẹp.
Bạn không thể duy trì điều đó mãi được. Anh ta biết rõ điều đó. Nó không thể kéo dài. Thật không thể nào, cho dù bạn cần một núi tiền đi nữa. Mà anh lại không có lấy một xu. Những gì ông già của anh có thể để lại cho anh không đáng để bận tâm. Và anh ta, Japi, nghĩ rằng điều đó cũng tốt thôi. Bây giờ anh dành toàn bộ thời gian để chiêm nghiệm. Dẫu sao thì không phải bất cứ ai cũng có thể làm điều đó được.
Anh vẫn còn đi rảo khắp những nơi trước đây anh thích và trải qua thời gian của mình để nhìn chăm chăm vào những dòng sông. Anh đã để ra vài tuần để chiêm nghiệm ở Dordrecht. Ở Veere anh ngồi trên mái toà nhà Hospitaalhằng nhiều ngày. Anh đã dành trọn tháng Chín ở Nijmegen.
Sau đó, để tạo một ít thay đổi, anh lập lại điệp khúc mơ màng cũ của mình về dòng nước. Cách nó muôn đời vẫn chảy về phía tây, đổ ra phía mặt trời lặn mỗi đêm.
Ở Nijmegen có một bác sĩ đã đi bộ cùng thời gian ấy vào mỗi buổi sáng trong năm mươi ba năm – đi qua đồi Valkhof và xuống sườn đồi phía bắc rồi lên Vaalkade đến cầu đường sắt. Đó là hơn 19.300. Và dòng nước luôn chảy về phía tây, và nó chẳng có ý nghĩa gì cả.
Chắc hẳn nó đã chảy như vậy cả trăm lần trong suốt khoảng thời gia năm mươi ba năm rồi. Lâu hơn. Ngày nay có một chiếc cầu bắc ngang qua nó. Kể từ chỉ một thời gian ngắn trước đây một vài năm, mà vẫn còn lâu. Mỗi năm là 365 ngày; mười năm là 3.650 lần bình minh. Mỗi ngày 24 giờ, và cứ mỗi giờ lại cứ trôi qua đầu của tất cả những người thường xuyên lo lắng hơn những gì bạn có thể viết ra trong một ngàn cuốn sách. Hằng ngàn những kẻ lo âu.đã thấy chiếc cầu đó đã gãy đổ. Và nó vẫn còn đó, tồn tại trong một thời gian ngắn. Nước ở đó đã và đang chảy rất nhiều và rất lâu. Và đã có lúc nước không chảy ở đó. Những người lo lắng đã chết hàng trăm và hàng trăm triệu người rồi. Ai còn nhớ đến họ bây giờ? Và bao nhiêu người nữa sẽ chết sau họ. Họ chỉ lo lắng cho đến khi Chúa tập hợp họ lại. Và bạn có thể nghĩ rằng Chúa đang ban ơn cho họ khi Ngài đột ngột xoá sổ họ. Nhưng Chúa biết rõ hơn bạn hoặc tôi. Tất cả những gì họ muốn làm là băn khoăn, đấu tranh và tiếp tục đấu tranh. Trong khi mặt trời mọc, mặt trời lặn, dòng sông ở đó vẫn chảy về phía tây và cứ chảy mãi cho đến khi kết thúc.
Japi vẫn còn ngồi nhìn chăm chăm vào một điểm để chiêm nghiệm thêm vài tháng nữa. Anh không còn có sức khoẻ tốt nhất, và các khoản trợ cấp ốm đau từ văn phòng đã hết sạch. Anh ấy đã trải qua mùa đông ở Amsterdam, nơi mọi người đang bận rộn phá bỏ những ngôi nhà đẹp đẽ để thay thế chúng bằng những căn nhà gớm ghiếc, lo lắng suốt thời gian qua.
Vào tháng Năm, anh ấy chuyển đến Nijmegen. Ở đó anh đã viết cho tôi một bưu thiệp nói rằng Jeanne đã chết vì căn bệnh phổi của cô ấy. Anh đã phải chờ đợi điều đó, anh viết.
Một sáng mùa hè, vào lúc bốn giờ rưỡi, dưới ánh bình minh hùng vĩ, anh bước xuống cây cầu bắc qua sông Waal. Người canh gác cầu đã thấy anh ta quá muộn. “Đừng lo, ông bạn già ạ,” Japi đã nói, rồi anh bước ra khỏi cây cầu, mặt quay về hướng đông bắc. Bạn không thể gọi đó là một bước nhảy, người canh gác cầu nói, Anh ta bước ra khỏi cầu.
Người ta phát hiện một chiếc gậy chống trong phòng của anh thuộc về Bavink, và sáu mẫu ghi chú trên tường có nội dung “Mẹ kiếp Cuộc Đời” và một ghi chú, “Thôi, Được rồi”.
Kể từ đó dòng sông cứ vẫn chảy về phía Tây và người ta vẫn cứ nơm nớp lo sợ. Mặt trời vẫn mọc và cha mẹ Japi vẫn nhận được tin tức hàng ngày từ họ vào mỗi buổi tối.
Chuyến đi đến Friesland của anh ta vẫn là một điều bí ẩn mãi cho đến ngày nay.
1909-1910
Translated from English into Vietnamese by Phan Thien Tri
Jan. 2022