Thứ Năm, 3 tháng 6, 2021

 






Truyện ngắn Hà Lan

Phan Thiện Trì chuyển ngữ

DSS1. KẺ LẬP DỊ - AN ECCENTRIC - Marcellus Emants https://gtvh51.blogspot.com/2021/11/dss1.html
DSS2. CHIẾC ỐNG NHÒM XEM KỊCH - Louis Couperus

          https://gtvh51.blogspot.com/2021/11/2.html

DSS3. GIẤC MƠ MÀU XANH LỤC - Arthur  Van Schendel https://gtvh51.blogspot.com/2021/11/dss3.html
 
DSS4. NHỮNG NGƯỜI TRẺ TUỔI PHI THƯỜNG -Nescio https://gtvh51.blogspot.com/2021/11/dss-4.html
DSS5. CHIẾC CẶP DA - Bordewijk https://gtvh51.blogspot.com/2021/11/dss5.html

DSS6. NHỮNG MỸ NHÂN NGƯ - Maria Dermout   https://gtvh51.blogspot.com/2021/11/dss6.html          


DSS9. XANH MÀU LÁ - A. Alberts   https://gtvh51.blogspot.com/2021/11/dss9.html


DSS11. TẤM ẢNH - Hella Haasse https://gtvh51.blogspot.com/2021/11/dss11.html


DSS13. PHỤ NỮ THẮNG THẾ - F. B. Hotz https://gtvh51.blogspot.com/2021/11/dss13.html

   

DSS16. PAULA - Cees Nooteboom https://gtvh51.blogspot.com/2021/11/dss16.html


DSS17. NHÓC TÌ VỚI CON DAO - Remco Cambert https://gtvh51.blogspot.com/2021/11/dss17.html


DSS18. SỰ THẬT CHOÁNG VÁNG -J.M.A. Biesheuvel https://gtvh51.blogspot.com/2021/11/dss18.html


DSS19. CHIẾN TRANH VẬY MÀ VUI - Bob den Uyl https://gtvh51.blogspot.com/2021/11/dss19.html


DSS20. LÂU ĐÀI MUIDER - Maarten ‘t Harts https://gtvh51.blogspot.com/2021/11/dss20.html


DSS25. MỘT NGƯỜI NGỒI BẤT ĐỘNG - Oek de Jong https://gtvh51.blogspot.com/2021/11/dss25.html


DSS26. THUỐC CỒN - Thomas Rosenboom https://gtvh51.blogspot.com/2021/11/dss26.html


DSS28. NGÀY MẶT TRỜI - Margriet De Moor https://gtvh51.blogspot.com/2021/11/dss28.html


DSS29. LỤC ĐỊA PHƯƠNG NAM - P. F. Thomese https://gtvh51.blogspot.com/2021/11/dss29.html


DSS31. PHÂN - Manon Uphoff  https://gtvh51.blogspot.com/2021/11/dss30.html


DSS32. WINNIE VÀ SỰ NGÂY THƠ CỦA THẾ GIỚI - Joost  Zwagerman https://gtvh51.blogspot.com/2021/11/dss32.html


DSS33. THỊ TRẤN MA - Hafid Bouazza https://gtvh51.blogspot.com/2021/11/dss33.html


DSS34. MỘT AI KHÁC - Arnon Grunberg. https://gtvh51.blogspot.com/2021/11/dss34.html


DSS35. THỜI NGƯỜI DA ĐỎ - Sanneke van Hassel https://gtvh51.blogspot.com/2021/11/dss35.html


DSS36. CĂN PHÒNG CỦA RIÊNG TÔI- Joost De Vrie https://gtvh51.blogspot.com/2021/11/dss36.html










THE PENGUINE BOOK OF DUTCH      SHORT STORIES

 






















1. AN ECCENTRIC – KẺ LẬP DỊ           Marcellus Emants

 

Z. được phát thảo tại bàn tranh luận trong Câu Lạc Bộ. Thế thì rất có thể anh chưa từng tồn tại.  Nhưng như theo mô tả thì như sau: theo Z. sự sáng tạo là hành động điên rồ của đấng Toàn Năng, kết quả của hành động điên rồ ấy là chúng ta bị đoạ đày để sống trong sự phi lý, để hành động trong phi lý và  chịu đựng mọi phi lý. Z không bô bô về giáo điều đó, mà trái lại, hắn thường khước từ không nói về nó. Hắn ta hầu như không bao giờ tỏ ra lắm chuyện. Hậu quả là hắn không có bạn bè. Hoạ hoằn lắm mới có người đến tiếp chuyện với hắn ta. Vì vậy không ít người cho rằng hắn ta là thằng ngốc, một đứa đần độn, hay một anh chàng lố bịch. Nhưng những ai không có thiện chí để phán xét từ xa thì thường xuất hiện trước hắn ta thì lại không tin rằng Z đáng bị phán xét bất công như vậy. Cũng có những người coi hắn ta như một tư tưởng gia xuất sắc, người mà thiếu tham vọng đủ để có thể công khai ý tưởng của mình. Không ai phủ nhận rằng hắn là một người lập dị. Hắn sống âm thầm  trên các con phố vắng trong một thị trấn yên tĩnh. Z không thể liều lĩnh ra khỏi nhà mà không khỏi là mục tiêu cho những trò trêu chọc, hoặc ít nhất lại dấy lên một sự đàm tiếu. Gã bán hàng trái cây, rúc rích cười một chặp rồi bảo với người phụ bếp, đang mở cửa cho gã, rằng  gã vừa trông thấy một chàng ngốc già với chiếc mũ sụp rộng vành và chiếc áo mưa cố hữu. Cậu học sinh hỏi bạn cùng lớp rằng, quỉ tha ma bắt anh chàng chết tiệt kia là ai, mà luôn luôn đi bộ một mình, mắt trừng trừng nhìn thẳng đằng trước như thể muốn ăn tươi nuốt sống bất cứ ai vậy? Vị du khách đến câu lạc bộ, hỏi mấy người bạn hội viên của mình rằng  Z là loại người gì vậy ? Gã làm gì và sống bằng cách nào ? Với bộ râu quai nón dài và mái tóc dài thườn thượt, gã giống như một nhà truyền giáo lang thang trên đường phố, nhưng chưa bao giờ thấy thuyết giáo.

 

Cũng có những người xếp Z vào loại những người vừa câm vừa điếc. Sự thật là Z , người mà thêm một chút tiền vốn nhỏ nhoi vào lối sống nghèo nàn cơ cực, chẳng làm gì cả, chẳng muốn bất cứ thứ gì, và phần lớn người ta không thể tưởng tượng nổi một sự sinh tồn như thế, trong khi đối với Z, lối sống như thế này là cách hành xử duy nhất với càng ít điều phi lý càng tốt, với sự lan toả càng ít điều xuẩn ngốc càng tốt, càng đỡ mất thì giờ vào  những điều ngớ ngẩn chừng nào tốt chừng ấy.  Vì vậy, dạo nọ, có người nói với Z – ngài là một triết gia. Tuy nhiên, Z liền phủ nhận điều này một cách mãnh liệt như hắn có thể. Trong số tất cả những người xuẩn ngốc – và theo hắn ta, không một sinh vật nào hoàn toàn thoát khỏi sự ngu xuẩn – hắn gọi các triết gia là những người ngu xuẩn nhất trên đời vì họ cố gắng làm điều hữu lý thành phi lý, dầu vậy, điều này vẫn không thể được. 

 

Z ít khi cho phép chính mình biểu lộ quan điểm của mình về cuộc sống một cách rộng rãi. Nếu mọi thứ đã đi quá xa, hắn bắt đầu như sau: Điều đầu tiên mà một trẻ sơ sinh làm là gì ? Bú sữa. Tại sao nó phải làm điều đó? Để sống. Thật phi lý khi nói rằng  một người không biết chút gì về cuộc sống nói chung, và cuộc sống của chính mình nói riêng,  rồi sẽ có trở thành sở thích của mình không, mà vẫn muốn duy trì cuộc sống đó ? Và loài người, hiện đang và vẫn còn mờ mịt trước tương lai mình, vẫn tiếp tục với sự xuẩn ngốc đó cho tới khi chút sinh lực cuối cùng trong họ được xài hết. Nếu con người không còn có thể thấy hoặc nghe hầu như bất cứ thứ gì, và không còn có bất cứ chi nào của cơ thể được kiểm soát một cách đúng đắng, nếu, một người, từ sáng sớm đến chiều hôm, thậm chí đến nửa khuya, và rất thường suốt đêm, chẳng có bất cứ thứ gì khác để làm, ngoại trừ chịu đựng đau đớn và cam chịu khổ cực, người ấy vẫn cố kéo dài sự hiện hữu đáng sợ bằng mọi biện pháp cứu chữa. Điều đó há không phi lý lắm sao ? Phải chăng thật phi lý để chúng ta chê trách, ghê tởm, thương xót, tự vẫn ?- những con người duy nhất thực sự có lý lẽ đây sao ?

 

Và một người làm gì ngay khi người ấy có chút hiểu biết về thế giới quanh mình ? Chơi. Điều đó há không phi lý nữa sao ? Người ấy buộc sợi dây thừng quanh chỗ tựa tay của chiếc ghế bành, ngồi phía sau ghế, tay cầm roi da, và tưởng tượng rằng, trong một cỗ xe ngựa, mình đang thẳng tiến. Không phi lý lắm sao ? Hắn lúc lắc mấy món đồ chơi trong tay, mặc quần áo cho chúng, cho chúng ăn, uống và giả vờ chúng là trẻ con. Không phi lý lắm sao ? Khi hắn lớn lên một chút, hắn nhồi nhét vào đầu óc hắn hằng ngàn thứ được gọi là những dữ kiện hữu ích, mà hắn chẳng bao giờ mất thì giờ vô ích về chúng sau đó, hay gọi chúng là không đúng, hay bị lỗi thời qua thời gian lúc hắn sử dụng các dữ liệu ấy. Phải nói rằng đối với sự tin tưởng của con người, trong suốt thời son trẻ, chính hắn cũng phát hiện điều cực kỳ phi lý này nhưng hắn vẫn phải làm …….. bởi vì những kẻ xuẩn ngốc già đầu kia, nghĩa là bố mẹ xuẩn ngốc của hắn, buộc hắn phải làm, sợ rằng việc giáo dục một thế hệ mà, bằng cách làm mất đi định kiến, sẽ thấy rõ  sự phi lý của tất cả điều này. Nhưng trước khi hắn hoàn tất việc học, hắn  tự đắm mình vào sự phi lý vĩ đại nhất có thể khi hắn phải lòng một người và muốn kết hôn với người ấy. Tình yêu !  Nghệ thuật vô lý của chúng ta sống nhờ vào tình yêu; nhưng tôi xin hỏi các bạn, các bạn có thể cảm nhận bất cứ thứ gì điên rồ hơn tình yêu không ? Hãy nhìn khắp nơi mà bạn sẽ, và sẽ thấy rằng  người ta không tạo sự khác biệt lớn lao giữa dáng vẻ bên ngoài và điều thầm kín bên trong lắm đâu.

 

Ngoài một số ít người lưng gù, người dị hợm, người khuyết tật hiếm thấy và những kẻ phạm trọng tội ra …… và thậm chí trong số họ nữa, thì con người có thể dễ dàng được nhận biết …. Cá nhân thể hiện rất ít sự khác biệt về thể chất và tinh thần. Thế nhưng một người đang yêu bỗng vớ được ý tưởng điên rồ rằng một người, thậm chí hôm qua mình còn nghi ngờ về sự hiện hữu của người ấy, ở nhiều phương diện cả bên trong lẫn bên ngoài, là mẫu người lý tưởng, nổi bật hơn mọi người khác cùng chủng loại. Và để thể hiện  sự xuẩn ngốc một cách rõ ràng, hắn ta tuyên bố quyền chiếm hữu đối với ý tưởng đó. Hắn ta không còn có thể hình dung ra sự hiện hữu của chính mình tách biệt khỏi những người khác, và mơ về những niềm khoái cảm tuyệt vời nhất nếu hắn ta có thể kết hợp  với nó cho cả cuộc đời mình.  Thực vậy, tất cả những vật sở hữu khác: mắt, mũi, miệng, tay, ngay cả những bộ phận khác mà hắn ta chưa thấy, cũng khiến cho hắn ta ngất ngây bởi trạng thái mê ly, mà chẳng có dấu vết hoặc bóng dáng của một chứng cớ nào, hắn gán cho người mà hắn yêu mến với tất cả những phẩm chất của con tim và khối óc, vốn được định phẩm như cái đẹp, sự cao cả, và tính bản thiện trong cuộc sống hằng ngày. Một người không có trách nhiệm với hành động của mình trong khoảng thời gian lộn xộn này thường được công nhận, nhưng không ai nhận biết rằng tình yêu hẳn phải được biết chỉ như một sự mãnh liệt tạm thời của một chứng bịnh kéo dài: sức sống.

Một khi đã lập gia đình, nói một cách khác, được trao quyền sở hữu của đối tượng của tình thương mến điên rồ của hắn – hắn làm mọi thứ có thể để gia tăng gánh nặng và nỗi khổ đau đời hắn, mặc dầu hắn thường xuyên đau buồn về những gánh nặng và nỗi khổ đau đó. Hắn cũng xác nhận rằng những gánh nặng và nỗi khổ đau đó đã áp đặt lên hắn vì sự cải tiến về mặt đạo đức, một sự tiến bộ mà mọi người xung quanh có thể ưa thích, nhưng chính hắn thì chưa bao giờ có thể. Hắn chủ yếu đạt được thành tựu trong sự gia tăng gánh nặng và sự đau khổ qua việc cho ra đời một lũ nhóc. Chúng tiếp tục sự điên rồ của hắn, chúng dày vò và chế nhạo hắn vì sự điên rồ này, trong khi chúng chưa có thể tự đứng vững trên đôi chân của chúng, và để lại cho hắn với những kế sách của hắn ngay khi hắn mong đợi sự báo đáp từ chúng cho tất cả những gì hắn đã bỏ ra trong việc nuôi dưỡng, cùng với tất cả mọi sự chịu đựng của hắn vì con cái. Giá mà cái sự mong mỏi đầy xuẩn ngốc này đã mang hắn đến vấn đề mua hay thuê chúng ! Và rồi, ít ra hắn cũng đã có thể thẩm định được giá trị  của những gì hắn thâu hoạch được. Nhưng điều đó sẽ không đủ phi lý. Một người phụ nữ từ chối không mua một món hàng nhỏ nhất trong đống hàng, mà không trước hết sờ thử nó để biết độ bền chắt, thì không lưỡng lự chút nào trong việc đương đầu với những sự khổ đau kinh khủng nhất khi có con cái, dù rằng thật không hoàn toàn  chắc chắn liệu con cái có ảnh hưởng đến tình trạng rối loạn đáng sợ nhất của thân và tâm. Và cả hai bố mẹ yêu thương những sinh vật này trước khi chúng từng thấy chúng. Họ sẽ không bỏ ra một đồng xu teng nào, hay một phần thưởng đơn thuần nào từ tấm vé số trúng hằng triệu đồng; nhưng họ từ bỏ cảnh sống an bình tương đối, sự tự do tương đối, và sự sinh tồn thảnh thơi một cách tương đối của toàn bộ phần còn lại của cuộc đời họ với sự phù phiếm lớn lao nhất đối với cơ hội khá mơ hồ của việc có thể tận hưởng một số niềm vui nhỏ nhoi từ con cái họ.

 

Và trong khi người vợ tất bật vì con cái, người chồng làm việc quần quật đến vã mồ hôi hột để dỡ bỏ những gì mà tiền nhân họ đã thiết lập và tạo ra những công trình mới cho hàng hậu bối của ông ta, mà những người kế tục ông cũng sẽ thay phiên phá huỷ chỉ vì khinh thường. Trừ phi   những công trình đó chưa được hoàn thành, và không người trông coi nữa vì chẳng còn gì ngoại trừ đống gạch vụn hoang tàn đổ nát. Người đàn ông đó thực ra bị ganh tị bởi những kẻ xuẩn ngốc trong suốt quá trình lao động cật lực của ông ta, những kẻ mà thậm chí còn yếu kém hơn ông ta. Người đàn ông như thế vẫn còn bị xem thường, bị gièm pha bởi những kẻ chỉ vì sự điên rồ, những kẻ chỉ biết cảm nhận sự bệnh hoạn của đồng bọn họ, và không chỉ vì bệnh tật của riêng họ. Chính hắn ta cũng chỉ thấy điều sai trái cần thiết khá tự nhiên đối với mọi người lao động, và trong sự mù quáng ấy, hắn nguyền rủa những kẻ vô công rỗi việc, những người, ít điên rồ hơn hắn ta, đã tự hỏi tại sao mình lại vác lên vai tất cả những gánh nặng đó; thật không đủ tồi tệ lắm sao khi phải sống ? Nếu một công nhân nhận từ chính phủ - mà công nhân này căm ghét, vì chẳng ai muốn mình bị cai trị - một mảnh ruy-băng trên ngực áo như một huân chương và một phần thưởng …..rồi hắn ta chứng minh …cái người đã từng cười chế nhạo những huân chương của người khác ……..  rằng chẳng chút nghĩa lý gì hơn hắn, trong thời thơ ấu, khi được ngồi trên lưng ngựa gỗ, hắn đã tưởng tượng rằng người vú em đã xem hắn như vị tướng.

 

Này  !  Z kết luận, hãy xét kỹ hoạt động điên cuồng của con người bạn thích, và nếu bạn không quá say sưa bởi thói hoang tưởng của một  bản năng sống điên rồ, bạn sẽ sớm thấy đầy đủ về tình trạng  điên cuồng của nó. Chẳng hạn, cứ nhìn cái cách mà nhân loại đang chiến đấu chống lại bệnh tật đang tiềm ẩn trong họ và đồng thời  cố níu kéo mạng sống của những người bệnh nặng mà những bệnh tật kia đang kéo dài mãi mãi trong họ. Hãy lắng nghe họ không ngừng tranh cãi và minh chứng, dù rằng họ thừa nhận họ chả biết chút gì. Hãy chú ý xem cái cách họ tôn vinh chân lý như là một thứ gì đó rất đỗi thiêng liêng, và thường xuyên lừa dối lẫn nhau cả ở qui mô nhỏ lẫn qui mô lớn. Hãy để ý xem cái cách mà một người được ngợi ca hết mực sau khi chết, nhưng bị gièm pha, ngăn trở, thậm chí còn bị ngược đãi trong suốt sinh thời của người ấy. Hãy thấy rằng người ta coi cuộc sống trên trần gian này như một thứ có giá trị nhất mà họ sở hữu, như một điều kiện tiên quyết để tận hưởng mọi thứ khác, và cứ xem cái cách mà họ cư xử một cách nông nổi với cuộc sống đó, họ làm  những cuộc phiêu lưu mạo hiểm không chút lắng lo, họ rút ngắn cuộc đời qua cách sống , họ hy sinh cuộc sống bằng những điều bịa đặt do trí tưởng tượng như tình yêu, tổ quốc hay danh dự … . Nhìn bất cứ nơi nào, bạn đều thấy toàn là sự phi lý, mọi thứ đều vô nghĩa. chẳng thấy thứ gì khác ngoại trừ sự phi lý, và cuối cùng người đàn ông đó cũng nhận ra điều đó. Cách đây nhiều năm, chúng ta đã bắt đầu đối xử với những phạm nhân nguy hiểm nhất như những kẻ mất trí; trong thời đại chúng ta, chúng ta cũng đang cân nhắc việc xây dựng cái gọi là một nhà thương điên cho những kẻ thoái hoá biến chất, và rất có thể không lâu nữa trước khi toàn bộ xã hội được kiến tạo theo mô hình của một bệnh viện tâm thần khổng lồ với một hệ thống các khu điều trị.

 

Có lẽ điều này sẽ báo trước một thời kỳ hạnh phúc tương đối của nhân loại ; nhưng bao lâu mà con người còn cố gắng đưa cái hữu lý vào cái phi lý thì việc làm của họ  không thể tránh khỏi bị thất bại.

 

Khi diễn giả kết thúc việc kể cho mọi người về triết lý sống của Z. , hầu hết  mọi thành viên tại bàn tranh luận đều không thể nào đưa ra một câu trả lời tốt hơn một sự thương hại hoặc một tiếng cười khinh bỉ. Tuy nhiên, một người đã nói: Những gì người đàn ông đó đang cố gắng duy trì thì không đến nỗi ngớ ngẩn đến như thế. Bất cứ ai thừa nhận rằng hắn mất trí thì chắc chắn kẻ ấy cũng mất trí, và bất cứ ai không thừa nhận điều này thì có lẽ cũng đã quá mất trí khôn để không còn nhận ra thực trạng của hắn. Những quan điểm của những người khác về diễn giả này đều là : một gã điên khác.

 

                                                English translation by  Paul Vincent

                                                Vietnamese translation by Thien Tri

 2.        T H E.  O P E R A   G L A S S E S     /  De Binocle.    LOUIS COUPERUS

                         C H I Ế C   Ố N G   N H Ò M   X E M   K Ị C H. 

                                                                    English Translation by Paul Vincent

                                                                    Vietnamese Translation by Phan Thien Tri

 

Chính cách đây khoảng năm năm tại Dresden, vào một sáng sớm, một du khách trẻ tuổi, một nhà báo người Hà Lan gốc Châu Âu, một thanh niên tuấn tú, tính tình hơi nhút nhát một chút nhưng khí chất khá hoà nhã, mặc dầu mang trong người dòng máu nhiệt đới, đã mua vé cho đêm đại nhạc hội, một vé với chỗ ngồi ở hàng ghế đầu trên tầng bốn, để xem đêm biểu diễn vở nhạc kịch The Valkyrie. Vào thời điểm đó, tầng bốn là nơi những người nước ngoài, không kham nổi vé hạng sang cho ngày thứ Bảy cuối tuần. Thật vậy, ngay cả những ai có thể, thường thích tầng bốn hơn tầng ba, hoặc tầng hai, dầu bờ vực của thính đường rộng mở bung ra giữa tầng này với sân khấu. Thật là một ngày đẹp trời; công viên phủ đầy lá vàng rơi, một cảm giác dịu êm của niềm vui sống đang bềnh bồng trôi trên bầu trời thoáng đãng. Một du khách trẻ, trong nỗi cô đơn đượm vẻ u sầu, đang vui vẻ lang thang dạo bước quanh thành phố xinh đẹp, rảo bước vào viện bảo tàng, dùng bữa trưa trong căn nhà hóng mát đâu đó bên bờ sông Elbe. Anh cảm thấy hân hoan trước cái viễn ảnh được xem vở The Valkyrie tối hôm đó, một ban nhạc kịch opera mà anh chưa từng xem, anh tự trách mình vì điều này, do đã quá yêu mến Wagner.

 

Đã mấy tiếng đồng hồ trôi qua mà anh chẳng nói chuyện với một người nào, ngoại trừ cô nhân viên phục vụ bàn và anh chàng tài xế xe điện. Anh đã uống một tách trà và một món thức ăn nhẹ. Vì buổi đại nhạc hội bắt đầu rất sớm nên anh  biết sẽ không có thời gian để dùng bữa tối. Và rồi, với bản tính dễ thoả mãn và vui vẻ nhẹ nhàng, lặng lẽ, anh từ từ rảo bước – còn quá nhiều thì giờ - tới nhà Hát Kịch Ô-pê-ra. Một ít cửa hiệu ở đường Prager-strasse sắp đóng cửa cho một ngày, và vừa khi anh thấy một người bán mắt kính đang chỉ chỏ một nhân viên bán hàng kéo sập cánh cửa chớp đằng trước tủ kiếng bày hàng thì anh chợt nhớ là mình không có ống nhòm xem kịch. Ý tưởng này xảy ra trong chớp nhoáng  vì rằng tầng bốn, nơi anh thường ngồi, tận đằng sau, là một khoảng cách khá xa từ sân khấu, và vì nếu có ống nhòm sẽ rất thuận tiện. Anh cũng nghĩ rằng hôm nay mình cũng chưa chi tiêu gì nhiều, và chỗ ngồi cũng chỉ với giá ba đồng marks , và lúc này mắt anh bỗng tình cờ bắt gặp mắt của người bán mắt kính đang chào đón khách hàng, ông ta vẫy tay, như thể từ một nguồn cảm hứng nào đó khiến ông ta vội vã bước ra mời, trong khi anh còn ngoài vỉa hè.

“ Có phải sắp đóng cửa không ? Tôi có còn đủ thời gian để mua một chiếc ống nhòm xem kịch không nhỉ ?”

Người bán mắt kính gầy, dong dỏng cao, toe toét cười một cách vui vẻ, gật đầu, ra hiệu cho anh bước vào một cửa hiệu đã phủ bóng tối hơn một nửa. Và vừa khi vị du khách này đã bước vào bên trong thì anh chợt loé lên trong tâm trí một ý nghĩ rằng mình đã sai lầm, và sẽ tốt hơn nếu được khuyên nên rời khỏi cửa hàng, khi nhìn thấy bản mặt khó chịu của người chủ cửa hàng. Nhưng ý nghĩ đã  đến quá nhanh, vô duyên cớ và mơ hồ đến nỗi nó đã không xâm nhập vào ý thức hợp lý lẽ của anh. Vì vậy du khách trẻ tuổi này đã đứng lại và tiếp tục: “ Tôi muốn mua một ống nhòm xem kịch, loại thường, không quá đắt tiền.”  Người bán mắt kính đưa anh ta xem một vài cái và, qua cách tán dương, chỉ cho anh ta tên tuổi của những nhà sản xuất ra chúng.

Vị du khách trẻ tuổi rụt rè nói: “ Cái này quá nhỏ và mảnh khảnh đối với tôi, tôi muốn một cái cỡ lớn lớn, với hiệu ứng xem người, cảm thấy một cách vô thức là anh ta đang tạo một ấn tượng hạ cố và thân thiện quá mức mà điều này quá lớn đối với anh ta.

“ Vậy thì hãy lấy cái này đi,” người chủ cửa hàng thúc giục.

“ Đây là chiếc ống nhòm cỡ lớn để xem đua xe,” du khách trẻ tuổi cười.”Nó khá nặng nữa …” 

Anh ta nhìn xuyên qua ống nhòm một lúc, vặn nút bấm cho đến khi ống kính hội tụ. Anh có thể quan sát rất rõ đường phố.

“Dầu hơi lớn nhưng tôi rất thích cái này,” du khách trẻ tuổi nói. “Giá bao nhiêu vậy ?”

Giá tiền đưa ra quá sốc. Nếu mua chiếc ống nhòm xem kịch, sẽ là một ngày quá tốn kém. Nhưng chiếc ống nhòm này hội tụ cảnh đường phố rõ biết bao !

“Được rồi,” du khách nói, “Tôi lấy cái này.”

Anh trả tiền và rời khỏi tiệm với chiếc ống nhòm xem kịch trong hộp. Bây giờ, anh phải nhanh chân hơn. Bỗng nhiên anh nhớ lại cái khuôn mặt nhỏ nhắn giống như chim của người bán mắt kính thực sự không mấy vui vẻ. Nhưng anh liền gạt bỏ mối ác cảm điên rồ ấy; anh thường xuyên có mối ác cảm và nỗi cảm thông lạ lùng ấy, chúng thường gây phiền toái trong cuộc sống hằng ngày của anh.

 

Lúc này anh rảo bước nhanh hơn. Kia là nhà Hát Kịch Ô-pê-ra, nơi nhiều bóng đen của những người đi xem hát đã lũ lượt đổ về nhà hát qua quãng trường đêm để vào các lối vào rộng lớn được thắp sáng choang. Một chút nôn nóng dầu biết rằng mình chưa bị trễ, anh hối hả bước nhanh lên các bậc thang, trong khi những người khác đang chật vật tìm chỗ ngồi ở hàng ghế trước. Anh ngồi xuống, hân hoan mong đợi được thưởng thức âm nhạc. Anh tháo ống nhòm ra khỏi hộp, đặt lên thành lang cang trước mặt, với hai ống kính mở toang. Kế bên anh, bên trái, bên phải, đằng sau anh, ai nấy đều nhanh chóng ổn định chỗ ngồi. Tầng bốn đang lấp đầy như thường lệ. Các tầng bên dưới và dãy ghế trên cùng gần sân khấu cũng đã được lắp đầy.

Bất thình lình người trẻ tuổi ấy bỗng thấy chiếc ống nhòm có thể rơi xuống khỏi thành lang cang của nhà hát, được thắp sáng lờ mờ bất cứ lúc nào, nên anh lấy nó đặt lên hai đầu gối. Buổi trình diễn bắt đầu, mọi sự tập trung chú ý một cách say mê đều dồn cho Wagner. Cả nhà hát lớn, đầy ắp người, ngoài những đợt âm nhạc inh tai, khó mà có bất cứ âm thanh hay động tác, tiếng ho nào khác, trừ chiếc ống nhòm đang cầm trên tay.

 

Du khách trẻ cũng chỉa ống nhòm thẳng vào Seigmund, ca sĩ có giọng hát làm rung động trong anh một niềm vui sướng, để đưa ông ta lại gần với anh hơn. 

Bỗng trong niềm vui sướng đê mê áy, một luồng sáng loé lên trong anh rằng, cả nhà hát, được nhìn từ bên trên, đang nằm trên bờ vực thẳm, và rằng chiếc ống nhòm trên tay anh bỗng trở nên quá nặng. Ngay lúc đó, từ khoảng xa, một tờ chương trình các tiết mục rơi xuống, bềnh bồng chao lượn, làm phân tâm anh, và bay phấp phới, rồi đậu lại trên đỉnh đầu của một thiếu phụ có mái tóc màu xám tro với kiểu tóc được sửa soạn kỹ. Nàng vói tay tóm lấy tờ chương trình như bắt một con chim. Ngồi kế bên thiếu phụ là một quí ông có cái đầu hói bóng lộn.

 

Nhưng Sieglinde lại làm say mê anh du khách trở lại. Cô thiếu nữ người Đức có mái tóc màu bạch kim khiến anh cảm thấy vui sướng đê mê, đánh bẩy linh hồn vốn dễ quy phục của anh vào sự quyến rủ của bài hát. Anh đã từng thấy cô nàng này thơ mộng một cách thống thiết với Siegmund trong túp lều tranh của Hunding. Chiếc ống nhòm trở nên nặng oằn trên đầu gối anh. Anh đặt nó lên thành lang cang trở lại, trên đó hai tròng ống nhòm hiện ra lù lù như hai toà tháp. Và tuy vậy nó vẫn đủ an toàn ở đó. 

Du khách trẻ ngã người về phía trước, trong mối quan tâm vui vẻ, để xem chính xác ai  đang ngồi bên dưới anh trong nhà hát. Và ai là người mà ống nhòm sẽ chỉa vào …, nên đậu lại. 

Thật là một sự hiếu kỳ tinh nghịch, dấy lên quanh khái niệm về một sự kiện gần như bất khả thi. Cho đến lúc này anh chưa từng nghĩ là chiếc ống nhòm sẽ rơi xuống, sẽ không bao giờ xảy ra như vậy đâu.

Anh không thể thấy rõ ai đang ngồi thẳng góc ngay bên dưới anh. Nhà hát quá tối. Nhưng rõ ràng vì bóng tối mà hình dáng của khán giả bị lu mờ. Một lần nữa, anh lại thấy rõ hơn về một  thiếu phụ dáng bồ câu xám được chú ý trước đó, người mà đã chộp lấy tờ chương trình phấp phới bay lúc nãy. Và ngồi cạnh cô ta …

 

Chiếc đầu hói bóng lộn của ông ta phát ra một thứ ánh sáng lập loè. Trong số hằng ngàn bóng người chăm chú say mê, ngồi san sát nhau, đầu của những thiếu phụ có kiểu tóc chăm chuốc kỹ, và đầu của các quí ông có trán hói, loé sáng lên một cái đầu hói bóng lộn. Chiếc đầu hói ở xa kia phát ra ánh sáng tròn trịa, giống như ánh trăng tròn đầy ám ảnh, bị chìm xuống giữa rừng người đen kịt: lưng người sau sát ngay sau đầu người trước, bất động với sự chăm chú. Nó phát ra thứ ánh sáng giống như một tiêu điểm, một mục tiêu, nó phát ra ánh sáng trắng, nó phát ra …

Du khách trẻ trở nên bực mình trước sự bị làm phân tâm một cách kỳ lạ, nó làm mất thì giờ của anh - và buộc anh phải hướng sự chú ý về phía Hunding. Anh vô cùng thích Liebeslied, một giọng nan cao xuất chúng, đang hát một cách dạt dào tình cảm và tràn đầy sắc xuân. Nhưng anh không thể quên được gã đầu hói bóng lộn bên dưới kia, và cũng không thể khiến chính anh không trông thấy gã nữa. Bằng cái nhìn lơ đãng, anh tiếp tục hướng chệch góc về phía chiếc đầu hói bóng lộn, có vẻ như đang phát sáng dưới ánh đèn mờ của nhà hát, lúc này trông giống hệt như một quả bóng billiard khổng lồ !

 

Một cơn nóng nảy và giận dữ với chính mình đang chạy khắp người anh. Cùng lúc ấy, anh chộp lấy chiếc ống nhòm với cảm giác hoảng loạn đột ngột như thể nó sắp rơi. Và rồi, chiếc ống nhòm không rơi, và đôi bàn tay của thanh niên trẻ tuổi nọ ghì chặt lấy nó một cách vững vàng hơn mức cần thiết… Và anh ta hướng ống nhòm thẳng về phía Siegmund và Sieglinde.

Thế rồi, thật như thể anh không còn kiểm soát nó nữa … Dường như một một mệnh lệnh cực mạnh buộc anh ta hất tung chiếc ống nhòm lên cao qua khỏi bờ vực của thành lang cang nhà hát, nhắm thẳng đến quả cầu bóng lộn đầy quyến rủ kia, quả bóng billiard khổng lồ kia, mục tiêu đang phát sáng bên dưới kia, một khoảng cách chừng ba phần tư giữa  chính anh và sân khấu…

Trong sự chuyển động mãnh liệt của sức chịu đựng, anh ta ném người ra phía sau … và đang run tay, anh chỉ cố xoay sở để đặt ống nhòm xuống … Sự nổ lực đó gần như quá vĩ đại với anh ta. Rồi hai cánh tay ép sát vào hai mạn sườn để khỏi chộp lấy ống nhòm, anh ném mạnh nó vào cái tiêu điểm hình tròn bóng lộn, đang phát sáng dưới kia.

Thiếu phụ ngồi kế bên đã ném một cái nhìn sang bên gã đàn ông ngồi cạnh. Gã phản ứng lại cử chỉ của bà như thể là động tác chở che của một người mẹ.

“Tôi hết sức xin lỗi,” gã nói lầm bầm, mặt tái xanh, điên tiết ghê lắm.” Tôi không cảm thấy khoẻ, tôi thực sự cảm thấy đang bị ốm. Nếu bà tha lỗi, tôi sẽ rời đi ngay.”

 

Màn một kết thúc. Gã đứng dậy, vẫn còn đang run rẫy, nhưng không một tiếng động, gã lặng lẽ lướt qua năm, sáu cặp chân của những người ngồi giữa chính gã và cuối hàng ghế.

“Ông bỏ quên chiếc ống nhòm, thưa ông!” Thiếu phụ trong chỗ ngồi kế bên thì thầm sau lưng ông.

“Được rồi, thưa bà. Tôi sẽ sớm trở lại, tôi hy vọng thế.”

Gã vấp lên mấy bậc tam cấp, vài tiếng xuỵt ‘Ss’ rít lên đầy giận dữ. Rồi màng sân khấu kéo lại, đèn trong nhà hát sáng lên. Có tiếng vỗ tay khen ngợi. Gã cố ý để lại chiếc ống nhòm lại đó, e sợ một số điều . Lúc này đang là quãng nghỉ giữa giờ. Anh lấy lại bình tĩnh. Thật điên rồ biết bao!  Trong nhà hát lúc này đã được thắp sáng choang, sự ám ảnh cách đây một lúc đã khiến anh ta như một kẻ điên rồ, một sự thôi thúc kỳ cục mà có lẽ không bao giờ anh chịu nhượng bộ ! Anh không phải là một thằng mất trí ! Ném ống nhòm của mình vào giữa nhà hát sao ?!

Thôi nào, anh cố xua cái ý nghĩ điên rồ ấy ra khỏi đầu óc bằng một chút sức mạnh của ý chí và sự nhận thức thông thường . Anh cảm thấy đói bụng, và muốn vào một quán rượu để dùng một ổ bánh mì tròn và một ly bia. Điều này sẽ khiến anh bình tĩnh lại sau việc làm phi lý vừa rồi.

Tuy nhiên, khi màn hai của vở kịch đã bắt đầu và ánh đèn trong nhà hát mờ dần, anh quả quyết rằng những gì đã trào dâng trong anh là một cơn chóng mặt, một lúc mê sảng gây nên bởi độ cao, những gì mà người Pháp gọi là vertige de l’abime … Mặc dầu anh không cảm thấy có trạng thái bị cưỡng bức để lao mình xuống. Có lẽ sẽ tốt hơn biết bao nếu không ngồi quá xa khỏi dãy ghế đầu, quá cao bên trên vực thẳm của thành lang cang nhà hát. Không, sẽ tốt hơn biết bao nếu anh ngồi ở dãy ghế đằng sau gần lối đi lên xuống. Dầu rằng nỗi ám ảnh là phi lý nhưng nó giữ chặt anh trở lại trong chỗ ngồi này và vì vậy làm phân tán sự chú tâm của anh vào việc thưởng thức âm nhạc.

 

Hắn dừng lại. Xa dưới kia, chỗ ngồi của hắn vẫn còn để trống và hai ống kính cao ngất của chiếc ống nhòm đen ngòm của anh ta nhô cao một cách ngạo nghễ và vô hại bên thành ghế rộng đằng trước chỗ ngồi còn trống của gã. Nhưng nếu anh đứng nhón gót lên một chút, anh có thể thấy cái đầu hói bóng lộn, đang phát sáng như một quả cầu. 

Anh nhún vai một cách bực bội, cố xua đi sự bực dọc đó  bằng tiếng “tút tút”, và hướng toàn bộ sự chú ý của anh vào tiếng thét đầy hân hoan của Bruunhilde, trên đỉnh cao nền nhạc rock nơi cô xuất hiện. Và đã trở nên trầm lặng hơn. Và rồi trở nên hết sức vui thích.

Nhạc tố hoạt bát kỳ diệu tràn ngập trong anh, và trạng thái khoái cảm thuần tuý của anh khôi phục lại hoàn toàn trạng thái thăng bằng trong anh.

 

Thế nhưng, khi đêm đại nhạc hội kết thúc, anh cương quyết sẽ không bao giờ ngồi  ở dãy ghế đầu của tầng bốn này nữa. Bằng mọi giá,  chẳng bao giờ nữa, với chiếc ống nhòm cỡ lớn trước mặt anh ta. Và cũng sẽ chẳng bao giờ anh mang chiếc ống nhòm xem kịch theo với anh nữa … vì trọng lượng của nó  tạo cảm giác khá lạ lẫm trong tay anh và vì cùng với ý nghĩa sâu xa khác, và vì cái mục tiêu bóng lộn chết tiệt dưới kia, chắc có lẽ đã kích hoạt nỗi ám ảnh điên rồ đó… để nó yên nằm ở đó … với cặp ống kính đen ngòm … trên thành ghế rộng … in rõ hình nổi bật giữa khoảng trống mênh mông của nhà hát, lúc này đang trống trơn bên dưới  và khắp các phía.

Anh hầu như đâm đầu chạy xuống các bậc cầu thang, sợ có ai đó sẽ gọi theo sau anh, rằng anh đã bỏ quên chiếc ống nhòm xem kịch.

 

Năm năm trời đã trôi qua, anh chưa bao giờ thành công trong sự nghiệp, anh đã lập gia đình. Anh đã có những chuyến đi ngắn ngày vào mùa hè và mùa đông cho công việc và cho các kỳ nghỉ phép. Anh chưa bao giờ trở lại Dresden, nhưng năm nay, tình cờ anh có mặt ở đó. Một sáng sớm mùa Thu, khi công viên phủ đầy lá vàng rơi. Tấm quảng cáo kịch ô-pê-ra loan báo một loạt những đêm biểu diễn theo chu kỳ vòng quanh các thành phố. Đêm đó, họ đang trình diễn vở kịch The Valkyrie. Anh nhớ lại đêm trình diễn tuyệt vời năm năm về trước. Ký ức về nỗi ám ảnh đã phai nhạt cho đến khi nó đã trở thành không gì khác hơn là một hoài niệm mơ hồ nhất về sự hoa mắt, cảm giác mất thăng bằng do từ trên cao nhìn xuống, rồi kể từ đó anh đôi lúc nhún vai, mỉm cười thầm kín về nó. Nhất định anh phải đến xem lại vở kịch The Valkyrie vào tối nay. Nhưng khi đến phòng vé, người ta bảo với anh là tất cả vé cho vở kịch đã bán hết.

Anh cảm thấy rất tiếc, rồi quay đi. Vừa lúc ấy, một người đến gần và bảo với cô bán vé rằng hắn ta muốn bán lại vé chỗ ngồi ở dãy ghế đầu, trên tầng bốn, cho buổi trình diễn tối hôm nay, vì không thể đến được.

Thanh niên trẻ tuổi ngày ấy liền hâm hở lấy chỗ ngồi đó, và tự hỏi nơi mà mình đã thấy khuôn mặt chim câu xám khó ưa trước kia ở đâu. Thôi rồi, lại chính là chỗ ngồi ở hàng ghế trước chót vót cao trên tầng bốn, nhưng anh không cảm thấy bị choáng và sẽ không tự cho phép mình bị ném vào một ý nghĩ xuẩn ngốc như thế nữa. Hãy đến đó, lần này ngay cả anh cũng không mang theo mình chiếc ống nhòm xem kịch. Anh không có nó, và anh cũng không mua chiếc nào khác.

Tối đó, anh đến rất trễ. Nhà hát đã tối om và đầy ắp; âm nhạc đã bắt đầu. Anh do dự vì sợ làm phiền những thính giả thuộc hàng ghế của anh, nhưng cô nhân viên chỉ chỗ ngồi trong rạp đã nghĩ anh có thể dễ dàng đến chỗ ngồi của anh chỉ qua khỏi bốn người. Vì vậy anh nhẹ nhàng lê bước qua khỏi các đầu gối của họ, miệng không ngớt thì thầm những lời xin lỗi, và ngồi xuống.

Rồi thì cô nhân viên chỉ chỗ ngồi tựa vào anh, giọng thì thầm, đưa anh ta một chiếc ống nhòm xem kịch cỡ lớn và hỏi: 

“Ông có muốn thuê chiếc ống nhòm xem kịch này không? Chỉ với giá tiền thuê là một mark.”

Anh nghĩ anh vừa phát hiện thấy một giọng nói đầy châm chọc, giật mình và nhìn chăm chăm vào chiếc ống nhòm cô ta đang chìa ra cho anh. Chính nó là chiếc ống nhòm của anh, từ năm năm trước, đã bị lãng quên ở đây, chẳng phải được tái chế cũng chưa từng được mang đến sở cảnh sát, và thường xuyên được cô nhân viên này cho mướn bất cứ khi nào có thể. Nó chính là chiếc ống nhòm của anh. Trước khi anh có thể đưa ra lời từ chối thì một bàn tay chộp lấy cái vật dụng một cách không thể chống đỡ kịp. Những giọng nói đầy giận dữ vang lên “Sh”, cô nhân viên vội vã rút lui, nói: ông ấy có thể trả tiền sau.

 

Việc gì đến đã đến, ngay giữa lúc cặp Siegmund và Sieglinde đang song ca, có ai đó, từ chót vót cao nơi hàng ghế đầu của tầng bốn, đang đau quằn quại và đang kêu thất thanh như thể sắp bị kiệt sức vì một cơn động kinh, như thể đang đánh nhau với một lực lượng nào đó mạnh mẽ hơn người ấy rất nhiều, và một bàn tay vung mạnh, xuyên qua khoảng không trong nhà hát, nơi khán giả bị giật thót người ra khỏi sự chăm chú đầy say mê, một vật nặng đang lao như cung lửa điện vào vực sâu.

 

Và thẳm sâu bên dưới, kế bên chỗ thiếu phụ bồ câu xám và quí ông đầu hói bóng lộn đã ngồi trước kia, một người khác, mặc dầu không phải mục tiêu bị nhắm tới, hay đối tượng bị chú ý, đã bị thương nghiêm trọng và đang gào thét trong cơn đau dữ dội như thể đã bị vỡ sọ. 

 

           English Translation by Paul Vincent

                                                                           Vietnamese Translation by Thien Tri

                                                                                               April, 2021


2.        T H E.  O P E R A   G L A S S E S     /  De Binocle.    LOUIS COUPERUS

                         C H I Ế C   Ố N G   N H Ò M   X E M   K Ị C H. 

                                                                    English Translation by Paul Vincent

                                                                    Vietnamese Translation by Phan Thien Tri

 

Chính cách đây khoảng năm năm tại Dresden, vào một sáng sớm, một du khách trẻ tuổi, một nhà báo người Hà Lan gốc Châu Âu, một thanh niên tuấn tú, tính tình hơi nhút nhát một chút nhưng khí chất khá hoà nhã, mặc dầu mang trong người dòng máu nhiệt đới, đã mua vé cho đêm đại nhạc hội, một vé với chỗ ngồi ở hàng ghế đầu trên tầng bốn, để xem đêm biểu diễn vở nhạc kịch The Valkyrie. Vào thời điểm đó, tầng bốn là nơi những người nước ngoài, không kham nổi vé hạng sang cho ngày thứ Bảy cuối tuần. Thật vậy, ngay cả những ai có thể, thường thích tầng bốn hơn tầng ba, hoặc tầng hai, dầu bờ vực của thính đường rộng mở bung ra giữa tầng này với sân khấu. Thật là một ngày đẹp trời; công viên phủ đầy lá vàng rơi, một cảm giác dịu êm của niềm vui sống đang bềnh bồng trôi trên bầu trời thoáng đãng. Một du khách trẻ, trong nỗi cô đơn đượm vẻ u sầu, đang vui vẻ lang thang dạo bước quanh thành phố xinh đẹp, rảo bước vào viện bảo tàng, dùng bữa trưa trong căn nhà hóng mát đâu đó bên bờ sông Elbe. Anh cảm thấy hân hoan trước cái viễn ảnh được xem vở The Valkyrie tối hôm đó, một ban nhạc kịch opera mà anh chưa từng xem, anh tự trách mình vì điều này, do đã quá yêu mến Wagner.

 

Đã mấy tiếng đồng hồ trôi qua mà anh chẳng nói chuyện với một người nào, ngoại trừ cô nhân viên phục vụ bàn và anh chàng tài xế xe điện. Anh đã uống một tách trà và một món thức ăn nhẹ. Vì buổi đại nhạc hội bắt đầu rất sớm nên anh  biết sẽ không có thời gian để dùng bữa tối. Và rồi, với bản tính dễ thoả mãn và vui vẻ nhẹ nhàng, lặng lẽ, anh từ từ rảo bước – còn quá nhiều thì giờ - tới nhà Hát Kịch Ô-pê-ra. Một ít cửa hiệu ở đường Prager-strasse sắp đóng cửa cho một ngày, và vừa khi anh thấy một người bán mắt kính đang chỉ chỏ một nhân viên bán hàng kéo sập cánh cửa chớp đằng trước tủ kiếng bày hàng thì anh chợt nhớ là mình không có ống nhòm xem kịch. Ý tưởng này xảy ra trong chớp nhoáng  vì rằng tầng bốn, nơi anh thường ngồi, tận đằng sau, là một khoảng cách khá xa từ sân khấu, và vì nếu có ống nhòm sẽ rất thuận tiện. Anh cũng nghĩ rằng hôm nay mình cũng chưa chi tiêu gì nhiều, và chỗ ngồi cũng chỉ với giá ba đồng marks , và lúc này mắt anh bỗng tình cờ bắt gặp mắt của người bán mắt kính đang chào đón khách hàng, ông ta vẫy tay, như thể từ một nguồn cảm hứng nào đó khiến ông ta vội vã bước ra mời, trong khi anh còn ngoài vỉa hè.

“ Có phải sắp đóng cửa không ? Tôi có còn đủ thời gian để mua một chiếc ống nhòm xem kịch không nhỉ ?”

Người bán mắt kính gầy, dong dỏng cao, toe toét cười một cách vui vẻ, gật đầu, ra hiệu cho anh bước vào một cửa hiệu đã phủ bóng tối hơn một nửa. Và vừa khi vị du khách này đã bước vào bên trong thì anh chợt loé lên trong tâm trí một ý nghĩ rằng mình đã sai lầm, và sẽ tốt hơn nếu được khuyên nên rời khỏi cửa hàng, khi nhìn thấy bản mặt khó chịu của người chủ cửa hàng. Nhưng ý nghĩ đã  đến quá nhanh, vô duyên cớ và mơ hồ đến nỗi nó đã không xâm nhập vào ý thức hợp lý lẽ của anh. Vì vậy du khách trẻ tuổi này đã đứng lại và tiếp tục: “ Tôi muốn mua một ống nhòm xem kịch, loại thường, không quá đắt tiền.”  Người bán mắt kính đưa anh ta xem một vài cái và, qua cách tán dương, chỉ cho anh ta tên tuổi của những nhà sản xuất ra chúng.

Vị du khách trẻ tuổi rụt rè nói: “ Cái này quá nhỏ và mảnh khảnh đối với tôi, tôi muốn một cái cỡ lớn lớn, với hiệu ứng xem người, cảm thấy một cách vô thức là anh ta đang tạo một ấn tượng hạ cố và thân thiện quá mức mà điều này quá lớn đối với anh ta.

“ Vậy thì hãy lấy cái này đi,” người chủ cửa hàng thúc giục.

“ Đây là chiếc ống nhòm cỡ lớn để xem đua xe,” du khách trẻ tuổi cười.”Nó khá nặng nữa …” 

Anh ta nhìn xuyên qua ống nhòm một lúc, vặn nút bấm cho đến khi ống kính hội tụ. Anh có thể quan sát rất rõ đường phố.

“Dầu hơi lớn nhưng tôi rất thích cái này,” du khách trẻ tuổi nói. “Giá bao nhiêu vậy ?”

Giá tiền đưa ra quá sốc. Nếu mua chiếc ống nhòm xem kịch, sẽ là một ngày quá tốn kém. Nhưng chiếc ống nhòm này hội tụ cảnh đường phố rõ biết bao !

“Được rồi,” du khách nói, “Tôi lấy cái này.”

Anh trả tiền và rời khỏi tiệm với chiếc ống nhòm xem kịch trong hộp. Bây giờ, anh phải nhanh chân hơn. Bỗng nhiên anh nhớ lại cái khuôn mặt nhỏ nhắn giống như chim của người bán mắt kính thực sự không mấy vui vẻ. Nhưng anh liền gạt bỏ mối ác cảm điên rồ ấy; anh thường xuyên có mối ác cảm và nỗi cảm thông lạ lùng ấy, chúng thường gây phiền toái trong cuộc sống hằng ngày của anh.

 

Lúc này anh rảo bước nhanh hơn. Kia là nhà Hát Kịch Ô-pê-ra, nơi nhiều bóng đen của những người đi xem hát đã lũ lượt đổ về nhà hát qua quãng trường đêm để vào các lối vào rộng lớn được thắp sáng choang. Một chút nôn nóng dầu biết rằng mình chưa bị trễ, anh hối hả bước nhanh lên các bậc thang, trong khi những người khác đang chật vật tìm chỗ ngồi ở hàng ghế trước. Anh ngồi xuống, hân hoan mong đợi được thưởng thức âm nhạc. Anh tháo ống nhòm ra khỏi hộp, đặt lên thành lang cang trước mặt, với hai ống kính mở toang. Kế bên anh, bên trái, bên phải, đằng sau anh, ai nấy đều nhanh chóng ổn định chỗ ngồi. Tầng bốn đang lấp đầy như thường lệ. Các tầng bên dưới và dãy ghế trên cùng gần sân khấu cũng đã được lắp đầy.

Bất thình lình người trẻ tuổi ấy bỗng thấy chiếc ống nhòm có thể rơi xuống khỏi thành lang cang của nhà hát, được thắp sáng lờ mờ bất cứ lúc nào, nên anh lấy nó đặt lên hai đầu gối. Buổi trình diễn bắt đầu, mọi sự tập trung chú ý một cách say mê đều dồn cho Wagner. Cả nhà hát lớn, đầy ắp người, ngoài những đợt âm nhạc inh tai, khó mà có bất cứ âm thanh hay động tác, tiếng ho nào khác, trừ chiếc ống nhòm đang cầm trên tay.

 

Du khách trẻ cũng chỉa ống nhòm thẳng vào Seigmund, ca sĩ có giọng hát làm rung động trong anh một niềm vui sướng, để đưa ông ta lại gần với anh hơn. 

Bỗng trong niềm vui sướng đê mê áy, một luồng sáng loé lên trong anh rằng, cả nhà hát, được nhìn từ bên trên, đang nằm trên bờ vực thẳm, và rằng chiếc ống nhòm trên tay anh bỗng trở nên quá nặng. Ngay lúc đó, từ khoảng xa, một tờ chương trình các tiết mục rơi xuống, bềnh bồng chao lượn, làm phân tâm anh, và bay phấp phới, rồi đậu lại trên đỉnh đầu của một thiếu phụ có mái tóc màu xám tro với kiểu tóc được sửa soạn kỹ. Nàng vói tay tóm lấy tờ chương trình như bắt một con chim. Ngồi kế bên thiếu phụ là một quí ông có cái đầu hói bóng lộn.

 

Nhưng Sieglinde lại làm say mê anh du khách trở lại. Cô thiếu nữ người Đức có mái tóc màu bạch kim khiến anh cảm thấy vui sướng đê mê, đánh bẩy linh hồn vốn dễ quy phục của anh vào sự quyến rủ của bài hát. Anh đã từng thấy cô nàng này thơ mộng một cách thống thiết với Siegmund trong túp lều tranh của Hunding. Chiếc ống nhòm trở nên nặng oằn trên đầu gối anh. Anh đặt nó lên thành lang cang trở lại, trên đó hai tròng ống nhòm hiện ra lù lù như hai toà tháp. Và tuy vậy nó vẫn đủ an toàn ở đó. 

Du khách trẻ ngã người về phía trước, trong mối quan tâm vui vẻ, để xem chính xác ai  đang ngồi bên dưới anh trong nhà hát. Và ai là người mà ống nhòm sẽ chỉa vào …, nên đậu lại. 

Thật là một sự hiếu kỳ tinh nghịch, dấy lên quanh khái niệm về một sự kiện gần như bất khả thi. Cho đến lúc này anh chưa từng nghĩ là chiếc ống nhòm sẽ rơi xuống, sẽ không bao giờ xảy ra như vậy đâu.

Anh không thể thấy rõ ai đang ngồi thẳng góc ngay bên dưới anh. Nhà hát quá tối. Nhưng rõ ràng vì bóng tối mà hình dáng của khán giả bị lu mờ. Một lần nữa, anh lại thấy rõ hơn về một  thiếu phụ dáng bồ câu xám được chú ý trước đó, người mà đã chộp lấy tờ chương trình phấp phới bay lúc nãy. Và ngồi cạnh cô ta …

 

Chiếc đầu hói bóng lộn của ông ta phát ra một thứ ánh sáng lập loè. Trong số hằng ngàn bóng người chăm chú say mê, ngồi san sát nhau, đầu của những thiếu phụ có kiểu tóc chăm chuốc kỹ, và đầu của các quí ông có trán hói, loé sáng lên một cái đầu hói bóng lộn. Chiếc đầu hói ở xa kia phát ra ánh sáng tròn trịa, giống như ánh trăng tròn đầy ám ảnh, bị chìm xuống giữa rừng người đen kịt: lưng người sau sát ngay sau đầu người trước, bất động với sự chăm chú. Nó phát ra thứ ánh sáng giống như một tiêu điểm, một mục tiêu, nó phát ra ánh sáng trắng, nó phát ra …

Du khách trẻ trở nên bực mình trước sự bị làm phân tâm một cách kỳ lạ, nó làm mất thì giờ của anh - và buộc anh phải hướng sự chú ý về phía Hunding. Anh vô cùng thích Liebeslied, một giọng nan cao xuất chúng, đang hát một cách dạt dào tình cảm và tràn đầy sắc xuân. Nhưng anh không thể quên được gã đầu hói bóng lộn bên dưới kia, và cũng không thể khiến chính anh không trông thấy gã nữa. Bằng cái nhìn lơ đãng, anh tiếp tục hướng chệch góc về phía chiếc đầu hói bóng lộn, có vẻ như đang phát sáng dưới ánh đèn mờ của nhà hát, lúc này trông giống hệt như một quả bóng billiard khổng lồ !

 

Một cơn nóng nảy và giận dữ với chính mình đang chạy khắp người anh. Cùng lúc ấy, anh chộp lấy chiếc ống nhòm với cảm giác hoảng loạn đột ngột như thể nó sắp rơi. Và rồi, chiếc ống nhòm không rơi, và đôi bàn tay của thanh niên trẻ tuổi nọ ghì chặt lấy nó một cách vững vàng hơn mức cần thiết… Và anh ta hướng ống nhòm thẳng về phía Siegmund và Sieglinde.

Thế rồi, thật như thể anh không còn kiểm soát nó nữa … Dường như một một mệnh lệnh cực mạnh buộc anh ta hất tung chiếc ống nhòm lên cao qua khỏi bờ vực của thành lang cang nhà hát, nhắm thẳng đến quả cầu bóng lộn đầy quyến rủ kia, quả bóng billiard khổng lồ kia, mục tiêu đang phát sáng bên dưới kia, một khoảng cách chừng ba phần tư giữa  chính anh và sân khấu…

Trong sự chuyển động mãnh liệt của sức chịu đựng, anh ta ném người ra phía sau … và đang run tay, anh chỉ cố xoay sở để đặt ống nhòm xuống … Sự nổ lực đó gần như quá vĩ đại với anh ta. Rồi hai cánh tay ép sát vào hai mạn sườn để khỏi chộp lấy ống nhòm, anh ném mạnh nó vào cái tiêu điểm hình tròn bóng lộn, đang phát sáng dưới kia.

Thiếu phụ ngồi kế bên đã ném một cái nhìn sang bên gã đàn ông ngồi cạnh. Gã phản ứng lại cử chỉ của bà như thể là động tác chở che của một người mẹ.

“Tôi hết sức xin lỗi,” gã nói lầm bầm, mặt tái xanh, điên tiết ghê lắm.” Tôi không cảm thấy khoẻ, tôi thực sự cảm thấy đang bị ốm. Nếu bà tha lỗi, tôi sẽ rời đi ngay.”

 

Màn một kết thúc. Gã đứng dậy, vẫn còn đang run rẫy, nhưng không một tiếng động, gã lặng lẽ lướt qua năm, sáu cặp chân của những người ngồi giữa chính gã và cuối hàng ghế.

“Ông bỏ quên chiếc ống nhòm, thưa ông!” Thiếu phụ trong chỗ ngồi kế bên thì thầm sau lưng ông.

“Được rồi, thưa bà. Tôi sẽ sớm trở lại, tôi hy vọng thế.”

Gã vấp lên mấy bậc tam cấp, vài tiếng xuỵt ‘Ss’ rít lên đầy giận dữ. Rồi màng sân khấu kéo lại, đèn trong nhà hát sáng lên. Có tiếng vỗ tay khen ngợi. Gã cố ý để lại chiếc ống nhòm lại đó, e sợ một số điều . Lúc này đang là quãng nghỉ giữa giờ. Anh lấy lại bình tĩnh. Thật điên rồ biết bao!  Trong nhà hát lúc này đã được thắp sáng choang, sự ám ảnh cách đây một lúc đã khiến anh ta như một kẻ điên rồ, một sự thôi thúc kỳ cục mà có lẽ không bao giờ anh chịu nhượng bộ ! Anh không phải là một thằng mất trí ! Ném ống nhòm của mình vào giữa nhà hát sao ?!

Thôi nào, anh cố xua cái ý nghĩ điên rồ ấy ra khỏi đầu óc bằng một chút sức mạnh của ý chí và sự nhận thức thông thường . Anh cảm thấy đói bụng, và muốn vào một quán rượu để dùng một ổ bánh mì tròn và một ly bia. Điều này sẽ khiến anh bình tĩnh lại sau việc làm phi lý vừa rồi.

Tuy nhiên, khi màn hai của vở kịch đã bắt đầu và ánh đèn trong nhà hát mờ dần, anh quả quyết rằng những gì đã trào dâng trong anh là một cơn chóng mặt, một lúc mê sảng gây nên bởi độ cao, những gì mà người Pháp gọi là vertige de l’abime … Mặc dầu anh không cảm thấy có trạng thái bị cưỡng bức để lao mình xuống. Có lẽ sẽ tốt hơn biết bao nếu không ngồi quá xa khỏi dãy ghế đầu, quá cao bên trên vực thẳm của thành lang cang nhà hát. Không, sẽ tốt hơn biết bao nếu anh ngồi ở dãy ghế đằng sau gần lối đi lên xuống. Dầu rằng nỗi ám ảnh là phi lý nhưng nó giữ chặt anh trở lại trong chỗ ngồi này và vì vậy làm phân tán sự chú tâm của anh vào việc thưởng thức âm nhạc.

 

Hắn dừng lại. Xa dưới kia, chỗ ngồi của hắn vẫn còn để trống và hai ống kính cao ngất của chiếc ống nhòm đen ngòm của anh ta nhô cao một cách ngạo nghễ và vô hại bên thành ghế rộng đằng trước chỗ ngồi còn trống của gã. Nhưng nếu anh đứng nhón gót lên một chút, anh có thể thấy cái đầu hói bóng lộn, đang phát sáng như một quả cầu. 

Anh nhún vai một cách bực bội, cố xua đi sự bực dọc đó  bằng tiếng “tút tút”, và hướng toàn bộ sự chú ý của anh vào tiếng thét đầy hân hoan của Bruunhilde, trên đỉnh cao nền nhạc rock nơi cô xuất hiện. Và đã trở nên trầm lặng hơn. Và rồi trở nên hết sức vui thích.

Nhạc tố hoạt bát kỳ diệu tràn ngập trong anh, và trạng thái khoái cảm thuần tuý của anh khôi phục lại hoàn toàn trạng thái thăng bằng trong anh.

 

Thế nhưng, khi đêm đại nhạc hội kết thúc, anh cương quyết sẽ không bao giờ ngồi  ở dãy ghế đầu của tầng bốn này nữa. Bằng mọi giá,  chẳng bao giờ nữa, với chiếc ống nhòm cỡ lớn trước mặt anh ta. Và cũng sẽ chẳng bao giờ anh mang chiếc ống nhòm xem kịch theo với anh nữa … vì trọng lượng của nó  tạo cảm giác khá lạ lẫm trong tay anh và vì cùng với ý nghĩa sâu xa khác, và vì cái mục tiêu bóng lộn chết tiệt dưới kia, chắc có lẽ đã kích hoạt nỗi ám ảnh điên rồ đó… để nó yên nằm ở đó … với cặp ống kính đen ngòm … trên thành ghế rộng … in rõ hình nổi bật giữa khoảng trống mênh mông của nhà hát, lúc này đang trống trơn bên dưới  và khắp các phía.

Anh hầu như đâm đầu chạy xuống các bậc cầu thang, sợ có ai đó sẽ gọi theo sau anh, rằng anh đã bỏ quên chiếc ống nhòm xem kịch.

 

Năm năm trời đã trôi qua, anh chưa bao giờ thành công trong sự nghiệp, anh đã lập gia đình. Anh đã có những chuyến đi ngắn ngày vào mùa hè và mùa đông cho công việc và cho các kỳ nghỉ phép. Anh chưa bao giờ trở lại Dresden, nhưng năm nay, tình cờ anh có mặt ở đó. Một sáng sớm mùa Thu, khi công viên phủ đầy lá vàng rơi. Tấm quảng cáo kịch ô-pê-ra loan báo một loạt những đêm biểu diễn theo chu kỳ vòng quanh các thành phố. Đêm đó, họ đang trình diễn vở kịch The Valkyrie. Anh nhớ lại đêm trình diễn tuyệt vời năm năm về trước. Ký ức về nỗi ám ảnh đã phai nhạt cho đến khi nó đã trở thành không gì khác hơn là một hoài niệm mơ hồ nhất về sự hoa mắt, cảm giác mất thăng bằng do từ trên cao nhìn xuống, rồi kể từ đó anh đôi lúc nhún vai, mỉm cười thầm kín về nó. Nhất định anh phải đến xem lại vở kịch The Valkyrie vào tối nay. Nhưng khi đến phòng vé, người ta bảo với anh là tất cả vé cho vở kịch đã bán hết.

Anh cảm thấy rất tiếc, rồi quay đi. Vừa lúc ấy, một người đến gần và bảo với cô bán vé rằng hắn ta muốn bán lại vé chỗ ngồi ở dãy ghế đầu, trên tầng bốn, cho buổi trình diễn tối hôm nay, vì không thể đến được.

Thanh niên trẻ tuổi ngày ấy liền hâm hở lấy chỗ ngồi đó, và tự hỏi nơi mà mình đã thấy khuôn mặt chim câu xám khó ưa trước kia ở đâu. Thôi rồi, lại chính là chỗ ngồi ở hàng ghế trước chót vót cao trên tầng bốn, nhưng anh không cảm thấy bị choáng và sẽ không tự cho phép mình bị ném vào một ý nghĩ xuẩn ngốc như thế nữa. Hãy đến đó, lần này ngay cả anh cũng không mang theo mình chiếc ống nhòm xem kịch. Anh không có nó, và anh cũng không mua chiếc nào khác.

Tối đó, anh đến rất trễ. Nhà hát đã tối om và đầy ắp; âm nhạc đã bắt đầu. Anh do dự vì sợ làm phiền những thính giả thuộc hàng ghế của anh, nhưng cô nhân viên chỉ chỗ ngồi trong rạp đã nghĩ anh có thể dễ dàng đến chỗ ngồi của anh chỉ qua khỏi bốn người. Vì vậy anh nhẹ nhàng lê bước qua khỏi các đầu gối của họ, miệng không ngớt thì thầm những lời xin lỗi, và ngồi xuống.

Rồi thì cô nhân viên chỉ chỗ ngồi tựa vào anh, giọng thì thầm, đưa anh ta một chiếc ống nhòm xem kịch cỡ lớn và hỏi: 

“Ông có muốn thuê chiếc ống nhòm xem kịch này không? Chỉ với giá tiền thuê là một mark.”

Anh nghĩ anh vừa phát hiện thấy một giọng nói đầy châm chọc, giật mình và nhìn chăm chăm vào chiếc ống nhòm cô ta đang chìa ra cho anh. Chính nó là chiếc ống nhòm của anh, từ năm năm trước, đã bị lãng quên ở đây, chẳng phải được tái chế cũng chưa từng được mang đến sở cảnh sát, và thường xuyên được cô nhân viên này cho mướn bất cứ khi nào có thể. Nó chính là chiếc ống nhòm của anh. Trước khi anh có thể đưa ra lời từ chối thì một bàn tay chộp lấy cái vật dụng một cách không thể chống đỡ kịp. Những giọng nói đầy giận dữ vang lên “Sh”, cô nhân viên vội vã rút lui, nói: ông ấy có thể trả tiền sau.

 

Việc gì đến đã đến, ngay giữa lúc cặp Siegmund và Sieglinde đang song ca, có ai đó, từ chót vót cao nơi hàng ghế đầu của tầng bốn, đang đau quằn quại và đang kêu thất thanh như thể sắp bị kiệt sức vì một cơn động kinh, như thể đang đánh nhau với một lực lượng nào đó mạnh mẽ hơn người ấy rất nhiều, và một bàn tay vung mạnh, xuyên qua khoảng không trong nhà hát, nơi khán giả bị giật thót người ra khỏi sự chăm chú đầy say mê, một vật nặng đang lao như cung lửa điện vào vực sâu.

 

Và thẳm sâu bên dưới, kế bên chỗ thiếu phụ bồ câu xám và quí ông đầu hói bóng lộn đã ngồi trước kia, một người khác, mặc dầu không phải mục tiêu bị nhắm tới, hay đối tượng bị chú ý, đã bị thương nghiêm trọng và đang gào thét trong cơn đau dữ dội như thể đã bị vỡ sọ. 

 

           English Translation by Paul Vincent

                                                                           Vietnamese Translation by Thien Tri

                                                                                               April, 2021


 3. G I Ấ C   M Ơ  X A N H

 

                                                                                       ARTHUR VAN SCHENDEL.

      

                                                     Translated from Dutch into English by David McKay

                                                                            English into Vietnamese by Thien Tri

 

Cuộc đời đôi lúc cũng có thể tuyệt đẹp như một giấc mơ – một giấc mơ hạnh phúc có thể biến đổi một phút giây thành một thế kỷ, hay thành một cơn ác mộng trong đó bạn khó có thể sớm tỉnh mộng. Nhưng một giấc mơ có thể cũng có vẻ hiện thực đến nỗi bạn tự hỏi liệu bạn có phải đang thực sự mơ, liệu thế giới được thấy một cách chân thực nhất bởi đôi mắt đang tỉnh thức hay đang trong giấc ngủ say. Và thậm chí nếu một đầu óc đang minh mẫn vạch một đường ranh giữa mộng mơ và thực tại, nó phải thừa nhận, nếu nó đủ minh mẫn để có thể xem xét kỹ vấn đề, rằng sự phân biệt rõ ràng giữa ảo giác và thực tế là cả một trời bí ẩn.

Nhưng đầu óc ai xứng đáng được gọi là minh mẫn ? Phải chăng đó là người chưa từng mơ mộng, chưa từng biết ảo tưởng là gì, người duy nhất có đầu óc minh mẫn là người chưa bao giờ phạm phải lỗi lầm ? Và như thế chắc chắn trên thế gian này hiếm người có đầu óc hoàn hảo và không bị hoen ố.

Những người không bao giờ mơ, thực ra, rất hiếm thấy, và tâm hồn của họ, như một học giả có lần đã nói rằng  những người như thế ắt hẳn đang thiếu vắng một cái gì đó rất thiết yếu, bởi vì năng lực tư tưởng của họ phụ thuộc vào năng lực tưởng tượng. Ông tiếp tục nói rằng, mọi ý tưởng sáng tạo, thực ra, được sản sinh từ những giấc mơ và những điều hoang tưởng. 

Mặt khác, thật có vẻ đáng ngờ rằng một người mơ mộng nhiều lại là người hoàn toàn minh mẫn. Có những người mà tâm hồn họ rất hăm hở muốn trốn khỏi thực tế cuộc sống hằng ngày đến nỗi họ chỉ cần nhắm mắt là liền thấy ảnh hình trong mơ. Thật chẳng bình thường chút nào, bạn phải thừa nhận, sự bắt buộc trí óc trốn khỏi thế giới của bạn bè để nhập vào thế giới hư ảo là thái quá, là không bình thường. Những ai làm việc này là những con người  không tưởng, những kẻ mộng mơ, những gã đi giữa đời mà hồn ở trên mây, có thể bình thường, lành mạnh so với hạng người không tưởng như họ; nhưng trong xã hội loài người,  họ giống như những hoa  phong lan giữa muôn hoa, như những thứ kỳ quặc lạ lẫm với thiên nhiên.

 

Khi còn nhỏ, Cloverleaf, một người nhiều mộng mơ, một kẻ lắm hoang tưởng, tự tách  ra khỏi chính mình bởi tính ưa lập dị của ông. Thức ăn, đồ uống, lắm người ưa thích, như bánh mì nho Hy Lạp và sữa, lại làm ông ghê tởm. Những cảnh tượng mọi người ai cũng công nhận là tuyệt đẹp, như bộ com-lê đẹp nhất, hay buổi diễu hành, lại vô cùng xấu xí đối với ông ta. Những thứ làm cháy bỏng niềm say đắm trong tim mọi người, như cô gái đẹp xuân thì, hay như ly rượu vang đỏ đã làm cho tinh thần ông chùng xuống. Ông ta chẳng quan tâm cái này, không thèm để ý đến cái kia, và những gì ông đặc biệt quan tâm là những thứ mà ông chưa bao giờ biết, những thứ vượt bên ngoài tầm hiểu biết của ông ta như những nàng tiên kiều diễm, những món sơn hào hải vị.

 

Người ta nói, Cloverleaf là con người kỳ quặc, chẳng thứ gì làm ông hài lòng. Thực vậy, ông chẳng khao khát tình dục, chẳng thèm muốn thứ gì. Điều duy nhất mà ông thích là ngồi một mình, giữ tâm hồn tĩnh lặng, một mình thả bước, bởi vì lúc ấy những mộng mơ trong đầu ông không bị quấy nhiễu. Những mộng mơ này là một tiến trình độc lập khỏi ý chí của ông. Chúng bắt đầu dong ruổi trong đầu ông ngay khi ông mở mắt vào sáng sớm, và lúc ông nhắm mắt ngủ vào ban đêm, chúng liên tục diễn ra dưới mọi kiểu cách khác nhau. Thỉnh thoảng ông  đánh nhau với chúng, bởi vì chúng làm cho ông trở nên tiều tuỵ, hoặc vì ông tin tâm hồn mình cần một thứ gì khác nữa. Có khi ông cũng tìm cách chuyển hướng, và hành vi hết sức cực đoan của ông cũng làm cho người khác ngạc nhiên. Thế nhưng, mặc dầu đầu óc ông ta muốn chặn đứng màn trình diễn hình ảnh ấy bao  lâu mà ông vẫn còn năng động một cách điên cuồng, nhưng vừa khi ông ngăn chặn nó thì nó thường khiến ông ta ngạc nhiên với màn trình diễn hình ảnh mới, sinh động hơn, màu sắc sặc sỡ hơn hình ảnh vừa qua. Thỉnh thoảng điều này cũng biến thành một trận chiến kịch liệt giữa Cloverleaf và đầu óc ông. Thế rồi, ông thường nói nói, cười cười với bạn bè rất nhiều, một cách ầm ĩ đến nỗi đầu óc ông không còn cách nào để diễn các trò chơi của nó nữa. Nhưng ông không thể giữ vững được lâu, khi mà đầu óc ông thường phục kích ông trong giấc ngủ, khi mà ý chí ông không thể bảo vệ ông. Những giấc mơ, cực mạnh và vạm vỡ, đã áp đảo ông bằng vô số hình ảnh không đếm xuể, đã lắm lần diễn ra trước con mắt bên trong của ông hằng nhiều thế kỷ, trong khi Cloverleaf ý thức rõ rằng mình đang nằm bất lực, như một thứ đồ chơi, một vật thể đang phiêu dạt trong sương mờ.

 

Có lẽ tôi đang tạo nơi các bạn một ấn tương sai lệch về những cơn mơ mộng của Cloverleaf. Ai đã tạo dựng những trò biểu diễn hình ảnh này ? Chính ông ta ? Chính tâm hồn ông ? Đó là những gì ông đã tin tưởng ngay khi còn trẻ, và đó cũng là lý do tại sao ông  kháng cự lại mỗi khi ông đã có đủ. Về sau, có lần ông biết rõ ngay cả có chống đối dữ dội mấy đi nữa cũng không thể giải phóng ông khỏi những cơn mộng mơ lâu hơn một chốc. Ông bắt đầu ngờ vực phải chăng có một tâm hồn khác, một tinh thần khác đang chiếm hữu ông, đang dùng ông như một thứ đồ chơi của nó. Có lẽ đây chỉ là một ý tưởng thuộc ảo giác khác, chuyển dịch hơi xa khỏi thực tại hơn ý tưởng trước đó; bởi vì ảo giác này đi khá xa để trở thành hiện tượng siêu nhiên. Bạn sẽ hiểu một con người bị trí tưởng tượng của mình bắt làm nô lệ có thể tin tưởng những điều như thế một cách dễ dàng thế nào. Dù trong bất cứ trường hợp nào, Cloverleaf hầu như chắc chắn rằng đầu óc ông cũng chỉ là sân chơi cho các loại âm hồn tụ hội cùng nhau ở đó, thường chúng không để ý đến ông, mặc dầu thỉnh thoảng ông cũng có vẻ vui đùa với chúng.

 

Giờ đây, một kiểu lập dị khác trong vô số cách lập dị của ông là sự ưa thích quá mức đối với  những loại màu sắc, âm thanh và mùi vị  nào đó và đồng thời cũng hết sức ác cảm với những thứ khác. Tiếng ồn của xe cộ, hay giọng hát nam cao khiến ông cảm thấy như bị tra tấn, trong khi tiếng khóc trẻ thơ hay tiếng chó sủa lại là một thứ âm nhạc dịu êm đối với ông. Trong tất cả các màu sắc, ông hầu như rất gắn bó với màu xanh nhiều đến nỗi người ta không bao giờ thấy ông ăn mặc trong bất cứ màu nào khác ngoại trừ màu xanh nước biển – màu đồng phục của hải quân, hay màu sáng nhẹ hơn vào mùa đông và màu xanh da trời vào mùa hè. Cũng có một màu mà ông rất ghét, một màu mà nó truyền sự đau nhức ác liệt, đâm thủng qua đầu ông: màu xanh lá cây, với những sắc thái khác nhau của nó. Bạn có thể nghĩ rằng đây là một nét tính tình không tự nhiên, vì bản chất tự nhiên của ông là  thích ăn mặc toàn màu xanh lá cây, nhưng trong khi ông ngưỡng mộ màu của ngọn cỏ lá cây, ông lại bác bỏ nó ở bất cứ đâu khác trên thế gian này như là sự giả dối, nham hiểm và nguy hại. Ông thường nói màu xanh lá cây là màu của đố kỵ, màu của sự thù hằn, là tâm địa của loài quỉ dữ, và mỗi lần thấy ai đó ăn mặc màu xanh lá cây là ông liền ngoảnh mặt đi. Ông tin rằng thiên đường  phủ đầy màu sáng xanh da trời rực rỡ, trong khi địa ngục bị nung cháy bằng ngọn lửa màu xanh lá cây, tuôn ra những cột khói màu xanh lục. Hơi lạ một chút là rất nhiều người nghĩ Cloverleaf là con người của những sở thích kỳ quặc và những sự không ưa thích kỳ cục, và những ai hiểu về những mộng mơ hoang tưởng của ông thì thương hại ông, cho rằng ông đang nuôi dưỡng một tinh thần bệnh hoạn.

 

Và một ngày nọ, ông có một giấc mơ, một ảo tưởng, một chứng ảo giác, bất cứ tên gọi gì mà bạn có thể gán cho hiện tượng này, sau đó chính ông lại sợ rằng tâm hồn mình đã bị nhiễm độc.

Khi ông rời khỏi nhà, khoảng bốn giờ chiều Thứ Bảy hôm đó, ông vẫn còn trong trạng thái tỉnh thức. Vào cuối tháng sáu, tiết trời quá nóng bức và độ ẩm cao. Ông nhìn thấy ngay bên trên các mái nhà, một luồng ánh sáng màu xanh lá cây, loại ánh sáng mà bạn thường  thấy trước mỗi cơn bão, và ngay bên trên con lươn bằng gạch phân ranh đường phố, ông cũng phát hiện ám hiệu màu xanh lục trong bóng mát. Mùi không khí ông hít thở nhắc nhở ông đến mùi dưa ngâm giấm. Thường thì ông có thể chịu đựng mùi đó khá giỏi, nhưng lúc này nó khiến ông cảm thấy ghê tởm đến nỗi ông phải đi vòng sang các con phố khác. Trước khi ông đến vùng ven của thành phố, bầu trời đã trở nên bị che kín bởi những tia sáng vàng vọt khắp nơi. Một cảnh tượng kỳ lạ biết bao !  Cloverleaf tự nhủ, đang tưởng tượng rằng mình bị lạc đường. Rồi ông cảm thấy ớn lạnh vì kinh ngạc. Trên chiếc quần dài màu hoa oải hương của ông, từ đầu đến chân, và quanh chiếc áo vét màu xanh đậm, nhất là nơi hai ống tay áo, ông thấy những ngôi sao màu vàng và những bông hoa nhỏ xíu đang xoay tít cực nhanh. Ông muốn dùng tay  phủi sạch chúng nhưng chú ý thấy rằng cách này đã để lại những vết bẩn màu xanh lục giống như nước kênh đào. Điều này đã khiến ông rùng mình. Khi ngẩn nhìn lên, ông thấy một gã đánh xe ngựa đứng trước ông, trong chiếc áo khoác màu xanh lá cây, với bộ ria mép  màu xanh rêu, vẫy tay ra hiệu cho ông bước vào một cỗ xe màu xanh lục, tối om, đầy bụi bặm. Thật là một ý tưởng tồi, nhưng dầu vậy ông vẫn leo vào. Bên trong toát lên mùi lưu huỳnh, và ông chú ý thấy ông đang lao xuống một sườn đồi có dốc thẳng đứng. Chiếc xe ngựa bỗng dừng đột ngột và gã đánh xe lúc này trông có vẻ hơi khúm núm một chút, hiện ra lờ mờ bên ngoài cửa xe, ra lệnh cho ông ta hãy mau chạy trốn đi, vì ở đây sẽ rất nguy hiểm. Tôi biết, Cloverleaf nghĩ, ông như cảm thấy cổ họng mình đang bị bóp nghẹt. Ông chạy xuống sườn đồi, xuyên qua những lùm lau sậy dưới chân mềm, và ngay khi đang chạy, ông nhận biết là mình đang mơ. Thế rồi, ông nghĩ mình chả có gì phải sợ cả. Đây hẳn là do một tiểu yêu nào đó đang chơi trò ma mảnh hèn hạ. Ông dừng lại, và vì đầu ông đang trở nên nặng trĩu, tự đổ người xuống mấy bụi cây mà ông ngửi thấy mùi nước sơn như thể chúng vừa mới được vẽ. Chỗ ông ngồi vẫn còn trên sườn đồi, cây cối bên dưới với những tán lá hình tròn, có vẻ như được tráng men, đen ngòm nổi bật trên bầu trời. Từ bên phải và từ bên trái, nhiều người phụ nữ với mạng che mặt, đang trong nỗi hoảng loạn, chạy đến, ngồi xuống quanh ông, mặt vẫn còn che kín.

Ông ngắm kỹ từng người một và nghĩ rằng mỗi trong số họ đều đẹp, một thoáng nghĩ đã khiến ông tạm dừng quan sát, vì tất cả họ đều mang mạng che mặt, với đủ các loại sắc thái khác nhau của màu xanh lục mà ông đã từng thấy : màu xanh nước biển, màu xanh trong mờ, từ lợt đến đậm, và tất cả đều chuyển sang màu xanh đen, xanh màu đồng, màu lục bảo ngọc ( lục tươi), màu xanh cá thu, màu xanh cây vân sam, ông có thể nhìn kỹ tất cả tấm mạng che mặt và thấy những trái tim màu xanh lục. Mặc dầu ông biết tất cả họ không quá đẹp, nhưng ông cảm thấy như bị cuốn hút vào họ. Đang nhìn kỹ một người, ông nóng lòng muốn nhìn sang người khác, và ngay khi ông hướng sang người khác thì ông bị kéo trở lại người đầu. Đó là cách tình yêu bắt đầu, Cloverleaf nói với chính mình. Mình chưa bao giờ nghĩ mình sẽ có chút gì liên quan với tình yêu cả, và sẽ kinh ngạc biết bao nếu một tên tiểu quỉ xuẩn ngốc nào có thể làm thay đổi điều này. Phải chăng rốt cuộc rồi cơ hội của mình đã đến ?

Ông dang rộng đôi cánh tay, vừa khi kịp đứng dậy, định ôm choàng lấy một trong những bóng hình kiều diễm kia, thì nàng ấy đã đứng thẳng dậy, mạng che mặt tuột khỏi đầu, đôi mắt màu ma-la-sít mở to nhìn chăm chăm vào ông. Hai con rắn màu xanh lục trườn qua đôi vai nàng như hai bím tóc chấm vai. Miệng mở toát quát, giọng ào ào như sóng vỗ vào bờ đá. Đây là người đàn ông màu xanh lá cây. Gã đàn ông này đã đánh cắp tất cả màu xanh cây cỏ trên thế gian, tất cả màu của cây lá trong rừng, tất cả màu nước của đại dương để sử dụng cho riêng mình. Gã đã đánh chén tất cả ánh sáng mặt trời. Hãy nhìn xem gã lấp lánh như thế nào trong ánh hào vinh quang màu xanh lục của gã, một cây đại thụ trang sức bằng lông công. Chúng ta phải ngồi dưới bóng râm mát của gã hay sẽ trở nên xanh xao và tiều tuỵ.

“Thật đúng là, Cloverleaf nghĩ, mình đúng là những gì đáng ghê tởm”.

Tất cả những bóng người kia đã đứng dậy, trong mạng che mặt rung rung, chầm chậm bước thành vòng tròn quanh gã. Một ả cất tiếng nói, tiến gần đến gã, sụp xuống trước gã, đặt đôi bàn tay lên đầu gối gã. Tiếng gió thở dài xào xạc thổi quanh gã. Khi gã chìa đôi bàn tay ra cho ả, gã thấy chúng xanh màu ngọc lục bảo. Nó khiến gã tê cóng, chẳng dám đụng đến ả. Đang run rẩy vì sợ, gã cởi phăng áo choàng ra, xé toẹt hai ống tay áo sơ mi của gã. Đôi cánh tay trần của gã là màu của thân cây vươn cao lên trong bóng tối, với những vệt và những mảng màu xanh lục đã nhạt nhoà. Ngực của gã là vỏ cây sồi bao phủ bởi một lớp rong rêu dày đặc và lạnh giá. Gã thọc mạnh tay vào ngực, lôi quả tim của gã ra và thấy nó là một miếng đá cẩm thạch nặng, màu xanh lục. Gã trở nên giận dữ và ném tung nó ra xa, và nghe thấy nó rơi xuống với một tiếng nổ vang như sấm bên ngoài mấy hàng cây.

 

Vâng, Cloverleaf nói, đang ngồi tại nhà, đó là một giấc mơ rất tồi tệ. Nhưng tại sao tôi vẫn còn cảm thấy tôi vẫn là màu xanh lục bên trong ?

Đôi mắt màu ma-la-sít là không thực, tôi biết rằng – tôi không mất trí. Thế nhưng, không hiểu sao họ đã phát hiện thấy bên trong tôi; tâm hồn của họ đã chốt chặt trong tâm hồn tôi. Một trò chơi hay một sự báo thù đây ? Phải chăng tôi vẫn đang thực sự ở trong trạng thái tỉnh trí ? Ai có thể cho tôi biết điều này ? Nếu tôi đến một nhà tâm lý học, ông ta sẽ hỏi tôi một ngàn câu hỏi, và ngay cả lúc ấy, ông ta sẽ không biết. Có lẽ ông ta sẽ giải thích rằng chẳng qua đó chỉ là một giấc mơ và khuyên tôi không nên để nó làm tôi lo lắng. Và nếu tôi nói lúc này tôi vẫn cảm thấy đôi mắt màu xanh lục ấy vẫn còn hiện hữu bên trong tôi, ông ta sẽ nói đừng để trí tưởng tượng tuột mất khỏi tôi. Và vân vân và vân vân. Và trong khi đó, tôi vẫn không thể tiếp cận hơn với sự thật. Nhưng có lẽ tôi sẽ tìm thấy nó trong trí tưởng tượng, và ắt hẳn nó phải là màu xanh.



 

 

 

 

 

 

 4NHỮNG NGƯỜI TRẺ TUỔI PHI THƯỜNG

 

                                                                              Nescio

 

Chúng tôi là một lũ nhóc, nhưng là những nhóc tì ngoan hiền. Nếu tôi có thể nói như vậy với chính mình. Hiện tại chúng tôi thông minh hơn nhiều. Quá thông minh; quá thống thiết. Trừ thằng Bavink, lúc nào cũng dễ trở nên điên tiết ra, liệu còn có bất cứ thứ gì mà chúng tôi đã không muốn sắp đặt lại cho ngăn nắp không ? Chúng tôi muốn chứng tỏ cho mọi người thấy nó nên như thế nào. “Chúng tôi” nghĩa là năm đứa chúng tôi, còn mọi người khác là “họ”, những người đã không hiểu nó, không chấp nhận .  “Cái gì ?” Bavink nói. “Thượng Đế ?”  Các bạn muốn thảo luận về Thượng Đế? Sự chỉ trích sôi nổi của họ chính là Thượng Đế của họ. Không gì khác hơn là một ít “ những người tử tế”, chúng tôi khinh chê họ, và một cách kín đáo, tôi vẫn còn nghĩ là chúng tôi đúng. Nhưng tôi chưa có thể nói hoạch toẹt điều đó ra cho mọi người biết. Tôi không phải là một vị anh hùng. Bạn không bao giờ thấy ai là người bạn cần sau này. Hoyer cũng nghĩ bạn không nên xúc phạm bất cứ ai. Cũng chẳng có ai từng thấy, hay nghe nói về Bekker nữa. Và Kees  Ploeger thảo luận về  những kẻ vô tích sự, những người mà đã đẩy đưa anh ta vào con đường lầm lỗi.

 

Nhưng trở lại hồi ấy, vào những ngày quá điên rồ với chúng tôi. Chúng tôi là những người được Đức Chúa lựa chọn, chúng tôi là Thượng Đế của chính người. Giờ đây chúng tôi đã trở nên có lý lẽ, lại trừ thằng Bavink nữa, chúng tôi nhìn nhau, mỉm cười và nói thẳng với Hoyer, “Tất cả chúng mình đã được chọn vì cái gì?” Nhưng Hoyer không thấy vì cách đó mà nó là người mất chính nghĩa, nó đã trở thành kẻ có thế lực thuộc Đảng Công Nhân Dân Chủ Xã Hội, và tất cả những gì hắn làm là chỉ biết giơ tay đồng ý hay nhún vai để biểu lộ sự nghi ngờ.

Chúng tôi chưa bao giờ rõ ràng về những gì chúng tôi sắp làm một cách chính xác,  nhưng chúng tôi sẽ phải làm một cái gì đó. Bekker đã có một ý tưởng mơ hồ nào đó về việc cho nổ tung tất cả các văn phòng làm việc, Ploeger muốn bắt xếp của nó bấm đồng hồ và đứng đó nhìn nó miệng ngậm xì gà, chửi thề những kẻ không bao giờ làm một cái gì đó chính nghĩa. Tất cả chúng tôi đều  nhất trí rằng chúng tôi phải “thoát thân”. Thoát ra khỏi cái gì, bằng cách nào? Sự thật là chúng tôi chẳng làm thứ gì cả ngoại trừ tranh cãi, hút thuốc, uống rượu và đọc sách. Còn Bavink thì đi ra ngoài với Lien. Nhìn lại thời gian qua, tôi nghĩ chúng tôi là một nhóm người trẻ tuổi cao thượng, chúng tôi xứng đáng có được số tài sản lớn, nhưng lại khinh chê việc “có quá nhiều tiền bạc” Hoyer là đứa duy nhất đã bất đầu suy nghĩ hơi khác biệt một chút về việc này một thời gian khá lâu trước đó. Bavink không hiểu tại sao một số người đi trên những cỗ xe ngựa bất cứ lúc nào họ muốn và ăn mặc y phục sang trọng và truyền lệnh cho những người chung quanh, những người không có tiếng nói gì trong chính phủ hơn họ. Vào những ngày ấy chưa có xe hơi.

 

Chúng tôi đã trải qua những đêm mùa hè, đứng tựa vào hàng rào chung quanh Oosterpark để thảo luận, thảo luận. Giá mà chúng tôi nắm rõ tất cả thì rất có thể chúng tôi đã kiếm đủ tiền để trang trải một loạt phòng ở. Ngày nay người ta viết quá nhiều. Nhiều lúc chúng tôi ít tán gẫu hơn. Chúng tôi ngồi trên lề đường cho đến quá nửa đêm, ngay trên đường phố, và buồn bã ngắm nhìn những đống gạch, rồi từ các đống gạch ngắm nhìn lên các vì sao trên trời. Bekker nói thực ra nó cảm thấy tội nghiệp cho xếp của nó, và cố gắng sáng tác một bài thơ, Hoyer nói nó phải đứng dậy vì hơi lạnh từ lề đường lát đá vôi xanh đang thấm vào người nó. Và khi, ngay trong đêm ngắn ngủi và rất dễ chịu đó, bóng tối dần dần trở nên vàng vọt trên đầu chúng tôi, Bavink ngồi bó gối và nói một cách đầy đa cảm về mặt trời, và chúng tôi nghĩ thật đáng xấu hổ khi phải bỏ đi ngủ, người ta có thể thức qua đêm kia mà. Đó là một trong những điều mà chúng tôi sẽ thay đổi. Kees thì đã buồn ngủ lắm rồi.

Và rồi chúng tôi kéo nhau đến  Zuiderzee để ngắm mặt trời mọc, ngoại trừ Kees, nó muốn về nhà. Hoyer phàn nàn về cái lạnh, nhưng Bavink và Bekker đã không để ý.

Họ ngồi trên những tản đá dọc bờ đê, mắt lim dim nhìn xuyên qua hai hàng lông mi đến những tia nắng màu vàng hình mũi tên nhỏ xíu do mặt trời toả xuống đang nhảy múa trên mặt nước. Cảnh tượng khiến Bavink phát điên lên; anh muốn chạy băng qua những vệt dài lấp lánh trên đường đến mặt trời. Nhưng rốt cục anh đã dừng lại ở bờ nước, rồi đứng lại ở đó. Tôi còn nhớ một hôm khi chúng tôi, Bavink và tôi, đi đến bờ biển và một nửa mặt trời to lớn, lạnh giá và đỏ ói hiện lên ở đường chân trời. Bavink nện một nắm đấm thật mạnh vào trán và nói, “Trời ạ, tôi sẽ không bao giờ vẽ cảnh tượng đó. Tôi sẽ không bao giờ có thể vẽ cảnh tượng đó.” Giờ thì cậu ấy ở trong bệnh viện tâm thần rồi. Khi chúng tôi trở về từ zuiderzee, chúng tôi không còn có thể thấy bất cứ thứ gì ngoại trừ những chấm lấm tấm màu vàng. Mấy xếp của chúng tôi không thích những chuyến ra ngoài qua đêm như thế này của chúng tôi chút nào. Tôi đã ngủ gục ở văn phòng sau đó, còn Bekker thì có thể xử lý công việc tốt hơn tôi rất nhiều. Cậu ta ngồi tại bàn giấy, mộng mơ về mặt trời cả ngày, và nhìn những ngọn cây được chiếu sáng ở góc xa của khu vườn hơn thường lệ và cực kỳ mong mỏi cho mau đến sáu giờ hơn bao giờ hết. 

Chúng tôi cũng rất thích những chuyến đi dã ngoại sau ngày làm việc để đến vòng đai của những bờ đê bao quanh thành phố. Chúng tôi ngồi xuống bãi cỏ ven đê, giữa những cây mao lương hoa vàng và những chú bò tọc mạch đến sát chỗ chúng tôi, chúng dương to đôi mắt nhìn chúng tôi và chúng tôi nhìn chúng. Và rồi thật có thể dám cá ăn chắc là lúc này Bavink đang sánh vai cùng với Lien.

Cách này hay cách khác nào đó những cặp mắt bò kia ắt hẳn đã có cái gì đó liên quan với chúng tôi. Và rồi ánh nắng chiều bắt đầu lung linh trên ngọn cỏ, ếch nhái bắt đầu kêu vang. Một con ếch bự gây một tiếng ồn khủng khiếp ngay sát bên giày tôi, một bàn chân tôi hầu như ở trong rãnh nước. Bạn có thể nghe từ phía xa xa tiếng ếch nhái ít inh tai hơn. Con bò ở trong bóng tối nhá nhem khó mà có thể thấy rõ, bạn chỉ còn có thể nghe tiếng bò gặm cỏ. Một con bắt đầu rống lên một cách tội nghiệp từ xa. Một con ngựa chạy tới chạy lui nhưng bạn chỉ có thể nghe chứ không thấy rõ. Chú bò gần chỗ chúng tôi đã thở phì phì và bắt đầu có vẻ sốt ruột. Bekker nói:”Thật tuyệt khi ở đây. Giá mà cứ giữ như thế này mãi.” Bavink đứng dậy dang hai tay ra và lắng nghe, rồi lại ngồi xuống và nói rằng chúng tôi không bao giờ có được như thế này nữa, và sẽ chẳng bao giờ. Chính cậu ta đã không có được nó, và thực sự chúng tôi cũng không khá gì hơn mọi người khác, và tôi nghĩ có lẽ cậu ta gần như đúng về điều đó.

Không, thực ra chúng tôi đã không làm bất cứ thứ gì. Chúng tôi làm công việc của chúng tôi ở văn phòng chưa hẳn là tốt tất cả, đối với các ông chủ mà chúng tôi khinh thường – trừ Bavink và Hover, hai đứa nó không có xếp, và hai đứa đã không hiểu tại sao chúng tôi lại đến văn phòng mỗi ngày để gặp các xếp.

 

Nhưng chúng tôi đang chờ. Chờ cái gì ? Chúng tôi chưa bao giờ biết. Bekker nói: “Chờ Vương Quốc của Thượng Đế”. Ít nhất đó là những gì có lần nó đã nói nhưng không giải thích gì thêm. Bavink luôn luôn thảo luận về  “chỗ kết thúc mà cũng là nơi bắt đầu mới”. Chúng tôi biết chính xác những gì hắn muốn nói và đã chẳng nói gì thêm về nó.

 

                                                        2

 

                                               

Mùa hè năm đó chúng tôi gần như gặp nhau mỗi tối ở gác xép trên sân thượng nhà của Kees . Kees đã quyết định anh cần có một “nơi” lớn nhất, dễ đến nhất đối với chúng tôi. Những người láng giềng không muốn chúng tôi lên xuống cầu thang mỗi đêm. Thân phụ của Kees không có ý kiến gì về toàn bộ sự việc của chúng tôi. Hiện nay ông đón tiếp tôi một cách lịch sự và gọi tôi là “Ngài Koekebakker” vì ông có thấy tên tôi trên tờ Handelsblad.

Bekker bảo Kees cách trang trí nơi đó như thế nào. Họ mua loại giấy dán tường với đủ các loại mẫu hoa, giá ba xu một cuộn, rồi bôi hồ dán ngược lên tường để mặt sau màu xanh trơn hướng ra ngoài. Bekker viết một câu ngạn ngữ bằng lối thi pháp rồi treo lên tường kế bên cửa ra vào: “J’ai attendu le Seigneur avec une grande patience , enfin il s’est  abaisse jusqu’a moi,”

Tôi không biết anh ta lấy câu này từ đâu. Kees không thể đọc nó, nhưng anh đã đóng góp một cái gì đó, anh làm một cái xẻng rồi xoay sở để gắn vào tường chỉa vào câu ngạn ngữ. Lúc đầu chẳng ai biết nó được cho là có ý nghĩa gì nhưng sau này hoá ra là Bekker muốn một ngày nào đó đến sống trên một vùng đất hoang, dọn một miếng đất canh tác, và chẳng bao giờ phải trở lại văn phòng nữa. Bavink nghĩ đó là một ý kiến hay nhưng sợ Lien không đồng ý, còn Hoyer lại thích la cà đến các quán rượu hơn.

Thế rồi chúng tôi ngồi xuống đó và xé tất cả mọi thứ ra thành từng mảnh nhỏ. Không, gần như mọi thứ. Tôi nhớ lại Zola và Jaap Maris đã thoát thân mà không bị xây xác gì cả, có lẽ còn có một hay hai người khác nữa. Bekker đọc cho chúng tôi nghe về Dante, hắn thuộc lòng những sách trong Cựu Ước “Đời Là Hư Ảo”, sách về  Những Nhà Thông Thái, Book of Job. Thật vô cùng ấn tượng. Không có gì nhiều từ thế giới bên ngoài được đưa vào căn gác xép của Kees. Một cửa sổ duy nhất cao từ sàn nhà lên tới vai; vì vậy khi bạn ngồi tại bàn, bạn không thể thấy  gì nhiều hơn là một mảnh bầu trời, đang biến dần màu sắc  ra khỏi nó, và một ít vì sao bắt đầu xuất hiện khi bên ngoài trời tối.

 

Vẽ ? Hiện nay có ai còn biết thế nào là vẽ tranh không, có ai còn biết lắng nghe Bavink nói về hội hoạ không ! Ngày nay, bạn có thể đánh lừa để tống bất cứ thứ gì cho người khác, đúng là bất cứ thứ gì. Tôi có thể vẽ chân dung của chính tôi – anh ta đang nói về tôi, Koekebakker. Anh ta thường bảo tôi những gì phải làm. “ Hãy vẽ hai sọc ngang, một ở tên đỉnh của sọc kia, có cùng chiều rộng, một sọc màu xanh và một màu vàng, rồi đặt một miếng nhỏ hình tròn màu vàng ở giữa sọc màu xanh. Chúng tôi: viết lên danh mục # 666: Tư Tưởng, tranh sơn dầu. Và chúng tôi đã nộp tranh đề tên tôi: Johannes Bavink, ngày 2 tháng giêng, Steenstraat, số, vân vân và vân vân,  và chúng tôi ghi giá tiền là tám trăm guilder. Và rồi bạn có thể  ngồi ngã người ra phía sau để xem mọi chuyện mà chúng tạo ra. Người ta sẽ phát hiện mọi thứ trong đó, cho rằng bạn chẳng có một ý tưởng đáng kể nào.

Hồi ấy Bavink còn rất trẻ, Sau đó, thỉnh thoảng Lien cũng có đến, làm chút ít việc lặt vặt như pha trà, lau sàn nhà, quét bụi bàn ghế, nhưng việc này thực ra chẳng mấy thú vị. Nó khiến cho Kees khó xử mỗi khi cô xuất hiện bởi vì người bạn cũ của anh nhất định đã nghi ngờ về thiếu phụ trẻ tuổi này, và Bavink không bao giờ đủ tư cách để chúng tôi mến mỗi khi có Lien bên cạnh. Hắn ta luôn luôn nắm chặt tay cô hay véo cô một cái. Điều này thật đáng bực mình. Cũng may là hắn bắt đầu để cô ta ở nhà sau đó không lâu, bởi vì hắn nghĩ cô ta đang để mắt đến tôi. Bekker nói: “Gái gú. Thật không đáng mất thời gian vì họ đâu,” và rít một hơi dài chiếc ống điếu làm bằng đất sét với sự thoả mãn đặt biệt khi lần đầu tiên cô ta không đến. Và đêm đó là một đêm thật sự tuyệt vời. Chúng tôi ngồi hằng giờ trong bóng tối. Ngọn đèn dầu mỗi lúc một yếu hơn rồi tắt hẳn. Chúng tôi chỉ ở đó, ngồi hút thuốc lá hằng nhiều tiếng đồng hồ. Thỉnh thoảng mới có một người nào đó nói về một cái gì đó. Bavink quyết định rằng hội hoạ là ngành ít tiếng nói nhất trong chính phủ mà bất cứ ai có thể theo đuổi. Như thường lệ, Kees không hiểu mô tê gì ráo. “Mày chỉ ngồi yên lặng và giữ như thế đó được rồi”, Bavink nói, vừa nhìn lên bầu trời. Một ngôi sao lớn màu xanh lá cây nhạt đang nhấp nháy. “ Mày chỉ phải ngồi yên lặng và giữ như thế đó và mong ước với tất cả năng lực của mày, không cần biết cái đó để làm gì.” Hắn nhét vào ống điếu một mẫu thuốc mới. 

 

                                                      3

Thật là một quãng thời gian rát kỳ lạ. Và mỗi khi tôi nghĩ về nó tôi nhận ra rằng thời gian hẳn vẫn còn diễn ra lúc này, nó sẽ kéo dài đến chừng nào mà có những thằng thanh niên tuổi mười chín, hai mươi dong ruổi khắp nơi. Đối với chúng tôi đó là khoảng thời gian dài nhất kể từ quá khứ. Chúng tôi đã ở trên đỉnh của thế giới và thế giới ở trên đầu chúng tôi, đè nặng lên chúng tôi. Thật xa bên dưới chúng tôi, chúng tôi thấy thế giới đầy ắp những hoạt động và những ngành nghề, và chúng tôi khinh thường những người đó, nhất là các quí ngài quan trọng, những người luôn luôn bận rộn và chắc chắn họ đã đi khá xa  trên thế giới.

Nhưng chúng tôi quá nghèo, Bekker và tôi đã phải bỏ ra phần lớn thời gian ở văn phòng và làm bất cứ thứ gì mà các quí ông nói, và lắng nghe những ý kiến kỳ cục khi họ thảo luận với nhau, và phải chịu đựng với sự kiện rằng họ nghĩ họ thông minh và có khả năng hơn chúng tôi nhiều. Và khi họ nghĩ lúc ấy trời quá lạnh, mọi cửa sổ đều đóng kín, và vào mùa đông ánh sáng phải đến rất sớm, các rèm cửa phải được kéo kín mít để chúng tôi không thể thấy bầu trời ửng đỏ lúc mờ sáng ngoài đường phố và không được nói năng gì. 

Và chúng tôi phải sống tại các con phố chật hẹp với quang cảnh nhìn ra đường phố qua bức rèm cửa bằng vải dính đầy dầu mỡ, và ven rìa được kết tua, rải rắc với cây tỏi rừng không thể có hoa trên đầu.

Ồ, chúng tôi  đã trả thù, chúng tôi học những thứ ngôn ngữ mà họ thậm chí chưa bao giờ nghe đến và chúng tôi đọc những sách mà họ thậm chí không thể nào hiểu, chúng tôi đã trải nghiệm những cảm xúc mà họ không bao giờ biết có tồn tại. Những ngày Chủ nhật chúng tôi đi bộ hằng nhiều tiếng đồng hồ trên các lối đi nơi mà họ không bao giờ đến, lúc ở văn phòng chúng tôi lại nghĩ về  những con kênh đào và những thảo nguyên  chúng tôi đã từng đến và trong khi họ ra lệnh cho chúng tôi làm những điều mà chúng tôi chả thấy có mục đích gì. Chúng tôi nghĩ về cảnh mặt trời lặn như thế nào đằng sau Abcoude vào tối Chủ nhật. Và chúng tôi đã nghĩ như thế nào về đường lối của chúng tôi xuyên khắp vũ trụ; mà không ai nói ra lời, và Thượng Đế đã được nhồi nhét vào đầu, vào tim, vào xương tuỷ chúng tôi như thế nào, và họ trông có vẻ hoàn toàn giận dữ đến phát khùng như thế nào khi chúng tôi bảo với họ về điều đó. Và, bằng tất cả tiền bạc cũng như những chuyến đi xa đến Thuỵ Sĩ, đến Ý, và đến nơi nào khác chỉ có Thượng Đế biết, và bằng tất cả việc làm thông minh, vất vả của họ, họ không bao giờ có thể cảm nhận những điều đó như thế nào.

 

Tuy vậy, họ có chúng tôi bằng quyền lực của họ. Họ tịch thu phần lớn thời gian của chúng tôi, họ giữ chúng tôi  khỏi ánh nắng mặt trời, khỏi những thảo nguyên xanh mát và những bãi biển tuyệt vời. Họ thường xuyên buộc chúng tôi  nhét đầy tư tưởng của chúng tôi bằng những công việc không thể nào hiểu nổi. Họ mắng nhiếc  chúng tôi; ở văn phòng, chúng tôi hoàn toàn chẳng có nghĩa lý gì. “À, Bakker ,” họ nói với nhau. Các quí ông được giáo dục tốt; người phụ nữ trên tầng ba nói, “ Thằng ngốc có đầu óc thỏ đế”, nhưng  các quí ông này thì quá được giáo dục tốt  cho điều đó. Và họ thông minh , lanh lợi hơn người phụ nữ trên tầng hai rất nhiều, chồng người này làm nghề thắp đèn dầu, một việc làm tốt mà không cần học vấn cao. Xếp tôi hỏi liệu tôi có thể làm thơ không. Bekker nghĩ rằng một người như thế  không đủ tư cách thốt ra từ thi ca và không được phép nói đến thi ca “Cậu đã nói gì với hắn?” “Tớ không nói bất cứ thứ gì, tớ chỉ nhìn thẳng vào mặt hắn và chỉ thấy hắn có cái sọ đầu dày đặc và nghĩ: Hắn không biết người đang đứng trước mặt hắn là ai. Hắn chẳng có đầu óc gì đâu. Và các ngài đó đã trả lương cho chúng rất tệ. 

 

                                                  4

 

Và chúng tôi đã yêu đương. Hằng nhiều tháng trời, Bekker đã rảo bước dọc theo Sarphatistraat mỗi sáng sớm. Hắn đã yêu một cô nữ sinh đâu khoảng mười bảy, mười tám tuổi gì đó. Hắn theo sau cô khoảng năm mươi bước, hay thả bộ bên kia đường để ngắm nhìn cô mỗi khi tan trường. Hắn chẳng bao giờ biết tên nàng, chẳng nói với nàng một lời. Qua kỳ nghỉ Giáng sinh rồi mà hắn không mấy vui vẻ. Một hôm vào Tháng Hai, hắn mất cả một buổi chiều đứng chờ nàng ở bên ngoài lúc tan trường. Hắn đứng đó, trên đường phố yên tĩnh bên bờ một con kênh đào, dưới mưa tuyết. Một người đàn ông mặc áo khoác màu xanh biển, đội mũ rơm,! cỡi con bạch mã. Thật kỳ quặc làm sao ! Chính xác vào đúng buổi chiều hôm đó, hắn đã chứng kiến một cái gì đó thật quá lố bịch. Nhưng Bekker đã bỏ đi lúc bốn giờ kém năm phút, không dám đứng nhìn cảnh tượng đó. Hắn bước đi chầm chậm, và rồi nàng bắt gặp hắn ở trên đương Weteringschans, lúc ấy nàng đang nói cười vui vẻ với một người bạn, một cô gái khác. Tôi không nghĩ là cô ta đã từng biết Bekker để ý cô. 

Bekker muốn tôi cho cậu ta biết là việc này sẽ đi đến đâu, không thể tiếp tục như thế này được. Và rồi nó đã không tiến triển cũng không tiếp tục. Sau kỳ nghỉ hè cô ta không còn trở lại.

“”Bọn con gái!” Bekker nói, “Họ không đáng được quan tâm …. Nàng như có một lò xo trong bước chân mỗi khi nàng đi bộ”. Hắn vặn đèn lớn hơn một chút rồi lật trang sách đang đọc. “Cậu có nghĩ là nàng hiện giờ đang ở đâu không ? Cậu có nghĩ là nàng đã hôn ai chưa ?” Một tàn lửa nhỏ từ ống điếu rơi xuống trang sách. Hắn dập tắt nó bằng hộp diêm. “ Chết tiệc, một lỗ, thật ngớ ngẩn. 

“ Thật tốt hơn nếu cứ theo cách này. Đàn bà con gái không đáng để quan tâm. Họ chẳng đưa bạn đến đâu cả, chỉ tổ làm bạn phân tâm mà thôi. Họ chỉ đẹp khi nhìn từ xa, để làm thơ ca ngợi họ”.

Hắn đã đọc. Sau khi tạm dừng một lát, hắn ngước nhìn lên trở lại …”Cậu biết điều kỳ lạ là gì không ? Chiều hôm đó, khi nàng bắt gặp mình, nàng đi qua mặt mình, ngay sát bên mình, nàng chỉ vừa nhớ ra mình, Chẳng có gì, có thể nói, chia cách chúng tôi, chỉ một lớp y phục trên người nàng, và gần như chẳng có gì trên người tôi,” ( Bekker dong ruổi suốt mùa hè và mùa đông chỉ với chiếc áo sơ mi khoác ngoài tấm ngực trần của anh.) “ Chẳng có gì nhiều, cậu biết không ?”  Tôi nói thật chẳng có gì nhiều – có sự khác biệt nhiều hơn giữa tháp Naarden  và căn phòng của Bekker, chẳng hạn, “Giữa tháp Naarden với bộ ria mép này,” Bekker nói, “ ít hơn nhiều, ít hơn rất nhiều giữa vai của nàng và vai của tôi hôm đó. Không có sự so sánh ở đây, Koekebakker ạ !” Anh ta lật sang trang, nhìn vào ánh đèn và nói, “Đó mới là như thế nào,” rồi tiếp tục đọc.

 

                                                         5

 

Và nó là như thế: Thượnh Đế đã chỉ khuôn mặt của hắn rồi lại dấu kín trở lại. Câu chẳng bao giờ đi đến đâu, nhất là nếu cậu cứ nhìn các cô gái từ đằng xa và để  những người đàn ông khác hôn các khuôn mặt xinh đẹp của các cô. Họ, các quí ông quan trọng, như một qui luật, thích cái tổng thể nhiều hơn chúng ta. Họ đáng kính trọng hơn chúng ta và ăn nói cũng hay hơn chúng ta nhiều. Và họ coi chúng ta chỉ là những kẻ ăn bám.

Chẳng có gì để hy vọng từ Thượng Đế - người chỉ đi theo con đường riêng của người và chẳng đưa ra một lời giải thích nào. Nếu có cái gì đó ta mong muốn, ta phải tự chăm sóc lấy nó. Nhưng chúng ta nhận biết rằng thật dễ dàng đối với Bavink và Hoyer để có thể nói, cả hai có tài, và cả hai người thực sự có thể đạt được bất cứ thứ gì trên đời, nhưng chúng tôi – Bekker, Kees và tôi – sự khác biệt duy nhất mà chúng tôi có thể tạo được là như những nhà xã hội chủ nghĩa, và dường như rất yếu thế. Sau khi ngồi tại bàn của Thượng Đế, ghi địa chỉ các phong bì hay tham gia vào Hiệp Hội Khu Láng Giềng Kastanjeplein. Và chẳng có gì mới mẻ với cuộc sống ở vùng đất hoang.vì  ngay cả khi Bekker có được chút ít tiền thì giày anh ta cần được sửa. Có lẽ chúng tôi gia nhập vào công xã của Van Eeden, nhưng, vào một ngày Chủ Nhật, khi chúng tôi cuốc bộ bốn tiếng đồng hồ đến Bussum, chúng tôi thấy một quí ông trong chiếc áo khoác nông dân, mang giày màu vàng đắt tiền, không đội mũ, đang tản bộ, vừa ăn bánh xốp trong túi giấy, với những mảnh vụn bánh rơi bám trên hàm râu quai nón, rất phù hợp với bản chất bên trong của người ấy như người ta thường nói vào thời ấy. Chúng tôi không thể đi tiếp, chúng tôi phải quay đầu lại ngay để đi bộ về lại Amsterdam, đi hàng một dọc theo kênh đào Naardern, vừa đi vừa hát. Cô gái nông trang nói với cậu trai nông trại, “ Không có bất cứ thứ gì về nó trên báo, đó không phải là nó hay sao. Bạn biết gì về nó không ?”

 

              

                                                      6

 

Vậy là chúng tôi không làm bất cứ thứ gì. Không, thực ra , đó là khi Bekker làm bài thơ đầu tiên của nó. Tôi còn nhớ rất rõ về nó. Đó là vào một ngày Chủ nhật, dĩ nhiên, vì bất cứ khi nào có chuyện gì xảy ra  cũng là vào ngày Chủ nhật. Sáu ngày khác trong tuần chúng tôi  phải kéo lê chuỗi công việc của chúng tôi từ chín giờ sáng đến sáu giờ chiều.

Tôi ra ngoài tìm một việc làm ở Hillegom, một việc làm với một nhà buôn bán bóng đèn có đôi gò má phính, đỏ ửng, mày râu nhẵn nhụi. Mấy người khác đã quyết định ngay rằng phải hưởng cho trọn một ngày vui. Bavink, Hoyer và Bekker tất cả đã nói nhiều lần rằng họ phải đến  Viện Bảo Tàng Đồ Cổ ở Leiden, trọn một ngày, Kees cũng phải đi nữa, Cậu ta làm bất cứ thứ gì người khác làm. Tôi sẽ gặp họ ở Leiden.

Đó là một ngày vào Tháng Mười Hai, tôi đứng ở đằnlyrtg sau xe điện, đứng suốt cả đoạn đường. Xe chạy xuyên qua vùng thôn quê, hết dừng rồi lại khởi hành, phải mất mấy tiếng đồng hồ, miền nông thôn thì vô tận. Bầu trời mỗi lúc một xanh hơn, và mặt trời chiếu sáng. Những mái nhà ngói đỏ trong làng, hàng cây, cánh đồng, đa số nhà lợp bằng rơm rạ, trông xinh xắn và ấm áp, và những đống rơm đầu trần đứng dưới ánh nắng mặt trời. Con đường quê yên nằm, trắng bóng và râm mát. Nó không thể chịu đự.

ng ánh nắng chói chang của mặt trời và những tấm kiếng phản chiếu ánh sáng của đèn đường bật sáng, và thật phiền toái khi phải chịu đựng ánh đèn pha chiếu sáng nữa. Nhưng tôi cảm thấy mỗi lúc một lạnh hơn, xe điện chạy lâu bằng ánh mặt trời chiếu sáng. Chuyến xe chạy từ Hillegom đến Leiden khá xa, mà ngày vào tháng Mười Hai thì ngắn. Cuối cùng, một tảng băng to tướng sừng sững trước đầu xe, chăm chăm nhìn vào ông mặt trời to tướng, ngốc nghếch đang đốt cháy đỏ rực, như thể cuối cùng rồi một cuộc cách mạng cũng đang bắt đầu, như thể các văn phòng đang bị cho nổ tung khắp thành phố thủ đô Amsterdam, nhưng nó vẫn chưa có thể mang lại tia sáng của sự sống cho đôi bàn chân tê cóng, đôi chân cứng đờ của tôi. Và nó vẫn tiếp tục trở nên lớn hơn, lạnh hơn, ông mặt trời và tôi trở nên lạnh hơn và vẫn giữ nguyên kích cỡ giống nhau. Bầu trời cao xanh bên trên nhìn xuống một cách không mấy tán thành: Các người đang làm cái quái gì trên chiếc xe điện đó. Bekker đã sáng tác bài thơ đầu tiên vào buổi chiều hôm đó. Khi tôi đến Leiden, người ta đang thắp sáng đèn đường bằng ga, tôi phát hiện ba chàng “những người bất tử” ngồi thành hàng trên chiếc băng dài trong phòng đợi hạng ba tại ga xe lửa, gần lò sưởi. Đến lượt tôi phải bị tra tấn bởi bài thơ. Nó rất hay. Vô đề ? Bekker lắt đầu. Nhưng Bavink và Hoyer hét lớn lên rằng họ thấy một cái gì đó được viết trên đầu bài thơ. Một người đàn ông ăn mặc sang trọng nói với một người đàn ông khác “đồ thô lỗ” khi ông này bấm vé tàu của ông ta vào cánh cửa. Bavink giật tờ báo ra khỏi tay Bekker. Người ta viết gì trên đó vậy ? Có phải là một câu hỏi ? “Cho nàng?” Chỉ là những gì tôi thường  phỏng đoán thôi.

Bavink nghĩ lò sưởi cần thêm than nhưng anh không thể tìm thấy cái xúc. Họ luôn luôn mang cái đồ xúc ra khỏi phòng đợi, nếu không, công chúng sẽ sử dụng quá nhiều than. Vì vậy Bavink đã quăng những cục than vào lò sưởi bằng đôi bàn tay trần và tham gia cuộc tranh luận với một gã mặc áo choàng màu trắng.

Đêm đó thật là thú vị. Kees và Hoyer ngủ gục trên tàu. Bavink tán tỉnh một cô gái từ The Hague và hít mùi hương hoa vòi voi toả ra từ thân hình nhỏ nhắn dễ thương của cô ta.

Rồi Bekker bắt đầu nói về vùng đất khai hoang nữa, rằng anh đã muốn sống thanh nhàn như thế nào ở đó và chờ xem Thượng Đế đã vạch định những gì. Và không phải làm bất cứ thứ gì. Anh ta trầm ngâm buồn bã. Tôi phản đối việc sống ở vùng đất khai hoang đó. Ở đó quá khô hạn. Tôi hỏi Bekker chính xác là anh dự định làm gì để sống ở đó. Công nhân văn phòng thì không thể làm tốt công việc đồng áng được, ngoại trừ ở Mỹ ( chúng tôi tin tưởng tất cả những kiểu nói láo về Châu Mỹ). Nhưng anh ta không lo lắng về việc này. Anh không có nhu cầu về bất cứ thứ gì. 

Giờ thì anh ta đã sáng mắt ra rồi. Chỉ có Thượng Đế mới không cần bất cứ thứ gì. Đây rõ ràng là một sự khác biệt nền tảng  giữa Thượng Đế và chúng tôi.

Thế là cuộc sống ở vùng đất khai hoang đã chẳng đi tới đâu.

 

                                            7

 

Bốn đứa chúng tôi ngồi trên bãi cát trắng mịn, dưới chân những cồn cát ở Zandvoort ,và nhìn ra đại dương bao la. Kees không có mặt hôm đó. Đó là một ngày vào cuối tháng Bảy. Mặt trời vẫn còn cao bên trên mặt đại dương, lúc bảy giờ, và mặt trời lại khiến cho tôi không thể đừng được, chính Thượng Đế, người vẫn tiếp tục lập đi lập lại, một lần nữa mặt trời tạo ra  một vệt dài màu vàng trên mặt nước và chiếu thẳng vào mặt chúng tôi. Một chiếc tàu kéo đang phụt khói ở chân trời. Nó nhấp nhô trên sóng, khi nó lặn khuất xuống chúng tôi chỉ thấy cột ống khói.

Bekker sẽ đi Đức vào ngày hôm sau. Kiến thức ngôn ngữ của cậu ta đã giúp cậu kiếm được một chỗ làm như một thư ký trong một nhà máy, xử lý mọi giấy tờ, thư từ nước ngoài. Hoyer thì đi nghỉ ở Paris để vẽ tranh. Bekker, nói riêng, lại đang bị trầm cảm nặng trở lại. Anh ta ước chi mình đã không bao giờ nhận chỗ làm đó. Anh không hiểu tại sao đã làm việc ấy. Anh đã có mặt ở  một tỉnh lỵ có nhà máy tồi tàn ấy hai tiếng đồng hồ để dự phỏng vấn, và rồi bị ốm, nhớ nhà. Anh đã trốn chạy ra ga xe lửa càng nhanh càng tốt. Tàu còn đậu ở sân ga, anh chạy thẳng đến chỗ thanh chắn, vượt qua, để về lại Amsterdam. Anh đã mua vé, trên vé in rõ: đến Amsterdam. Thế rồi tàu rời ga đúng giờ, đưa anh về nhà dọc theo các đường ray. . Khi xuống tàu ở nhà Ga Trung Tâm, tim anh ngập tràn cảm xúc đến nỗi anh bắt chuyện với một kỷ sư, mời anh ấy một điếu xì gà, loại đắt tiền, thậm chí còn đưa tay vuốt ve trìu mến đầu máy xe lửa, và nghĩ:  A ! một đầu máy xe lửa đẹp quá ! Và rồi chọn một chỗ làm ở đó. Nó mang về cho anh nhiều tiền hơn là làm việc ở đây. Giờ thì anh phải ra đi để không còn thấy vành đai của những con đê bao quanh thành phố nữa. Vào thời điểm ấy, tàu vẫn còn đậu trong sân ga, nhưng anh chỉ muốn mình có thể đứng ở sân ga, ngắm nhìn những chuyến tàu mang chở ngọt ngào đi thật xa, những chuyến tàu rời ga vào giữa đêm hay vào những ngày Chủ Nhật, lắm lắm lần mỗi ngày.

Mặt trời đã xuống thấp hơn, và đỏ ửng, vệt nắng vàng đã biến mất. Một đêm yên tĩnh, mát mẻ và ấm áp làm sao! Mặt nước màu đỏ gợn sóng lăn tăn. Những đợt sóng chậm rải xô vào bờ với tiếng rì rào nhè nhẹ.

Bekker lý luận rằng anh ta sẽ dành dụm tiền và trở lại sống ở vùng đất khai hoang. Nhưng trong thâm tâm anh không tin nổi chính mình. Chúng tôi cố gắng tin vào việc này, ngay cả Hoyer cũng cố tin. Chúng tôi tự thuyết phục chính chúng tôi rằng đó chính là những gì sẽ xảy ra, nhưng chúng tôi đã không tin, và điều đó cũng đã không xảy ra. Một năm sau Bekker trở lại, anh đã tiết kiệm được hai trăm guilders, và anh cuốc bộ dọc theo Linnaeusstraat lúc tám giờ ba mươi mỗi buổi sáng trở lại, với bánh sandwich trong bao từ nhà.  Lắm người cần.

Nhưng chúng tôi không sử dụng lại những cái bao đêm đó. Chúng tôi đang cố gắng hết sức để tin rằng chúng tôi sẽ vần còn xoay sở để thành tựu được một cái gì đó thực tế hơn. Chúng tôi đã làm cho cả thế giới bị sốc, không gây ấn tượng sâu sắc như chúng tôi khi ngồi lặng lẽ ở đó, hai chân xếp bằng, tám bàn tay đặt lên tám đầu gối. Hoyer quyết định vẽ tất cả các loại sự việc thông thường đó. Anh đã đọc một bài báo trong một tạp chí nói về nhiệm vụ xã hội của nghệ sĩ, và giờ đây anh đang trong chiều hướng thuận lợi hơn. Anh bắt đầu tranh luận với Bekker về khu đất khai hoang. Thật là một sự diệu kỳ về trình độ học vấn uyên bác. Anh cố gắng thuyết phục Bekker rằng thật là một lầm lỗi lớn khi rút khỏi thế giới để vào vùng đất hoang, mà anh sẽ không bao giờ làm chuyện này. Một nghệ sĩ chân chính phải thuộc về  cuộc sống hiện đại. Hoyer muốn nghe những gì tôi nghĩ. Tôi chỉ nói tôi đã không bao giờ nghĩ đến việc đó. Tôi không biết Hoyer muốn biết gì nữa – anh ta đã biết quá rõ về điều đó rồi mà, tại sao anh lại cần biết tôi nghĩ gì nữa ?  Bavink là người duy nhất không nói bất cứ điều gì. Anh chỉ ngồi chống cằm lên đầu gối, muốn kéo hết mặt trời vào tim. Mặt trời bây giờ đã dẹp lép như một hình thoi, đỏ lòm, gần như biến mất.

Hoyer không thể ngồi yên. Anh chồm dậy và lôi Bekker đi với anh. Họ đi dọc theo bãi biển và từ xa chúng tôi có thể nghe Hoyer kêu thét lên, rõ ràng là anh ta đang nổi nóng. Bavink và tôi vẫn ngồi yên ở đó một lúc rồi tản bộ từ từ theo sau họ. Dường như đối với tôi, thật không mấy vui khi bày tỏ quan điểm của mình về thế giới. Hoyer đang la hét dữ quá.

Bavink và tôi đứng lại, nhìn xuống mũi giày, sóng đã cuộn lên chúng. Mặt trời đã lặn, ánh sáng màu đỏ lung linh trên mặt nước đang nhạt dần, bức màn đêm màu xanh nhạt đang phủ lên phía trời nam, ngửi thấy có mùi bùn. Ở thật xa về phía ngôi làng, những ngọn đèn hình cung bỗng xuất hiện dọc theo bãi biển.

“Cậu hiểu tất cả ?”   Bavink hỏi, “ về nhiệm vụ xã hội ?”

Tôi nhún vai, “Hạng người nào, theo cậu nghĩ, đã viết bài báo đó ?” Cậu có Ý thức Trách nhiệm không, Koekebakker?” Hoyer cũng đã thảo luận về điều đó nữa.

“Hoyer nói chúa phải”, Bavink nói, “phải quá đi mất” Tôi không Ý Thức Trách Nhiệm. Tôi không thể mất thì giờ về việc này. Tôi cần thì giờ để vẽ. Không phải như một cuộc đi dạo trong công viên. “Nó là gì ?”,anh ta nói một lần nữa.  

“Ai ?”, tôi hỏi.

“Anh chàng trong quyển sách đó ; tại sao hắn ta nói nghệ sĩ phải có Ý thức Trách nhiệm?”

“Đặc quyền,”

“Cậu biết tớ nghĩ gì không, Koekebakker ?” Tớ nghĩ người đó cũng giống như anh chàng ghi lịch trình các chuyến tàu ở nhà ga. Tớ không hiểu nổi tại sao bất cứ ai  cũng có thể viết được những điều như thế nữa. Đặc quyền … Thượng Đế có mặt khắp mọi nơi, Koekebakker? Hay là người chẳng có mặt ở đâu cả ? Người ta nói như thế nữa có phải không ?

Tôi gật đầu. Bóng đêm bắt đầu bao trùm khắp mọi nơi, từ trên mặt nước, đường chân trời đến hướng tây bắc vẫn còn loé lên một màu vàng nhạt, ánh sáng sau cùng cũng  sắp rời khỏi chúng tôi. Bầu trời  bên trên đầu chúng tôi không một vẩn mây.

“Vì vậy, Người ở khắp mọi nơi,” Bavink nói.”Đằng kia, và kia, và dằng kia kìa,” Anh ta chỉ chung quanh chúng tôi vói hai tay dang rộng, “Và đằng kia, bên kia đại dương, ở vùng lục địa mà ta không thể trông thấy, và tận đằng kia, gần Driehuis, nơi những ngọn đèn hình vòng cung kìa. Và ở Kalverstraaat. Hãy bơi ra, nằm ngửa trên mặt nước và chú ý lắng nghe. Cậu có thể ở lại ngoài đó được chứ?”

“Ngoài cái gì?”

“Ngoài đại dương?”

Tôi gật đầu, vâng, chắc chắn tôi có thể.

“Tôi thì không thể, hoặc chỉ vừa mới,” Bavink nói. “Thật kỳ lạ, có âm thanh buồn thảm đó đằng sau cậu. Thật như thể đại dương muốn một cái gì đó từ tôi. Đó là như thế. Thượng Đế ở đó nữa. Thượng đế đang gọi. Đó thực sự không phải là một chuyến đi dạo trong công viên, người ở khắp mọi nơi,  và nơi ngào Người hiện hữu, Người đều gọi Bavink. Cậu sẽ bị ốm vì tên của cậu sẽ được gọi quá nhiều. Và rồi Bavink còn phải vẽ. Phải đưa Thượng Đế vào khung vẽ, và cũng chính Bavink đang gọi, “Thượng Đế,”  Và rồi, họ kìa, đang gọi nhau. Đó chỉ là trò chơi của Thượng Đế; Người hiện hữu khắp mọi nơi, và đang gọi không ngớt. Nhưng Bavink chỉ có một cái đầu ngu ngốc và bàn tay phải vô dụng, và cũng chỉ có thể vẽ trên một bức tranh vô nghĩa mỗi lần. Và mỗi khi anh nghĩ anh có Thượng Đế ở bên cạnh thì tất cả những gì anh có chỉ là cọ vẽ và khung vải. Hoá ra Thượng Đế ở khắp mọi nơi  ngoại trừ nơi Bavink cần có Người hiện hữu. Và rồi một gã nào đó đến và viết rằng Bavink được đặc ân và Hoyer ghi nhớ điều đó và đi xung quanh nói ba hoa con chích choè với Bekker. Đặc quyền, đúng vậy. Cậu biết tôi mong ước gì không? Tôi mơ ước tôi viết thời gian biểu. Thượng Đế để con người một mình như thế đó; họ không đáng bị gây phiền toái.”

 

Tôi đưa Bavink một điếu xì gà và đề nghị  chúng tôi đi bộ đến Driehuis. Tôi thèm một ly cà phê. Tôi không nghĩ thật rất vui đối với Bavink khi làm bẽ mặt một thằng bạn lúc nào cũng chu đáo , người mà chỉ biết làm mọi việc cho anh ta. Đằng sau chúng tôi, Hoyer và Bekker  cũng đi. Họ vẫn còn đang dốc hết tâm trí vào việc đó.

 

Lúc mười một giờ đêm đó, chúng tôi trở lại bãi biển, gió thổi, biển rì rào. Uống một chút gì đó đã xua đi sự ảm đạm và buồn thảm. Một kỷ nguyên mới sắp mở ra. Bekker đơn độc trong căn nhà trọ ở Đức, chuyển dịch thơ của Dante vì anh chưa bao giờ dịch trước đó. Bavink đã ấp ủ một bức tranh tuyệt vời trong đầu, Quang Cảnh xứ Rhenen, anh đã đến đó một lần và có thể thấy nó rất rõ trong trí nhớ. Còn Hoyer sắp đi làm nhiệm vụ xã hội. Anh ta đã biểu hiện ý tưởng đó. Tôi cố gắng tin tưởng mọi thứ.

Gió mát nhẹ thổi quanh chúng tôi. Đại dương tạo những âm thanh ai oán, đại dương phàn nàn và không biết tại sao. Đại dương rầu rĩ dạt vào bờ. Những ý nghĩ của tôi là một đại dương, chúng dạt lên những giới hạn của chúng một cách muộn phiền.

Một thời đại mới sắp mở ra, Chúng tôi vẫn còn có thể làm được nhiều điều trọng đại. Tôi hết súc tin vào điều này, tôi , tôi sẽ cố hết sức.

 

 

                                                    8

Tôi đứng trên cầu bên trên đường ray xe lửa lúc trời chạng vạng tối ở Rhenen, mắt hướng về phương bắc.  Xa bên dưới tôi là đường ray xe lửa chạy về phía chân trời, với núi đồi nhấp nhô ở hai bên, cỏ xanh mơn mởn và kim tước màu xanh đậm mọc um tùm với hoa vàng trên cỏ.Tôi ngắm nhìn sườn đồi thoai thoải mỗi lúc một thấp dần cho đến khi nó trở thành bình nguyên mênh mông ở cuối trời.

Lại nữa, bóng tối bắt đầu rón rén bò lên khỏi mặt đất theo cái cách mà tôi thường  thấy nhiều lần trước đây. Ánh sáng cuối ngày đọng lại trên đỉnh núi, rụt rè và e ngại, trong khi thung lũng bên dưới ngập tràn bóng tối, và đèn đỏ xuất hiện trên các trụ đèn hai bên đường ray xe lửa. Bầu trời phủ một màu xám xịt và phóng cái nhìn bạc nhược xuống một ngày bị đánh bại tan tát.

 

Tôi đã đi xa sáu năm trời và giờ đây đang đứng tại nơi này trên đất nước Hà Lan, nơi mà tôi luôn nhớ về, nơi mà họ đã diễn tả trong gần như tất cả mọi thư từ họ viết cho tôi ( mỗi năm Bavink viết cho tôi ít nhất là hai lần, Bekker thì thường xuyên hơn một chút). Lại nói về ngọn đồi mà đã xuất hiện trong bảy bức tranh Bavink đã gửi tặng tôi trong ngần ấy năm, và Bekker đã sáng tác tặng tôi hai bài thơ ngắn về nó.

 

Tôi lại trở về đây, đất nước Hà Lan thân yêu để chịu đựng nghèo nàn và viết báo, viết truyện về khu láng giềng nơi tôi đã sống khá lâu. Và tôi muốn xài hết hai rijks đô la cuối cùng trong thành phố mà một thời gian, khi tôi váng mặt, đã là trung tâm của thế giới.

Ở phía Bắc bóng đêm đã nuốt nhanh ánh sáng cuối ngày, ngọn núi gần như bị nuốt chửng, kẻ hộ tống cuối cùng của ngày cũng đã bỏ chạy sang phía tây bắc và đứng trên chiếc cầu nhỏ  bên lề của hư vô, bao trùm trong vô tận.

Tôi tựa khuỷu tay lên thành lan can, chống cằm lên bàn tay, nhìn vào đêm tối và nghĩ về mảnh mặt trời dẹp màu đỏ, cách đây rất lâu, đã lặn sâu vào những đợt sóng màu xanh lục  của Đại Tây Dương -  những đợt sóng nhô cao với những chiếc lưỡi sắc lẹm, hất qua hai bên, đổ nhào xuống, cất cao lên, rồi nhấp nhô, nhấp nhô mãi đến lúc này. Còn về ánh đèn vàng trong các cửa hiệu ở khu lân cận nghèo hơn của thành phố Amsterdam, mà tôi sẽ sớm gặp lại, thì đã được thắp sáng như mọi đêm, trong khi đại dương vẫn không ngừng chuyển động.

Những niềm hy vọng mơ hồ hồi ấy lại hiện về trong tôi, và nỗi niềm khát khao mông lung, không biết để làm gì.

Nhưng tôi cũng có một cảm giác mà trước đây tôi đã không biết. Tất cả những ngày đó đã trôi qua và nhiều ngày hơn nữa cũng sẽ trôi qua, và mỗi ngày trong những ngày qua những niềm hy vọng trong tôi vẫn còn nguyên vẹn, và nỗi khát khao của tôi vẫn chưa được thoả mãn. Bavink đã làm việc nhiều năm trời cho bức tranh Quang Cảnh xứ Rhenen, vẽ rồi nghỉ, nghỉ rồi tiếp tục – trên sông, trên núi, , tháp Cunera, những cây táo trỗ bông, những mái nhà ngói đỏ của thành phố, cây hạt dẻ với bông hoa trắng đỏ và những cây sồi màu nâu giữa những ngôi nhà ở đằng xa, đâu đó vài cối xay gió trên đỉnh núi cao. Cũng ngần ấy năm Bekker trải qua mỗi Chủ Nhật trong căn nhà gỗ trên núi do Bavink thuê để dịch thơ Dante và thỉnh thoảng sáng tác vài bài thơ, và hằng nhiều năm tôi đã trôi giạt khắp thế giới. Tất cả đã có ý nghĩa gì ? Vì thế giới ? vì Thượng Đế ?  hay ngay cả vì chúng tôi ?

 

Tôi đứng trên tháp Rhenen, phóng tầm mắt vào khoảng xa, và tâm hồn tôi vượt khoảng không gian ấy, để đến bầu trời đỏ ửng ở phía tây. Nhưng dù rằng tôi có thể bay ra khỏi đỉnh tháp để vào khoảng không gian xa lạ đó, tôi cũng chỉ có thể tìm thấy khoảng không gian kế bên, và tâm hồn tôi sẽ bay vào khoảng không gian kia nữa. Điều đó có tạo được gì tốt đẹp cho tôi đâu – sự từng trải đã dạy tôi rằng chẳng có gì sẽ thay đổi, và vẫn như thế này mãi mãi ?

Mỗi ngày chúng tôi mong mỏi một cái gì đó, mà không biết là cái gì. Nó trở nên đơn điệu. Mặt trời mọc và mặt trời lặn, ánh nắng mặt trời trên mặt biển, và đằng sau những đám mây trắng lững lờ trôi – đơn điệu -  và bầu trời tối đen hơn nữa, lá đã đổi màu, từ màu nâu sang màu vàng, những đọt cây trụi lá, những cánh đồng cằn cõi sũng ướt trong mùa đông – tất cả những thứ này tôi đã chứng kiến nhiều lần, và  cũng lắm lần tôi nghĩ suy về chúng lúc đi xa, và sẽ chứng kiến nhiều lần trở lại, bao lâu mà tôi chưa chết. Ai có thể bỏ ra cả đời mình để ngắm nhìn  tất cả những thứ này mà chính chúng không ngừng lập đi lập lại. Ai có thể kiên nhẫn tiếp tục mong mỏi những điều không tưởng ? Tin ở một Thượng Đế mà không hiện hữu ở đó ?

Và giờ đây cây kim tước đang trỗ hoa trở lại, và cây tử đinh hương, cây táo, cây hạt dẻ, và mặt trời đang chói sáng trên tất cả chúng. Cảm xúc tràn đầy. Tôi lại thấy tất cả. Trong khi tôi đang suy tư về chúng, niềm hy vọng, nỗi khát khao mơ hồ  trong tôi cũng nhạt dần.

Thượng Đế hiện hữu trong đầu tôi, những cánh đồng của người vô tận, vườn địa đàng của người đầy những bông hoa đẹp, không bao giờ tàn, những mỹ nữ hoàng triều đi đi lại lại, có đến hàng ngàn. Và mặt trời mọc rồi lặn, chiếu sáng từ dưới thấp, lên cao rồi lặn xuống thấp, rồi lên … và lãnh địa mênh mông vô tận không bao giờ giống nhau đúng một lúc. Những dòng sông rộng lớn quanh co, uốn khúc, lượn chảy quanh vùng lãnh thổ đó, mặt trời đổ ánh nắng lên các dòng sông và chúng bôn ba mang chở ánh sáng đổ ra biển.

 

Tôi ngồi lặng lẽ bên dòng sông và cảm thấy hài lòng trước ý nghĩ của chính mình, rít một hơi thuốc lá từ ống điếu bằng đất sét, cảm nhận ánh nắng mặt trời chiếu lên khắp người và ngắm nhìn dòng nước chảy mãi không ngừng vào nơi vô định.

 

Nơi vô định đã không làm tôi phiền toái, chốc chốc tôi gật đầu với mấy cô gái hái hoa trong vườn tôi, và nghe tiếng gió thổi xào xạc qua rừng thông, qua khu rừng của sự chắc chắn, của sự hiểu biết rằng điều này tồn tại bất cứ khi nào tôi quyết định nghĩ đến nó. Tôi rất biết ơn vì điều này vừa được ban tặng cho tôi. Tôi rít một hơi dài từ chiếc ống điếu bằng tất cả sự khiêm tốn và cảm thấy chính Thượng Đế, người đã là đấng vô tận.

Tôi ngồi đó một cách không có chủ đích. Mục đích của Thương Đế là sự không có mục đích.

Nhưng để giữ sự giác ngộ này luôn luôn không được ban phát cho bất cứ người nào.

 

                                                        9

 

Khi tôi đến Amsterdam lúc chín giờ sáng hôm sau, và đứng ở quãng trường trước nhà ga Trung Tâm, tôi thấy nhiều chiếc xe khách chạy bằng điện, thứ mà tôi chưa từng thấy trước đây, xe tắc-xi, cảnh sát đội mũ lưỡi trai chứ không phải mũ sắt,  nhưng họ chưa đi vào Damrak, tôi thấy mặt sau của những ngôi nhà ở Warmoesstraat ngay bên trên mặt nước và ngọn tháp nhà thờ Oude Kerk nổi bật lên bên trên. Tất cả đều hoàn hảo. 

Và những quí ông đó vẫn đi dạo quanh, tóc tai chải chuốt, và không có một nếp nhăn trên áo vét, không một vết bùn nào trên giày. Họ trông như thể họ biết hoàn toàn mọi thứ, và cảm thấy hãnh diện rằng họ đã khá thành công trong cuộc sống. Họ rất thân mật và lịch sự với nhau, lúc nào cũng vậy. Áo quần của họ hơi khác hơn ít năm trước đây đôi chút, nhưng cơ bản vẫn giống nhau. Bạn thấy đó, họ tính toán mọi thứ đâu ra đó cả: bộ com- lê vẫn là com-lê, trước sao sau vậy, áo khoác vẫn là áo khoác, các quí bà tôn kính vẫn là quí bà tôn kính, và các cô gái vẫn là cô gái. Mọi thứ đều diễn ra hoàn hảo. Và họ cũng biết khá rõ những ai, những gì bên dưới họ. Tôi không nghi ngờ gì về điều đó. Damrak chắc chắn sẽ đông nghẹt một khi họ bước vào. 

Tôi đáp chuyến xe điện số 2 đến Nieuwezijds Voorburgeal. Vì vậy thật tốt khi rốt cục họ cũng vào đầy, nếu không có lẽ xe điện đã không chở họ đến đó., và giờ thì bạn có thể băng từ bên này sang bên kia bất cứ nơi nào bạn muốn.

Chiếc xe điện số 2, tuyến xe thượng hạng dành cho những nhân vật quí phái và quan trọng. Hai quí ông cực kỳ quan trọng ở trên xe. Tôi chả là gì kế bên họ. Ánh nắng mặt trời ngày xưa cũ vẫn còn chiếu sáng vui vẻ ở Voorburgwal, những chồi non trên cây vẫn còn màu xanh chuối non, và tôi thấy rằng bóng râm mát của nhà thờ Nieuwe Kerk không phủ qua được phía bên kia đường , nếu đoán không nhầm. Tôi nhớ những năm trước đây, vào cuối tháng Năm, tôi đã thấy bóng râm mát trông giống hệt như bóng râm này. Và vào một ngày mùa đông có nắng ấm, hồi đó chưa có xe điện ở Voorburgwal, tôi đã đi bộ trong bóng râm mát của nhà thờ, phủ trọn cả chiều rộng của con đường. Giờ đây ngay cả nó không tới chỗ đường ray xe điện. Xe điện chạy qua khỏi nhà thờ dưới ánh nắng mặt trời. Trong ít tháng nữa, cũng chiếc xe điện này (nó vẫn còn mới toanh) sẽ chạy qua cùng một nơi này xuyên qua bóng râm mát. Và khi tôi nhìn lại hai nhân vật cực kỳ quan trọng này, tôi quả quyết rằng toàn bộ thời gian Rhenen vẫn là trung tâm của thế giới. Thế giới này khó mà có thể thay đổi chút nào. 

Tôi nghĩ đến lúc mà các quí ông này mất, và đứng trần truồng trước lần Phán Xét Cuối Cùng, và bị lãng quên ở đây. Và về những quí ông cực kỳ quan trọng khác sẽ xuất hiện để thay thế vị trí của họ. Liệu họ có còn  sở hữu bản thân im lặng khi họ bước đến đó mà không có giày bóng loáng xinh đẹp. Và cái gì sẽ trở thành một phần hoàn hảo nhất trong mái tóc của họ. Còn về cái vẻ tự tôn ngu ngốc của họ, có lẽ khuôn mặt của họ không biểu lộ một dấu hiệu nào của sự khiêm tốn khi họ đến đó và nhìn thấy những người khác, ngay cả những nhân vật quan trọng hơn mà họ đã từng kính trọng nhiều năm trước, và họ cũng trần truồng nữa có phải không?

Và bao nhiêu người trẻ tuổi theo chủ nghĩa duy tâm đến đó sẽ viết luận văn, sáng tác thi ca, vẽ tranh, và trở nên tức giận, hồi hộp về các thứ ? Và  hôn nhau ? Và rồi có lẽ trở nên quan trọng hay bị quên lãng nữa. 

Rồi thì một cô gái với cây đàn violin bước lên xe điện và nhìn xuống mũi giày của cô, mắt đen nhánh, tôi nhìn đường cong  thân hình bó sát trong chiếc áo khoác mùa hè của cô và quên tất cả  về các quí ông thanh lịch.

 

                                                  10

 

Hoyer đã về nước. Cậu ấy có căn hộ rất đàng hoàng ở một con phố phụ đằng sau  Concertgehouw. Anh tiếp tôi trong một phòng khách, tôi khó mà dám bước vào vì thảm trải sàn nhà thì quá đắt tiền. Màn cửa bằng vải nhung. Ghế sô pha bọc bằng vải nhung dày màu vàng, một đồng hồ quả lắc màu đen, một đèn nến nhiều ngọn trên bệ lò sưởi và tôi nghĩ tôi đã thấy con ngựa bằng đồng đen này ở đâu đó rồi, tất cả các thứ đều từ những cửa hiệu đắt tiền. Tôi thực sự không dám ngồi xuống nữa. Tôi ngồi bên mép của một chiếc ghế bành toàn bộ thời gian, nhưng tôi không nghĩ Hoyer chú ý điều này.

 

Hoyer đã có một vận may đáng kinh ngạc. Họ đã phạm một lỗi lầm xuẩn ngốc giống trước đây và đã từ chối một trong những người mẫu khoả thân . Anh đã đặt tên thiếu phụ là Dâm đãng và tôi phải nói, vì tôi đang viết cho một nhà xuất bản chân chính, rằng cô ấy “rất, rất đẹp”. Và giờ đây Hoyer đang sống xa hoa trong những căn phòng có trang bị đò đạc sang trọng, chủ hữu bởi một goá phụ lịch lãm thuộc dòng dõi quý tộc, cùng với một nữ luật sư và một viên chức thuộc địa đang đi nghỉ với vợ con. Hoyer thường đi ăn tiệm vì goá phụ này quá quý phái để không thể nấu bữa ăn cho người ở trọ của bà. Đánh bóng giày phải tốn thêm tiền.

 

Tôi đã ngồi trên mép ghế bành toàn bộ thời gian, ngắm nhìn những chân bàn trang điểm và khung gương soi mặt mạ vàng. 

Chết thật, tôi phải kể cho Hoyer về chuyến đi xa của tôi, dĩ nhiên, nhưng tôi không biết phải nói những gì.Tôi nghe chính tôi kể và chính tôi lắng nghe, đầu óc phân tán, âm thanh của giọng nói của chính mình. Đèn trong phòng lờ mờ và ảm đạm; tôi nghĩ goá phụ đang sợ có người nhìn vào. Tôi muốn từ biệt, mắt nhìn quanh ba bức tường mà tôi có thể thấy, mà không trở lại ghế ngồi của tôi nhưng họ không kết thúc. Tôi không thể hiểu họ. Tôi nhìn ra cửa – tôi không thể đừng được – tôi ngồi đó, mắt nhìn lạc lõng. Đôi mắt tôi vừa bị hút ra phía cửa. Tôi có những hình ảnh mơ hồ về Cunera, về Grebbeberg với dòng sông của nó, về quãng trường có nắng ấm đằng trước nhà ga Trung Tâm và mặt đồng hồ chiếu ánh sáng lung linh trên ngọn tháp nhà thờ Oude Kerk. Và qua hình ảnh nửa trong suốt này tôi thấy những đường vân được vẽ lên gỗ giả sồi nơi cửa ra vào. Một người nào đó đang nói toàn bộ thời gian, ồ, đúng rồi, Hoyer đang nói. Rồi tôi tự trả lời, không, thực ra không phải chính tôi, mà lưỡi của tôi đã cử động và âm thanh phát ra từ miệng của tôi. Tôi có thể nghe chúng rất lớn và thật rõ ràng. A

Hoyer không chú ý đến bất cứ thứ gì. Phòng vẽ của anh trên lầu. Có phải anh ta sẽ dẫn đường lên không? Tôi lặng lẽ theo sau. “Đây ắt hẳn là lavabo rửa mặt ?” Tôi nghĩ các dòng chữ đó là thứ chính xác để nói cho bạn khi quý ông này đang chỉ cho bạn xem nhà. Hoyer không chú ý bất cứ thứ gì. “Không, đó là nhà vệ sinh,” anh nói, và tôi nghĩ, tại sao anh ta không nói, “Xin lỗi ngài, đó là nhà vệ sinh”? Chắc chắn đó là những gì anh ta đang muốn nói trong vòng một hai năm nay.

Cầu thang, thảm trải cầu thang, các bậc cầu thang đều hẹp một cách tương xứng. Chỉ có một thành cầu thang với những trụ cầu thang được tiện sơ sài, nhưng mọi thứ đều rất đẹp và hợp với khiếu thẩm mỹ. Tôi phải thừa nhận như vậy. Hoyer vẫn không chú ý bất cứ thứ gì. 

Trên lầu, tôi đã hồi phục đôi chút, ít ra là do có đèn, “đèn phòng vẽ” nổi tiếng. Giá vẽ đứng trống trơn. Có một chiếc ghế dựa đắt tiền trong phòng vẽ, và tôi ngồi xuống đó. Trong đời tôi chưa bao giờ ngồi trong một chiếc ghế bành tiện nghi như thế. Những ngày gần đây Hoyer đang vẽ những bức chân dung của các mệnh phụ và các quí ông, tất cả trong những bộ trang phục lịch lãm. Anh giới thiệu với tôi bức chân dung của nữ luật sư trong toà nhà mà anh bắt đầu vẽ. Lúc này bà đang đi du lịch. Hoyer thường có một phòng vẽ ở một binh đinh khác, nhưng vị nữ luật sư này đã thuyết phục “Madame” cho phép dành một căn gác xép trên sân thượng làm phòng vẽ. Họ phải vất vả lắm mới thuyết phục được bà và đã xoay sở được chỉ khi bà nghe nói Hoyer sắp vẽ một bức chân dung cho thiếu phụ trẻ từ Willemsparweg, với mũ mùa đông, khăn quàng, bao tay bằng lông thú. Và, dĩ nhiên, với phần còn lại của y phục nữa. Và rằng anh ta được đề xuất như là một thành viên của hội Luật sư và nhà góp ý kiến luật pháp.

Bavink đã có bao giờ ghé lại đây chưa? Chưa, chưa bao giờ anh ấy đến đây. Bavink có nghe tin tức gì về Kees không ? Vâng,  Bavink có tình cờ gặp Kees ngoài đường phố và họ đã có nói chuyện với nhau. Cậu ta đã kinh qua ba hoặc bốn chỗ làm trong hai năm vừa qua, với một  khoảng mất việc kéo dài ở giữa. Cuối cùng bố cậu ấy tìm cho cậu một việc gì đấy trong công ty xăng dầu.

Cậu ta đi khắp  mọi nơi, trong bộ đồng phục và mũ lưỡi trai, anh ta có ba ký tự X và “AmGas” màu trắng của Amsterdam trên đầu và một cuốn sổ tay kẹp dưới nách. Và một gã khác nữa cùng với anh, với chiếc túi xách màu đen”. Bavink thấy cảnh tượng trông thật đẹp mắt. Việc làm của anh ta là đi khắp nơi, trút những đông tiền hai xu ra khỏi khỏi đồng hồ tính tiền xăng; việc làm của gã kia là mang túi tiền ấy đi theo.  Sau khi đã trút xong , Kees phải đi đến hỏi một quý bà ở tại nhà xem liệu bà có muốn mang những đồng hai xu ra lại làm tiền thối lại cho khách tại các trạm xăng. Bavink đã trải qua một thời gian với Kế. Cậu ta chưa từng đi làm công việc như thế với bất cứ ai trước đó. Nhưng việc này cũng nhanh chóng trở nên buồn chán. Cậu ta quyết định không làm nữa.

 

Tôi ngắm nhìn tấm thảm Bokhara trải trước ghế câu lạc bộ và thấy rõ trước mắt tôi đường Linnaeusstraat lát đá cuội vắng vẻ và lề đường  đá vôi màu xanh và đường phân ranh, nơi hai hòn đá lớn đặt cạnh nhau, và vỉa hè lát gạch. Tôi thấy chúng tôi ngồi ở đó những đêm hè. Bavink, Bekker, Kees, Hoyer và tôi. Tôi thấy những viên đá cuội và bụi đất trên đường vẫn còn ướt sương, một xe tưới nước ngang qua, có một tờ báo ướt nhẹp ở đâu đó. Tôi nghe Hoyer nói anh phải đứng dậy vì cái lạnh từ những viên đá cuội đang thấm vào người anh. Giờ đây tôi đang nghe giọng nói tương tự, chỉ hơi tao nhã hơn, uốn giọng lên xuống hơn một chút, nói rằng: “Mình lấy làm tiếc phải xin lỗi cậu, Koekebakker, mình có buổi tư vấn vào lúc mười một giờ”.

Ngoái kia, mặt trời mùa xuân đang chiếu ánh nắng xuống đường phố ảm đạm. Chúa ơi, làm thế nào một con phố như thế này có thể tồn tại? Tôi đã tuyệt đối không được phép hôn cô gái trên xe điện, nhưng một con phố như thế này lại được phép tồn tại. Điều đó lại được phép.

 

                                                    11

 

Trên một trong những đường phố lớn có kênh đào, tôi đứng nơi cầu thang và đọc trên cửa: “P. Bekker, Agent, Sales on Commission”. (P. Bekker, Nhân Viên, Bán Hàng ăn Tiền Hoa Hồng). Tôi rung chuông và đợi. Phải mất một thời gian khá lâu. Rồi nửa trên của cửa lắc mạnh và mở, tôi thấy một thanh niên với cái đầu có vẻ đần độn.”Có ngài Bekker ở nhà không?” Điều này nghe có vẻ hơi lạ. Trong khi người thanh niên mở nửa dưới của cánh cửa, không mấy khó khăn, tôi nhớ lại cửa trước thường được mở mà không có sự nhìn thấy của tôi với bất cứ ai. Có một sợi dây thừng ta có thể kéo từ trên lầu, và tôi rống lên, “Chào Bekker !”

“Ngài Bekker có ở nhà không?”

Ngài Bekker lúc này đang đi với ai đó. Một tấm thảm lớn trải trên lối đi lát bằng đá cẩm thạch. “Tôi có thể nói với ông ta là ai đây?”

“Koekebakker”.

“Mời ông theo tôi,” Người thanh niên đi trước, lên một cầu thang hẹp, đổi hướng   nhiều lần để không thể tính xuể.

Trên lầu, đến một tiền sảnh chật hẹp tối om, hắn dừng lại. Trong ánh sáng lờ mờ, tôi chỉ có thể nhận ra mấy chữ “ Phòng Trưng Bày Hàng Mẫu”. Phải chăng đây lá nơi mà tôi được cho là phải đứng chờ, ông bạn?”  Tôi hỏi, vừa chỉ vào mấy chữ. Tôi có thể nói rằng anh bạn đó thấy tôi có vẻ hơi kỳ quặc. “Chúng tôi chưa bao giờ thay biển hiệu đó, thưa ông”, Hắn gõ cửa.

Tôi nghe giọng nói của Bekker gọi ra, “Vâng”. Người bạn bước vào, cánh cửa đóng sầm lại sau anh ta, và tôi đứng đó chờ.

Liệu tôi có đủ tử tế để chờ nơi đây không ? Tôi được dẫn vào một căn phòng nhỏ ở phía sau nhìn ra bức tường không có của ra vào. Một cuộn giấy gói hàng đồ sộ treo trên xà ngang trên trần nhà, với một đầu giấy thòng xuống một cái bàn đóng gói rộng, trống trơn. Một thanh niên đến, ngồi xuống trước bàn giấy nhỏ bên cạnh cửa sổ, với lưng xây về phía tôi rồi bắt đầu gõ lên máy đánh chữ. Tôi nhìn cuộn giấy gói hàng lủng lẳng ở đó, tôi thấy nó được xé một góc. Tôi nhìn cái nây bự, lưng khom và đôi vai xương xóc của anh nhân viên văn phòng và qua khung cửa sổ, tôi nhìn bức tường  bức tường không cửa đi. Một trong những viên gạch bị vỡ và màu đỏ đậm bên trong; miếng gạch bị vỡ vụn đó là vật đẹp nhất mà tôi thấy.

Nhân viên này đấnh máy   gì chỉ Thượng Đế mới biết. Bất cứ khi nào hắn dừng đánh máy, tôi nghe có thể nghe giọng nói của hai người xuyên qua cánh cánh được đóng, và đã nhận ra giọng  nói của  Bekker nhưng không hiểu một từ nào. Tôi ngồi đó chừng hai mươi phút, rất nóng lòng. Per me si va  nella citta dolente. Rồi cuar mở, Bekker xuất hiện. Anh có vẻ lo lắng và bối rối. Tôi có khoẻ không? Tôi cũng được.

Anh hết sức xin lỗi. Anh đi với một khách hàng, từ Bordeaux; người này đặc biệt đến thăm hắn. Anh đã không nghĩ là anh đã có thể thoát khỏi ông ta đêm hôm đó … “ Ôi! Mày hiểu đấy, thằng quỉ sứ - mày trông oách đấy. Vừa về từ Algiers? Tôi đã hiểu khá rõ.. Vâng trở về từ Algiers. “Cậu đang ở đâu ? Nếu có thể tớ sẽ ghé thăm cậu lúc chín giờ tối nay”. Tôi chẳng ở đâu cả, tôi hết tiền, nhưng chuyện này bạn không thể nói trong văn phòng với một người lạ mặt đang đứng ở đó. Vì vậy tôi nóimifnh chưa biết, mình sẽ ghé lại thăm cậu sau.  “Lấn  tới sẽ may mắn hơn nhé!” Tôi biết trước là hắn sẽ nói như thế. Đó là một trong những thứ mà người đàn ông và người đàn bà quý phái thường nói với nhau ở những nơi mà bạn không cần phải lắng nghe.

Hắn đưa tôi ra tới cửa trước. Hắn nghĩ thật là một điều đáng xấu hổ. Tôi nhìn tấm biển nhỏ, “P. Bekker, Nhân viên, Bán Hàng ăn Hoa Hồng” rồi nhìn vào mắt hắn. Và tôi thấy hắn đột nhiên nghe điều đó nữa, tiếng bò rống, con bò trong lúc trời chạng vạng tối cách đây mười năm mà bạn có thể nghe chứ không thấy.. Chúng tôi bắt tay nhau. “Per me si vat ra la perduta gente, Koskebakker”. Hắn giữ chặt tay tôi và tay kia đặt lên vai tôi. “Cho tớ biết nếu cậu đến cần tiền bạc nhé, okay?”

Tôi xuống cầu thang. Người khách hàng đang đứng chống nạnh ở gần cửa sổ, hai chân dang ra, mắt nhìn ra đường phố. Ông ta trông có vẻ giàu có và phì nộn. Tôi trịnh trọng bỏ mũ xuống chào ông ta và ông đáp lại một cách lịch sự và trang nhã. 

 

                                      12 

 

Tôi sắp kết thúc, chậm nhưng chắc. Cảm ơn Thượng Đế, một người nào đó sẽ nói. Chà, tôi đã biết trước khi tôi bắt đầu rằng điều này sẽ không có giá trị gì nhiều. Cuộc sống của một người Amsterdam, những ngày này , cũng chẳng khá khắm gì mấy. Khi tôi còn trẻ, lắm lúc tôi mong muốn một cái gì đó xảy ra, bất cứ thứ gì. Nhưng chả thấy thứ gì xảy ra cả. Thậm chí chúng tôi cũng chưa bao giờ thay đổi địa chỉ. Và sau này …

Chỉ có Hoyer mới biết tất cả đã làm nên được những gì. Anh ta thừa hưởng một khoản tiền, giờ đây anh ta bắt phải đảm nhận. Anh ta là đảng viên Đảng Công Nhân Dân. Chủ Xã Hội và anh ta đọc tờ Nhân Dân.

Đêm đêm anh ngồi trong phòng đọc và đọc lướt qua tờ BerlinTageblatt. Anh không còn vẽ nữa. Và anh có lý do tại sao anh không vẽ nữa: chính vì chúng ta đang sống trong thời kỳ suy thoái. Một ngành mỹ thuật mới sắp ra đời. Anh chắc chắn về điều đó và đang chờ nó tới. Trong khi, anh đưa mỹ thuật vào Nhân Dân – bằng cách nào, tôi không biết. Có lần một người thợ hồ chất vấn anh, “Tất cả những điều vô nghĩa đó đã khiến tôi hiểu được gì ?”  Hoyer cũng đã có sự giải thích về điều đó.”Chúng tôi, những Nhà Dân Chủ Xã Hội biết quá rõ …”

Anh nói hằng khối đúng hoàn toàn, khi bạn bắt đầu nghĩ đến chúng. Bây giờ  điều này đang trở nên thú vị khi anh dừng lại. Một buổi chiều trong quán Cà phê Poland anh có cả khối chuyện để nói về “quan điểm của người vô sản” và “ ý thức hệ của giai cấp tư sản”. Tôi chỉ lắng nghe. Có lần tôi nói với anh ta, “Thật tuyệt vờiBằng cách nào mà cậu hiểu khá rõ mọi thứ vậy …”

Và trước câu hỏi đó, anh ta bắt đầu ngay trở lại và tôi không hiểu dù chỉ một lời ngay từ phía bên cạnh hằng nửa tiếng đồng hồ. Và thật sự rất tuyệt vời đối với những ai có liên quan tới những gì người khác nói với anh toàn bộ cuộc đời anh mà không hiếu tí gì về chính anh, và những ai thường xuyên cằn nhằn về anh và phải ăn bơ và sống trong những căn hộ ngột ngạt. Nếu tôi được phép giữ ngay cả một chút nghi ngờ không đáng kể nhất, tôi sẽ gia nhập Đảng Công Nhân Dân Chủ Xã Hội nữa. Một điều khá tốt đẹp, mặc dầu: những người luôn luôn dừng lại trong những căn hộ chung cư ngột ngạt đó đã không cần đến tôi. Và có lẽ, không hiểu sao, họ đã xoay sở mà không có Hoyer. Tôi sẽ điều tra nếu được phép: rất đáng ngờ.

Mọi thứ trở nên xấu đi với đại lý bán hàng ăn hoa hồng. Việc bán hàng chỉ ăn phần hoa hồng thôi thì hoàn toàn phi lý. Bekker đã nói ra điều đó bởi vì nó nghe có vẻ tốt, và một người đã từng dịch thơ của Dante và sáng tác những bài thơ, dù rằng chỉ có mười ba trong số chúng, không nên là người đại lý cho các hãng buôn trong nước và nước ngoài. Một ngày vào tháng Mười Hai có mưa ướt át, với những ngọn đèn được thắp dọc theo kênh đào, tôi bắt gặp Bekker đứng tựa vào bàn giấy của anh với hai tay ôm đầu. Căn phòng nửa sáng nửa tối. Anh đứng bất động như pho tượng. Tôi bật đèn thắp bằng ga lên. Có thư của ba ngày qua chưa mở, trong sọt rác sau lưng anh. Anh đã dùa cả chồng thư và vào dưới khuỷu tay, một cách có chủ đích, mà không thèm dòm tới chúng. Anh đã đuổi cổ một nhân viên cách đây mấy tháng. Họ đã mang điện thoại của anh đi. Anh ngồi đó. Một danh sách khởi hành của các chuyến tàu hàng treo trên tường; một chuyến tàu mới đây nhất đã đến khá lâu từ lúc trở về và đã trương buồm ra đi trở lại, vài lần. Trên bệ lò sưởi là một quyển sách bìa dày bằng da: sách xuất bản loại sang, quyển Divina Commedia.

Đèn bên ngoài đã bật sáng, vàng vọt và lạ lẫm trong ánh sáng cuối ngày, giống như một lỗi lầm nào đó không thể giải thích nổi; cái cách mà họ đã làm quá thường xuyên. Mọi thứ có vẻ như một lỗi lầm không thể nào giải thích được.

 

Hiện tại Bekker trở lại làm việc trong văn phòng với một ông chủ tốt, người rất tôn trọng anh vì anh đã dịch thơ của Dante. Vào những ngày thời tiết tốt, ông cho phép Bekker về sớm để cậu ta có thể đi dạo dưới nắng chiều.

Bekker không trở lại con đường nhậu nhẹt nữa, anh thường ngồi giải những nước cờ thế hoặc ngủ nghỉ. Anh không có tầm nhìn về tương lai, cũng chẳng khao khát thứ gì, ngay cả việc mong cho mau đến sáu giờ nữa. Dẫu sao thì chúng có ích lợi gì đâu?  Anh buồn bã nhận lương hàng tháng và buồn bã sử dụng nó để mua cà vạt, giày. Áo quần được giặt ũi thẳng nếp. Đôi lúc anh cũng cảm thấy hài lòng với chính mình đôi chút vì, có một thời, đã sống một cuộc sống của người trí thức. Thỉnh thoảng anh cũng còn đi xem tranh, mới đây tôi tình cờ gặp lại anh, anh kể cho tôi về bức The Arrival of Queen Wilhelmina (Chuyến Viếng Thăm của Nữ Hoàng Wilhelmina)  ở Frederiksplein, tranh của hoạ sĩ Eerelman, một bức tranh với dòng quảng cáo cho thuốc súc miệng ODOL được vẽ trên đó một cách hết sức tự nhiên. Đó há không phải là một bức tranh đẹp để treo trong một hiệu thuốc hoành tráng sao? anh nói.

 

Kees vẫn còn làm việc cho công ty gas và sống ở một trong những căn hộ chung cư nhỏ ngột ngạt, tôi đề cập. Cậu ta không biết sẽ tìm đâu ra phòng cho đứa con nữa sắp ra đời của anh. Các con của cậu ta vẫn còn nhỏ, nhưng trong một, hai năm nữa chúng sẽ cãi nhau ầm ĩ mỗi sáng sớm khi dùng chung một vòi nước và một buồng tắm, cái cách mà luôn luôn diễn ra tại các khu láng giềng ở Quận Ba. Cậu ta phải vật vã với những gì mà Hoyer gọi là “sự thiếu hụt quanh năm tại các hộ gia đình của giai cấp công nhân”, và chỉ mua xì gà vào những tối thứ Bảy. Còn vào Chủ Nhật anh ta phải giữ lũ nhóc. Anh luôn kêu ca về việc anh sẽ làm được bao điều tốt đẹp hơn nếu anh chịu nghe lời bố anh ta sớm hơn.

Vợ anh rất tốt với anh. Anh thường nhận khăn tay sạch giữa tuần. Nhưng chị ta không đánh thức được những khát vọng nơi bất cứ ai không quen với chị như Kees. Thật hoàn toàn khác biệt với cách đây sáu năm. Hồi đó, trên căn gác xép của nhà bố anh, anh có nơi đó làm “cõi” riêng mình, nơi các chị gái phơi lủng lẳng những đồ lót.

 

                                        13

 

Còn Bavink ?

Trong cuộc đấu tranh chống lại “những thứ trời đánh thánh đâm” đó, Bavink đã thua cuộc, hay đã đầu hàng. Những thứ mà cần được vẽ  và rồi, khi bạn nghĩ, Ồ, trong trường hợp đó nó sẽ phải xảy ra, hoá ra lại không cần được vẽ chút nào. Vừa khi anh ta đang bắt đầu trở nên nổi tiếng thì  cuộc đấu tranh đã đến hồi kết thúc.

 

Hai tháng sau chuyến trở về của tôi, anh ta có đến và bảo với tôi, bằng một giọng rất bình thản, rằng anh đã rạch bức tranh View of Rhenen thành nhiều mảnh nhỏ, và như vậy anh có: dòng sông, ngọn núi, tháp Cunera, những cây táo trỗ hoa, những mái nhà ngói đỏ xứ Rhenen, những cây hạt dẽ với bông hoa đỏ trắng của chúng, những cây sồi vỏ nâu láng, và cối xay gió nhỏ xíu đâu đó trên đỉnh núi cao, thành sáu mươi bốn hình chữ nhật tương tự, bề 15 x 12,5cm mỗi miếng, bằng con dao cùn, thật là một việc làm khá vất vả nữa. Một điều không ngớt làm phiền anh ta. Đó là một mớ rác rến không giá trị, hoàn toàn vô giá trị. Anh ta muốn tôi nói cho anh biết tại sao bất cứ ai cũng đều muốn vẽ. Mục đích là gì ? Anh ta không còn biết bất cứ thứ gì nữa. Anh dang rộng đôi cánh tay, và vẫy vẫy trong vô vọng. Kia kìa, đó là nơi những mảnh vụn đó. Anh đấm nắm tay vào trán. Còn đây. Chúng muốn ra đời, nhưng chúng không ra được. 

Bao nhiêu đó cũng đủ làm cho bạn điên đầu.

 

Gần một năm sau đó, tôi gặp anh ta ở Nhà Ga Trung Tâm, đang tiễn đưa ai đó vào lúc tám giờ trên chuyến tàu đến Paris. Một gã rậm lông, với những lọn tóc quăn đen dài và bộ râu quai nón khổng lồ và vầng trán cao, chẳng chứa gì sau nó. Mặt trời đang lặn, chiếu những mảng ánh sáng lớn, màu đỏ. Ngay tại mép mái nhà bằng kiếng khung kim loại, có một ngọn đèn màu đỏ lợt trong khung cửa sổ và lớp véc-ni trên các toa tàu. Bavink hơi ngà say, tàu đang rời ga, lướt đi dưới mái che của nhà ga và lượn sang bên trái. Khi nó rẽ, đèn bật sáng choang trong các toa tàu. Chúng tôi rảo bước đến cuối sân ga. Chúng tôi đến chỗ người đàn ông đang cầm đèn hiệu, khi tôi thấy anh ta đi qua khỏi tôi, anh nhìn người soát vé tàu đang đứng phía sân ga khác và ra dấu hiệu đi nhậu với tay đưa lên miệng. Khi qua khỏi mái che, chúng tôi dừng lại và ngắm nhìn mặt trời. “Cậu thấy mặt trời không, Koekebakker?” Mặt trời sáng một cách lạ lùng ngay đằng trước chúng tôi, cách chúng tôi một khoảng ngắn, lớn hơn và đỏ hơn tôi đã từng thấy. Nó gần như chạm vào các thanh ray, nó đã không còn chiếu sáng rực rỡ trên mọi thứ nữa, chỉ có ánh sáng u buồn trên các ô cửa kính bị che mờ của con tàu toả ra phía bên phải của đường tàu.

“Cậu nghĩ là tớ say.” Thật vậy, tôi đã say. “Không thành vấn đề, Koekebakker, dẫu sao thì, khi tớ say tớ không hiểu bất cứ thứ gì”. 

“Cậu có hiểu mặt trời cần gì từ chúng ta không? Tớ đã có ba mươi bốn mặt trời lặn trên bức tường, mặt trời sau chồng lên mặt trời trước, tất cả đều hướng mặt vào tường. Nhưng đêm về chúng lại hiện ra ở đó”. 

“Trừ phi trời có mây u ám,” tôi nói. Nhưng cậu ta không để chính mình bị phân tâm.

“Koekebakker, cậu luôn là bạn thân nhất của tớ. Tớ đã quen biết cậu từ khi – từ bao lâu rồi nhỉ ?”

“Khoảng mười ba năm, Bavink”.

“Mười ba năm. Một thời gian khá dài. Cậu biết cậu cần làm gì không ? Hãy giúp tớ với. Cậu có một cái hộp đựng nón?”

Tôi không nói bất cứ thứ gì.

“Hãy bỏ nó vào hộp đựng nón, Koekebakker. Trong hộp, tớ muốn được để yên một mình. Hãy quăng nó vào chiếc hộp đựng nón, một chiếc hộp cũ kỹ, giản dị. Đó là tất cả những gì nó đáng được.”.

Bavink đã bù lu bù loa trong nước mắt của gã say rượu. Tôi nhìn quanh trong vô vọng. Một người đàn ông trong bộ đồng phục với một vạch màu vàng trên chiếc mũ lưỡi trai đã đến chỗ chúng tôi và nói với tôi.

“Tôi nghĩ thật là tốt hơn, thưa ông, nếu ông đưa quí ông này về nhà.

Tôi chào, và đưa tay cho Bavink. Anh sẵn lòng bước đi. Anh ta ngủ thiếp đi trên tắc-xi và tỉnh thức khoảng một phút ở Nieuwezijds Voorburgwal khi xe chạy qua vũng bùn và anh muốn bắt đầu lại trong hộp nón. Nhưng anh ta lại rơi vào giấc ngủ. 

Một sớm mai nọ, anh ngồi thẩn thờ, mắt nhìn bâng quơ đằng trước cảnh mặt trời lặn cuối cùng của anh, tôi và Hoyer đến chỗ anh. Anh không nhận ra chúng tôi, anh chỉ ngắm nhìn mặt trời, một mặt trời đỏ, bự, lạnh giá đang lặn đằng sau các đám mây.

“Chỉ nhìn vào tôi; chẳng ai trong hai chúng tôi biết phải làm gì cho nhau”. Anh không nói bất cứ thứ gì khác.

Giờ thì anh đang ở trong một cơ sở từ thiện. Ở đó thật yên tĩnh và anh rất trầm lặng. Anh chỉ nhìn lên bầu trời, hoặc ngắm nhìn về phía chân trời, hoặc ngồi chăm chăm nhìn vào mặt trời cho đến khi đau mắt. Anh ta không phải làm như thế, nhưng họ chẳng đi tới đâu cùng với anh cả. Họ không thể bắt anh ta phải nói. Ngày nay tranh vẽ của anh đã tìm lại được giá cao ngất. 

 

Và Koekebakker ngày nào giờ đã trở thành một người điềm tĩnh và biết điều. Anh chỉ viết lách, nhận đồng lương khiêm tốn và không gây rắc rối.

Ngai vàng của Thượng Đế vẫn chưa lung lay. Thế giới của Người  vẫn theo con đường của nó. Thỉnh thoảng Thượng Đế mỉm cười một lúc về các quý ông quan trọng, những người nghĩ rằng chỉ họ mới là một cái gì đó thực sự. Một nhóm người trẻ tuổi phi thường mới vẫn còn đang bận rộn xếp những tảng đá nhỏ để chúng có thể làm ngã đổ Người xuống khỏi cõi cao sang và sắp xếp thế giới lại theo cái cách mà chúng nghĩ nên là. Thượng Đế chỉ cười và nghĩ: Tốt lắm, các cậu bé à. Các cậu có thể bị làm cho tức điên lên được, nhưng Ta vẫn thích các cậu hơn là các quý ông đúng đắn, lúc nào cũng cho là biết lý lẽ kia. Ta xin lỗi, các cậu đã cố gắng hết sức rồi, và Ta đã để cho các quý ông kia thịnh đạt, nhưng chỉ vì Ta là một Thượng Đế.

 

Và vì vậy, mọi thứ vẫn đi theo con đường của nó, và muộn phiền chỉ đến với những ai thường hỏi: Tại sao ?

 

                            English Translation by Damion Searls

                            Vietnamese Translation by Phan Thien Tri


 11.  TẤM ẢNH

 

                                                               Hella Haasse

 

Tôi không nhớ là đã từng thấy  trước đây, thế nhưng nó trông có vẻ rất quen  thuộc. Cô y tá đưa tấm ảnh cho Charlotte, một ngày sau khi Cha mất. Cô nói nó ở trong tủ cạnh giường suốt mấy tháng vừa qua. Thỉnh thoảng ông có hỏi về nó, cầm nó trên tay một lúc. Lúc đó ông khó mà có thể thấy rõ.

“Không phải gia đình, nhất định không phải gia đình,” Charlotte nói, và cô ta có  lẽ biết vì cô ta giữ hồ sơ gia phả của chúng tôi. Một ngày vài lần cô lấy tấm ảnh ra khỏi cái chặn giấy và ngắm nhìn nó qua cặp mắt kiếng chữ của cô. “Họ có thể là ai?  Một người đàn ông với chiếc mũ lưỡi trai, chỉ mặc áo sơ mi không mặc áo khoác, dây đeo quần; một người phụ nữ mặc áo không tay đen bóng, gớm ghiếc và hai người con. Ắt hẳn đó là một trong những người giúp việc của ông ngoại, có thể là người làm vườn. Ai đó đã viết “1915” vào mặt sau của tấm ảnh. Chỗ ở của chúng tôi hồi đó nay vẫn còn trong đất nước này”.

 

Bertus phản ứng bằng cái nhún vai và tiếng thở dài bực tức. 

“Tôi muốn biết, tôi không thể chịu đựng được,” Charlotte nói đi nói lại. “Tại sao Bố lại có tấm hình này trong tủ cạnh giường ? Anh biết ông như thế nào không, không bao giờ mang trong người bất cứ tấm hình nào, ngay cả hình của Mẹ hoặc của các cháu. Trông này, cậu có thể thấy một loại nhà nhỏ trên nền hình, một bức tường bằng gạch với một cửa sổ, một phần của hàng rào. Có phải có một ngôi nhà của người làm vườn ở điền trang của ông ngoại không? Hẳn nhiên là cậu có thể nhớ, Bertus à, trước đây cậu thường ở đó mà. Cậu sáu tuổi vào năm 1915, không, bảy tuổi.”

Khi Charlotte bắt đầu nói như thế, Bertus  nhắm mắt như thể anh muốn dấu kín những gì bên trong anh. Charlotte biết không chút khoan dung; ngay khi cô ta chú ý thấy anh ta không muốn làm một cái gì đó, hay không muốn nói về một cái gì đó, cô ta tấn công tới tấp vào anh ta bằng những câu hỏi, khoét sâu vào lớp che chắn mà anh cố dựng lên quanh mình. Không phải một sự mong muốn gây đau khổ, cũng không phải do tính bướng bỉnh mà vì sự thiếu khả năng hay sự thiếu thiện chí của Bertus trong sự trả lời thường có vẻ mở ra những lỗ hổng lớn của sự thiếu tự tin nơi Charlotte, và cô đòi hỏi sự đoan chắc một lần nữa. Thường thường đó là những vấn đề lặt vặt. Một đứa bé bị hoảng sợ có thể bỗng thấy một bà tiên tóc trắng dáng vẻ kiên quyết xuất hiên bên trong nó. Tôi biết nó cảm thấy thế nào. Tôi rất quen với cảm giác nghi ngờ đó, mặc dầu vậy tôi vẫn không mong điều đó nơi Charlotte. 

 

Tất nhiên, thoạt tiên không thể thuyết phục Bertus nhớ lại bất cứ những kỷ niệm nào của thời thơ ấu, nhưng cách chắc ăn nhất là gợi mở cho anh ta bắt đầu nói ra những hồi ức xa xưa.  Và rồi, do kết quả của sự kiên định của cô, đồng thời với sự lưỡng lự thấy rõ nơi anh, cuối cùng một số hồi ức hiện ra làm anh nhớ lại: “Có một con chó già nhốt trong chuồng. Một lối đi lát gạch với hoa thược dược mỗi bên. Một mương nước đầy ắp bèo tấm, nơi ta có thể bắt ếch. Những bụi cây quả lý chua …”

 

Charlotte, đang nóng lòng, cảm thấy không mấy thoả đáng, liền hỏi, “ Nhưng cậu không nhớ chút gì về ngôi điền trang sao? Ý chị muốn nói ngôi nhà và khu vườn? Ắt hẳn phải có vườn cây ăn trái. Bố có đôi lần nói về chúng, về việc ăn cây trái trong vườn nhà. Dĩ nhiên, phải có người làm vườn.” 

Bertus liếc nhìn cô,  khi cô nói điều đó, bằng cái nhìn hết sức dè dặt đối với cô, một sự biểu hiện đầy hoài nghi và tội nghiệp.” Không, theo tôi biết thì không có người làm vườn nào cả,” anh nói. 

 

Charlotte muốn chỉ cho anh ta thấy tấm hình lần thứ một trăm : “ Đây, hãy nhìn đây. Hãy xem kỹ. Cậu không nhận ra bất cứ thứ gì sao? Kìa là hàng rào cây thuỷ lạp và những bông hoa thược dược dong dỏng cao kia hẳn phải thuộc về căn nhà tranh của người làm vườn, nhưng cậu có thể thấy những cây cao đằng sau hàng rào …”

 

Bertus không dễ mất kiên nhẫn, nhưng trong trường hợp đó tôi thấy anh ta hất tay Charlotte ra trong cơn giận dữ. “Tại sao bà quan tâm quá vậy, đàn bà các người?”

Charlotte trở nên căng thẳng thấy rõ. Chị nói với tôi qua đầu Bertus, “Elza, em hiểu tại sao Bố muốn giữ tấm ảnh này bên mình không ?” Bố không bao giờ làm chuyện gì mà không có lý do cả. Năm 1915. Chuyện gì xảy ra vào thời gian này ? Lúc ấy chị mới hai tuổi. Đó há không phải là lúc Bố bắt đầu mở rộng kinh doanh sao?

“Chị quên là em sinh vào năm 1930,” tôi nói. “Chị không biết  chút gì về việc em và Bertus gọi “những ngày xưa thân ái”. Tôi lấy tấm ảnh từ tay chị và đặt nó trở lại dưới cái chặn giấy, một cục thuỷ tinh đánh bóng thành hình bán cầu, tôi có thể thấy khuôn mặt người đàn ông được phóng to hết cỡ trong đó, và một phần của đứa bé gái ông đang ẵm trên tay. Ông ta trông có vẻ như vừa nói chuyện với đứa bé. Hãy nhìn chú chim non!  Cái mỉm cười trong đôi mắt của ông ta như chỉ dành cho cô bé, và cho bàn tay nhỏ bé  mũm mĩn nó đang áp vào bên má trái của ông. “Một người đàn ông tử tế,” tôi nói, nhưng Charlotte thì đang thả hồn theo dòng tư tưởng của riêng cô: “Bố rất có thể có những nghĩa vụ nào đó mà chúng ta chẳng biết tí nào về nó”.

 

Bertus lầm bầm chuyện gì đó phía sau tờ báo. 

“Không phải là một chuyện lạ lùng lắm sao?” Charlotte ngắt lời.

“Không, đối với bất cứ ai biết rõ, vì vậy chị chớ bắt chính mình tiến sâu vào mọi chuyện. Nó chẳng tốn chị một đồng xu nào,” Bertus nói ngắn gọn, vớ vẩn. Charlotte xoa chiếc khăn tay giữa hai lòng bàn tay. “Như thể chính chị, người đầu tiên chị nghĩ đến chính là mấy đứa trẻ. Không phải là lần đầu Bố gây cho chúng ta sự ngạc nhiên đến phát tởm”.

Bertus: “Ồ, vì vậy chị sẽ đưa việc này ra lại, có phải không ?

Charlotte: “Những cậu con trai thì còn quá nhỏ vào năm 1945, nhưng chúng cũng có thể đủ hiểu về những gì đang diễn ra. Cách đây đã hai mươi năm, cũng may là ngày nay người ta đã nghĩ khác đi, và ngay cả như vậy …”.

Đôi khi cứ giả câm giả điếc là điều hạnh phúc nhất.

Việc thực hiện di chúc của Bố đang khá sôi nổi. Chẳng có gì nhiều ngoài căn nhà của bố, nơi cả ba chúng ta được sinh ra và lớn lên. Charlotte vẫn tiếp tục đưa việc ấy ra, nói rằng chúng ta nên đến sống ở đó. Chị ta nghĩ thật quan trọng, “tài sản kế thừa cho con cái,” con cái của chị Bertus ít nhất có thể thể hiện sự bực dọc của mình qua  sự không ưa thích thường lệ của sự đổi thay và om sòm. Anh nêu ra nào là sự tốn kém khi làm cho căn nhà có thể ở được, sau khoảng thời gian dài bỏ bê không ai coi ngó, một số phần bỏ trống, nào là phải đổi mới, sửa chữa , lắp đặt máy sưởi chạy bằng dầu, nào là chi phí bảo hành và chăm sóc.  “Chị sẽ thoải mái hơn nếu ở đây với em trong căn hộ này, chị Charlotte ạ. “Chúng ta sẽ không trẻ hơn chút nào đâu nếu ….”.

“Chị không nghĩ cho chính mình đâu, chị đang nghĩ cho các con của chị”. Lúc nào cũng vậy, đó là chỗ mạnh miệng nhất của chị mỗi khi tranh luận. Chị là người duy nhất trong ba chúng tôi đã lập gia đình và có con cái, và vì vậy, chị cũng là người duy nhất, hoặc như chị nghĩ như vậy, hiểu rõ cuộc đời và hội đủ điều kiện để qua được sự phán xét. Trong khi chị nói và nói thao thao bất tuyệt, thì Bertus và tôi thỉnh thoảng liếc nhìn nhau, bị dồn dập bởi giọng nữ lanh lảnh của Charlotte, những bức tường bằng ván gỗ đen lại hiện lên quanh chúng tôi; chiếc cầu thang hình trôn ốc uốn lượn như con rắn từ tầng hầm lên đến mái vòm bằng kính màu chót vót cao trên mái nhà; sự đối xứng của các dãy hành lang, các phòng, các cửa ra vào, các ban công đều chật hẹp tù túng như trước giờ, mọi đường nét biến mất tại một điểm đơn độc bên ngoài đường chân trời; bất cứ thứ gì ở gần, và trong phạm vi tầm nhìn đều rõ nét, đều được phát hoạ, đều bị lạnh giá. Trong đầu óc chị, Charlotte rõ ràng đã sắp xếp lại mọi thứ: chỉ định lãnh địa cho mỗi trong ba chúng tôi, trong các phòng còn lại chị dự tính dành cho đứa con trai trưởng của chị (hiện đang làm kinh doanh), để tiếp đón khách hàng, cho đứa cháu nội (sau này) để tổ chức tiệc tùng cho các bạn sinh viên và cho tiệc mừng tốt nghiệp của nó, cho đứa cháu gái (trong tương lai khá xa) của chị tổ chức tiệc cưới, cho đứa con trai thứ hai của chị (hiện đang ở Mỹ, làm công tác nghiên cứu trong phòng thí nghiệm) với vợ và các con của nó đang trong kỳ nghỉ phép năm (của giáo sư Đại học, bảy năm một lần) ở Châu Âu.

“Chúa tôi !” là tất cả những gì Bertus nói, và rồi Charlotte bắt đầu trở nên bực tức: “Chị biết điều này chẳng có ý nghĩa gì đối với hai em, những người còn độc thân, chị không mong bất cứ thứ gì khác, nhưng có lẽ chỉ đối với một lần trong đời của em, em có thể thấy rằng, trở nên goá chồng ở tuổi còn quá trẻ như chị, chị đã phải từ chối con cái quá nhiều thứ mà chúng phải được giao quyền để làm.Chị cảm thấy mình có nghĩa vụ đối với ký ức về anh Sander…”

 

Ngay khi tôi đủ tuổi, tôi đã rời khỏi nơi ấy. Một chút tự trọng nhỏ nhoi mà tôi có được cơ sở trên sự kiện rằng tôi đã thành công trong việc tự xoay sở trong việc học hành mà không có bất cứ sự hổ trợ nào về mặt tài chánh từ Bố. Tôi không muốn về lại nơi có những dãy hành lang với hàng dài của những nhánh gạc nai, mà vào mùa đông như thể  tiếp nối với vô số cành cây trụi lá dọc theo đại lộ. Có quá nhiều cửa ra vào khoá kín trong căn nhà đó suốt những năm sau chiến tranh khi tôi sống ở đó một mình với Bố tôi. Những tấm thảm vừa khớp mà chị đã dự định trải từ tầng hầm lên tận căn gác xép trên sân thượng sẽ không bao giờ có thể xua đi âm vang bước chân của người đàn ông già đó, nói chi tới những bước chân của người khác, trước khi …

 

Người đàn ông trong tấm hình có đôi mắt sáng quắt. Dáng vẻ vui tươi, tuy có hơi mệt mỏi, quyết đoán nhưng nhẫn nhục. Ông đang ôm chặt đứa bé, chỉ cho người nhiếp ảnh và mọi người xem, và ông đang bảo nó nhìn những gì đằng trước nó. Nhưng chưa có dấu hiệu được thấy biểu hiện trên khuôn mặt  nhỏ nhắn, tròn trịa như búp bê bên dưới diềm mũ lưỡi trai, chắc có lẽ  người ta đội lên nó để che khỏi ánh nắng mặt trời. Một bé trai trong bộ đồ thuỷ thủ đang đứng thẳng người và cầm tay một người phụ nữ. Cậu có vẻ nhận biết rõ, mặc dầu cậu như muốn kéo bàn tay cậu đang cầm như thể thuyết phục bà đến tham gia với họ. Một chút gì đó có tính cách tự vệ trong dáng đứng của bà, bà ép cằm xuống, vầng trán nhíu lại một cách đau khổ, không chỉ vì ánh đèn chói mắt, ánh sáng chói của vải sa tanh đen bóng trên dường cong ở ngực bà, hai chóp của đôi ủng của bà là hai hình vuông bóng loáng. Khi nhìn qua lớp thuỷ tinh khuếch đại của cái chặn giấy, tôi có thể thấy rõ hơn: làn da chai nhám trên hai bàn tay thô bự của bà, những đường thâm quần quanh đôi mắt của người đàn ông, những chỗ nối và đinh đóng  trên mấy tấm ván bị hỏng nát vì mưa gió của hàng rào đằng sau đầu của họ.

Chúng tôi đã không chụp hình và không được chụp hình. Tôi đã không ngớt suy nghĩ về điều này ngay khi tôi còn nhỏ, nhưng đã coi đó như là điều hiển nhiên.Đó chính là một phần của sự yên lặng và tình trạng trống vắng  đến lạ lùng của cuộc sống chúng tôi ở tại nhà, và tính tình của Bố tôi, người mà luôn luôn giữ vững những nguyên tắc khác, khó có thể giải thích vì chúng quá cứng nhắc. Khi chị Charlotte đưa đề tài về ngôi nhà cũ của chúng tôi ra – như chị đã lập đi lập lại, với hy vọng dẫn đưa Bertus và tôi đến nơi chị muốn chúng tôi đến – Tôi cảm thấy một thế giới không có viễn ảnh tương lai đang di chuyển về phía tôi: rõ ràng không với tới được, và quá xa vời, như chỗ cầu thang, các dãy hành lang,  quang cảnh nhìn từ các dãy phòng, toàn cảnh tuyệt đẹp đằng sau các cửa sổ, nhưng thực tế chỉ là ảo ảnh. Về lại mái nhà xưa có nghĩa là  bị buộc phải tồn tại trong một thế giới có ít phạm vi hơn để tôi tồn tại. 

Giờ đây, chị Charlotte đang đưa ra tất cả những chỗ dừng chân. Trong suốt cuộc tranh luận vừa rồi, sự tấn công và sự tố cáo lẫn nhau của chị mang tính cá nhân …

“Chị chỉ rất khác biệt với hai em. Bertus có lối sống của một tiểu tư sản, ý chị muốn nói là cuộc sống sung túc tốt, cứ nhìn vào đôi dép lê kìa, bao lâu mà em còn có thể túm tụm lại bên cạnh lò sưởi với ống điếu trên môi và tờ báo trước mặt thì em chẳng  bao giờ có lấy một chút phong thái, rốt cục, vẫn còn sót lại như truyền thống gia đình, nhà từ đường của Bố …”

“Thực ra là nhà của Mẹ,” Bertus nói một cách bình thản, nhưng như thường lệ, Charlotte phớt lờ nhận xét này. Cô có vẻ thấy thật đáng xấu hổ  rằng Bố đã dọn vào ở với mấy người em rể sau cuộc hôn nhân của mình.

“… rốt cục, là nhà cửa đất đai của gia đình, và có một thứ gì đó về nó, đó là …” 

“Phong kiến,” tôi nói, làm đầy đủ câu nói của chị, nhưng trớ trêu thay nó bị chị Charlotte bỏ ngoài tai.

“ Và chị không thể hiểu nổi em đó, em Elza à. Trong ba chúng ta, em là người quá dễ dãi trong chuyện gia đình, em là đứa bé gái nhỏ nhất trong gia đình, em được phép làm bất cứ thứ gì em thích. Không, đừng thộn mặt ra thế, rõ ràng là em không hiểu là em hư hỏng đến mức nào đâu so với Bertus và chị. Nhưng thôi, em cần một thái cực khác, em phải trở lại khu nhà ổ chuột tồi tàn nhớp nhúa ấy với bất cứ lý do gì. Sự không ưa thích tài sản đầy xuẩn ngốc của em, sự sợ hãi cuộc sống bình thường, chưa kể bệnh tật và sự bất hạnh khác của em.   Làm sao Bertus và chị không khỏi thương hại em …”

Mẹ chết vì bệnh xơ vữa động mạch ngay sau khi em được sinh ra đời. Charlotte lúc ấy là một phụ nữ đã có gia đình và con cái, anh Bertus đã khôn lớn và rời khỏi nhà, tôi thì còn đang theo học bậc tiểu học. Khoảng thời gian ấy, Bố luôn bị cuốn hút bởi công việc kinh doanh, nuông chiều vì thiếu sự quan tâm, khoan dung vì cảm giác tội lỗi. Nhưng Bố sống nhờ vào ký ức về anh chị tôi như một người không ngừng thực thi quyền lực một cách nghiêm khắc. Những đổi thay sau chiến tranh không thể xoá đi hình ảnh của Bố. Họ hiếm khi trở về nhà, khó mà biết được một con người đơn độc, lầm bầm suốt ngày bên bàn giấy, một ông già, tóc muối tiêu lê bước từ phòng này sang phòng khác. Tôi không muốn ghét bỏ Bố tôi. Tôi không biết tên gì để gọi cho sự xấu hổ ấy. Mỗi khi nhớ đến Bố, tôi đều cảm nghe một niềm thương cảm xót xa: một người làm việc một cách say mê, liên tục để xây đắp cho doanh nghiệp của mình, một con người gần như mất mọi thứ có giá trị với chính mình, mất hết mọi tư hữu, mọi thanh thế, thậm chí, có một giai đoạn mất cả quyền công dân của mình vì, như ông đã đặt vào, đã “cá cược nhầm vào một con ngựa”. 

“Em không muốn về sống ở đó đâu, chị Charlotte,” tôi nói.

“Em và Bertus hết sức khắn khít, nó thì chùng , em thì quá căng. Một căn nhà đẹp như thế, những người như chúng ta phải có nghĩa vụ đối với nó. Giá mà nhà của ông bà nội không bị thiêu rụi …”.

Bertus ho. 

“Ôi, hoặc bị truất hữu, bị phá huỷ, em không biết gì nhiều hơn chị đâu. Hãy về và nghĩ đến nó. Em biết được những gì?”.

Charlotte lấy tấm hình ra lại từ phía dưới cái kẹp giấy.. “Một cái gì đó mách bảo chị biết rằng tấm hình này ắt hẳn đã được chụp ở điền trang của ông nội. Bertus , em làm ơn cố nhớ lại xem? Có phải lúc này em không nhớ chút gì …?”

Bertus, phát cáu, làm sột soạt tờ báo trên tay.”Chị muốn em nói gì đây? Em được cho là có nhiệm vụ phải nhớ lại những gì? Em đã kể cho chị mọi thứ em biết”.

“Nhưng tất cả những gì em kể chỉ là những thứ vụn vặt, chẳng có công dụng gì với chúng ta. Một mương nước với bèo tấm trên mặt nước, hoa thược dược, quả lý chua, những thứ đó chỗ nào chẳng có”.

 

Nắng chiều còn đọng lại trên bức tường lót ván màu đen. Tôi đẩy đĩa quả lý chua ngang qua bàn về phía Bố. Chầm chậm, bố tự tìm một chùm còn nguyên vẹn trong số những trái cây đã tháo rời, vặn nó xung quanh bằng các ngón tay, nói lầm bầm trong miệng, như thể cho chính mình hơn là cho tôi (thường thì chúng tôi  sống trong sự yên lặng hoàn toàn) một thứ gì đó về những bụi cây quả lý chua đằng sau căn nhà thời thơ ấu của Bố., về những tấm vải thưa như mạng nhện bị rách khi dùng hái trái cây, về việc tuốt sạch tất cả những quả lý chua. Tôi ngắt lời chị Charlotte,lập lại sự nhận xét hiếm hoi của tôi về Bố. Ông không bao giờ nói về tuổi trẻ của mình. Bertus nhìn Charlotte: “Những bụi cây quả lý chua, đó là những gì em đã nói. Phía sau phía nhà kho. Nơi em được phép giúp để cưa và bửa củi cho việc đốt lò sưởi”.

Charlotte: “ Người làm vườn, dĩ nhiên, vì vậy ắt hẳn em có thể nhận ra người ấy”.

“Em không biết chút gì về bất cứ người làm vườn nào cả,” Bertus nói một cách cộc lốc.” Chị và người làm vườn của chị.”

Rồi cậu ta biến mất đằng sau tờ báo trở lại, Charlotte giận dữ giật mạnh tấm vải thêu bên dưới đèn bàn, một tấm khăn bàn rộng lớn với đăng ten có lỗ thủng trang trí dành cho đứa con dâu của chị để được sử dụng tại các bửa tiệc tối trong tương lai để gây ấn tượng cho các thân chủ. “Chắc chắn em là một cậu bé đặc biệt nhất. Chị vẫn còn có thể nhớ rất nhiều thứ từ khi chị lên sáu nếu chị được phép đến nhà ông nội, bà nội ở tuổi ấy… nhưng họ đã chết trước lúc đó, và ngôi nhà đã được bán mất …”. 

“Hay đã bị dỡ bỏ. Hay đã bị thiêu rụi,” tôi nói. Mí mắt của Charlotte giật giật.

 

Giờ đây, Evert và Mary trở nên có dính líu tới nữa. Điều đáng chú ý là chẳng bao lâu sau chuyến thăm viếng trước đó của họ, họ lại lái xe đến, lần này không có lũ nhỏ, trong chiếc xe Anh quốc được bảo trì hoàn hảo, một kiểu xe rất hiện đại. Charlotte ắt hẳn đã lưu ý họ trước. Không lời mở đầu xã giao, như chúng tôi quen từ họ, ( họ chẳng bao giờ xuất hiện trừ phi họ muốn một cái gì đó), với Evert trước tiên cố gắng tham gia với Bertus trong việc thảo luận về việc ấn định giá từ cao xuống thấp, liên hiệp các xí nghiệp, cơ chế thị trường, và rồi , cùng với Mary và sẽ được trợ giúp một cách hăng hái bởi Charlotte, người mà lúc nào cũng hân hoan một cách tuyệt đối bởi những chuyến thăm viếng không thường xuyên của đứa con trai lớn của bà, đang lái buổi thảo luận chung đến những đề tài như hâm nóng bầu không khí, những buổi tối tứ tấu đàn dây tại nhà riêng, những căn nhà trang trại ấm cúng cho những ngày cuối tuần, bộ sưu tập về tranh khắc trên gỗ của Nhật Bản, về đồ trang trí nội thất kiểu Biedermeir của Đức thế kỷ 19. Lần này họ đi thẳng vào điểm chính: căn tầng trệt nhà của Bố dành cho họ, nghĩ đến con cái và công việc kinh doanh, trên lầu dành cho ba chúng tôi; chi phí được chia sẻ cùng nhau.

“Thật là một căn nhà lý tưởng cho việc phân chia, về mặt vị trí và sơ đồ quy hoạch,” Mary nói đầy thuyết phục, sau khi Evert đã thoả thuận việc mua bán một cách chi tiết về mặt tài chánh: rằng căn nhà bếp phụ trên tầng một anh hoàn toàn sử dụng một cách độc lập, và căn gác xép có thể được biến đổi thành một căn phòng xinh xắn , đầy quyến rủ mà không cố gắng gì nhiều. Anh sẽ phải tự quyết định mình cần sống như thế nào. Mẹ cùng với Cậu và Liza ở trên lầu, hoặc mẹ và Liza ở tầng một, còn Cậu ở trên căn gác xép …”.

 

Vậy là, những căn phòng đã bị khoá cửa trên hai mươi năm nay sẽ được đưa ra sử dụng trở lại ? Suốt thời gian sau chiến tranh, tôi sống với Bố, tôi thường bước qua khỏi mâm cầu thang  trên tầng một như thể khu vực đó không còn là một phần của căn nhà nữa. Mặc dù tôi biết tôi sẽ không bao giờ còn gặp lại họ nữa, những viên sĩ quan trong Feldgrau, và rằng tôi sẽ mãi mãi không bao giờ phải nhìn xuyên qua những cánh cửa tình cờ để mở để xem bên trong các căn phòng giờ đã đổi thay do sự hiện diện của họ, và căn nhà bếp đã được lắp đặt làm nơi trú chân của họ; thời gian trên tầng một như đọng lại trong tôi kể từ đó. Không tờ báo dán tường mới, hoặc lớp sơn mới nào có thể khiến tôi quên được những biểu tượng viết bằng kiểu chữ run, những tiếng kêu răng rắc trên cầu thang gỗ do tiếng bước chân mang giày ủng, những giọng nói oang oang, hình ảnh của người say xĩn cô đơn ấy trên một “Feierabend”, đứng tựa lên quầytrong bộ đồng phục để áo hở cổ  không cài nút, cái nhìn đờ đẫn vô hồn, sự tự nghĩ mình mà lại thương mình của người ấy, và vết bẩn đe doạ mơ hồ nào đó lên người đó đã  phá tan những giấc mơ của chính tôi, một cô bé mười hai hay mười ba tuổi gì đó suốt mấy tháng liền. Nhìn từ các cửa sổ trên lầu, cây cối mùa đông trụi lá dọc theo đại lộ trông giống như những sinh vật bị lột trần, bị xén lông, bị làm thương tổn.

Tôi nhìn Bertus, đang mang khuôn mặt cứng đơ, một mặt nạ với đôi môi mọng và những nốt ruồi son trên xương gò má.

“Cậu út và Elza không thích ý này,” Charlotte nói, giọng đầy trách móc và phẩn nộ.

“Thôi nào ! Một ngôi nhà to lớn uy nghi biết bao! “ Mary thốt lên bằng giọng điệu mà cô thường sử dụng với con cái mỗi khi chúng không muốn ăn món gì.

Evert bắt đầu lại ngay từ đầu, nói bằng cái gì nhỉ, đối với anh ta, bằng giọng điệu tươi vui; nói cách khác, thỉnh thoảng tung lối phát âm kiểu giai cấp công nhân đầy mai mỉa vào lối tranh luận của anh, một thói quen hồi sinh viên mà anh học được, cùng với thói quen mang theo chiếc dù đen xếp nếp mỗi khi ra đường.: “Ồ, cô gái, cô có thể về sống lại trong căn nhà sang trọng mà không phải chịu đựng bất cứ sự day dứt lương tâm, và cô có lẽ sẽ không còn dạy lũ trẻ của những công nhân nữa, và, chỉ Thượng Đế biết, giờ họ là những người chủ của nền dân chủ hiện đại – ti-vi, tủ lạnh, xe cộ sẽ quan trọng đối với họ hơn là văn hoá mà những nhà theo chủ nghĩa lý tưởng phi thực tế như cô muốn chia sẻ…” Anh ta cũng không tha tôi bằng một tràng dài đả kích mà anh đề cập đến như “ cái gọi là nền giáo dục tiến bộ”. Mary và anh ta tuyệt đối khép mình vào kỷ luật và cho nền giáo dục ý thức hệ giai cấp, con trẻ cần phải học về uy quyền ngay từ nhỏ vì điều này ngăn những sự hiểu lầm trong xã hội, nơi mà ý nghĩa lành mạnh về các giá trị … v.v… . Những người thuộc thế hệ của tôi, và nhỏ hơn tôi vài tuổi, chỉ xa lạ như người ở hành tinh nào khác. Như thường lệ, mỗi lần Evert thao thao bất tận, tôi cảm thấy như mình đang lắng nghe Bố nói bằng giọng nói của một thanh niên, như thể thời kỳ nữ hoàng Victoria đã được khôi phục lại dưới hình thức của những gì các mục quảng cáo thích gọi “một thanh niên trẻ đầy triển vọng của thành phố”, một cách vô thức tôi nhắm nghiền mắt lại, nhưng tất nhiên là tôi không thể nào bịt tai lại để khỏi nghe.

Bertus đã cứu tôi một bàn thua,”Khi nào Elza hoàn toàn bình phục, và nếu đó chính là những gì nó muốn, nó sẽ trở về ngôi trường đó. Tôi nghĩ nó hoàn toàn đúng khi nói dạy trẻ em đọc, viết, và giải thích ý nghĩa cho chúng hiểu là cả một vấn đề”.

 

Giờ tới lượt Mary đầy cảnh giác khi cô muốn sớm dập tắt mọi ý kiến trái chiều ngay từ khi chúng còn trong trứng nước: “Nhưng để trở lại ngôi nhà đó, cậu Bertus, chúng ta có thể mời một người bạn trong số bạn bè của chúng ta, một kiến trúc sư. Căn gác xép trên sân thượng, chẳng hạn …”.

Charlotte đã kể cho tôi rằng Bố thường đánh đòn Bertus khi còn bé (chính Bertus không bao giờ nói về chuyện này).”Trên căn gác xép, trong phòng để đồ đạc … với chiếc gậy đi bộ. Nếu cả hai chúng ta cùng nghịch ngợm với nhau, thì chị đã phải canh chừng … khi kết thúc Bố thường nện cho chị hai gậy vào giữa lòng bàn tay ….”. Những chi tiết như thế luôn được chi Charlotte kể lại với cặp mắt nhìn xuống nhưng luôn có ý nghĩa thầm kín của sự hân hoan ma mảnh đầy ác ý , với sự sợ hãi, với tội lỗi mà chị thường phải khắc phục. Bố chưa bao giờ đánh tôi. Bố cũng không bao giờ mất thì giờ để làm việc đó. Ngay cả khi còn quá nhỏ, tôi cũng có thể nhận thấy sự căng thẳng xuất hiện trên khuôn mặt mỗi khi Bố ở cùng với Bertus và Charlotte. Hai người rất sợ Bố; ông có vẻ khá thất vọng đối với họ. Bố thường giật giật chân một cách hậm hực hay đấm những đầu ngón tay lên chỗ tựa tay của ghế bành mỗi khi Bertus trả lời một cách ú ớ, hay nói một cách lưỡng lự bằng một tràng lắp bắp. Bố đối xử Charlotte với cử chỉ hơi lịch sự ra vẻ kẻ cả mà những người đàn ông bảo thủ dành cho phụ nữ, nhưng không một chút day dứt về sự ngắt ngang khi sự nói huyên thuyên của cô làm ông bực mình (điều này thường không kéo dài) và đột ngột trả cô ta về vị trí của mình, ngay cả khi có mặt của chồng cô, một giáo sư, mà ông cư xử một cách đầy quy phục. Đó là vào những năm trước chiến tranh, khi mà cả ba người trong số họ thường đến để ăn cơm trưa vào những ngày Chủ Nhật. Chúng tôi thường ngồi quanh chiếc bàn có kích thước lớn hơn bình thường trong căn phòng ốp ván tường ngoại khổ, và sau món xúp, Bố thường nói chuyện chỉ với giáo sư, trong khi Charlotte giả vờ lắng nghe hoặc thả cái nhìn – với thái độ kiêu căng của sự thiếu tự tin – qua chúng tôi hoặc lang thang khắp căn phòng, còn Bertus thì yên lặng chăm chú lắng nghe, thỉnh thoảng gật đầu về phía tôi, và rồi trong suốt món tráng miệng, anh ta thường bắt đầu xếp hình những con vật từ những miếng giấy lụa màu mà anh ta thường mang theo trong ví. Sau đó, anh trao chúng cho tôi, và thế là trong hộp đựng giày của tôi lại đầy thêm những hình xếp ấy. Trên lầu, trong căn gác xép, phòng chứa đồ đạc, tôi chơi ở đó hằng nhiều giờ, thay đổi những đồ đạc cũ khắp nơi, lục lọi trong tủ quần áo, trong các hộp đựng đồ quí, chuyện trò suốt buổi với những người bạn vô hình của tôi. Về sau, trong suốt những năm chiến tranh, tôi thường trèo lên, chui vào chỗ ngồi sâu nhất của cửa sổ mái nhà để làm bài tập hoặc đọc sách; phòng chứa đồ đạc là nơi tôi cảm thấy an toàn nhất, cách xa khỏi những chỗ ở khác ở tầng một. Kể từ lúc tôi phát hiện anh Bertus lúc bé thường bị phạt bên dưới những cây xà nghiêng ấy, tôi có thể hiểu vì sao anh không bao giờ theo tôi khi tôi muốn chỉ anh xem lãnh địa của riêng tôi. Khi Charlotte đưa đội viễn chinh đáng trừng phạt đó lên căn gác xép, tôi không bao giờ quên đề cập đến “ cái thuở đó, lúc tôi còn là cô bé, vì vậy tôi đã không phải lên xem, nhưng chỉ đứng ở chân cầu thang, tôi vẫn có thể nghe anh la thét, anh đã phải ở trên đó cả ngày, anh không được nhận đồ ăn …” và đôi lúc tôi không khỏi không hỏi: “Nhưng anh Bertus, quỉ tha ma bắt anh đã làm chuyện gì sai vậy?” Bertus luôn nhún vai và nói:”Anh không nhớ”.

“Căn nhà ấy không thích hợp để ở đâu,” Ai trong chúng tôi sẽ nói ra điều này đây, Bertus hay tôi ?

Khi Bertus lột chiếc mặt nạ bằng gỗ ra, như anh hiện giờ, thật khó mà có thể bắt anh thốt ra một lời. Dạo này, bất cứ ý kiến không tán thành nào tôi đưa ra đều tự động kết nối với căn bệnh của tôi cách đây một năm, với những gì Evert và Mary đề cập tới như là “tình trạng suy nhược” của tôi. 

“Má ơi, họ là ai, những người trong tấm hình đó ? Nó có ghi 1915 ở mặt sau. Một cặp thật đẹp đôi, vô cùng hân hoan, một tấm hình lỗi thời, thật duyên dáng trong chiếc áo khoác ngắn tay màu đen bà diện cho ngày Chủ Nhật đẹp trời. Má tìm nó ở đâu ra vậy Má?”

Khi Charlotte giải thích, Evert  nhìn liếc qua vai vợ: “Quá đặc biệt. Đó có vẻ không phải là ông nội! Nhưng rõ ràng là người già thường tìm về quá khứ ngay trước khi họ chết”.

Mary: “Chúng ta có thể mang nó theo với chúng ta không? Con có cái khung hình thuẫn màu đen, con sẽ lắp nó vào, nó sẽ trông rất tuyệt vời trên bức tường có sọc ca rô của chúng ta bên trên tủ áo với ngọn đèn dầu hoả.

Evert: “1915, cách đây nửa thế kỷ. Giữa Đệ Nhất Thế Chiến. Thật xuẩn ngốc khi phải sống trong một đất nước trung lập xuyên suốt thời gian ấy. Cháu đoan chắc là cậu vẫn còn nhớ những ngày đó, phải không cậu Bertus?”

Charlotte: “Con sẽ không khai thác được bất cứ thứ gì về cậu ấy đâu, không thứ gì.Cậu ấy không có trí nhớ.  Và Mary một lần nữa, đang nghiên cứu tấm hình mà Evert đang cầm, nó trông có vẻ bị vàng úa hơn bao giờ hết bên cạnh cổ tay áo rất trắng của anh ta: “ Một người đàn ông trong chiếc mũ lưỡi trai và áo sơ mi sọc ca rô, và chiếc lách đeo tay. Còn người phụ nữ … bà có khuôn mặt khá diệu hiền, tôi nghĩ. Trông này, anh Evert, anh không nghĩ đó là một khuôn mặt rất thanh tú, dễ xúc động, đối với loại người như thế sao?  Còn hai đứa bé, thật khôi hài với chiếc quần dài đến đầu gối của thằng bé, và rõ ràng là họ đã mặc đồ đẹp cho đứa bé gái vào dịp đó; anh có thể thấy một chiếc áo đầm rất đắt tiền, tất cả diềm xếp dưới váy đều bằng dải thêu ren, trông gớm ghiếc, nhưng họ nghĩ thật là tuyệt. Chúa ơi, trông là lạ hay hay, một trong những căn nhà nông thôn của công nhân thế kỷ mười chín, đa số là nhà một tầng, với lối đi lát gạch vào tới cửa …”

Charlotte : “Đó là người làm vườn trong ngôi nhà miền quê của ông bà nội, với gia đình ông ta”.

Mary: “Há không thiêng liêng lắm sao, Evert, anh không nghĩ là điều đó thiêng liêng lắm sao? Không có hình tổ tiên của anh trên tường, nhưng nhân viên của họ?  

“Phong kiến, phong kiến,” tôi lầm bầm, điều này đã khiến Charlotte bĩu môi, Evert và Mary nhìn nhau, biểu lộ sự thương hại quen thuộc: Ah, kìa Elza tiếp tục đi.

“Cứ để họ treo tấm hình đó trên tường !” Bertus bỗng lớn tiếng giọng gay gắt. Evert ngập ngừng phá vỡ sự yên lặng đầy choáng váng tiếp theo cơn bộc phát này. “Cứ cho là thiếu những tấm hình tử tế của gia đình … .Tất cả những gì chúng ta có là từ bên phía bà nội”.

“ Căn nhà ở vùng quê đã bị thiêu rụi, anh biết điều đó mà,” tôi nói. “Vì vậy những tấm hình cũng đã ra tro bụi “Điều này được dự định như một tín hiệu dành cho Bertus, một dấu hiệu của sự hiểu biết đầy bí ẩn. Nhưng anh ta không phản ứng, vẫn ngồi yên, mặt đỏ gay xuống tận cổ vì cơn giận dữ đầy bí ẩn của anh, quay lưng về phía chúng tôi, anh nhét thuốc vào ống điếu. Evert và Mary, quá tin sâu vào khoa thần thoại của chúng tôi đến nỗi ngay cả họ chưa bao giờ nảy ra ý nghĩ đặt những câu hỏi, lần này cũng không đáp lại những lời nói của tôi nữa, chỉ tin theo luật bất thành văn. Tuy nhiên, họ đã quyết định đã tới lúc nói lời tạm biệt. Charlotte nhún và  trừng mắt nhìn tôi khi chị qua mặt tôi bước vào hành lang và tôi theo sau họ. 

Sao, mọi việc thế nào rồi, dì Elza ? Dì có muốn đi xa một lần nữa không, hay là chúng ta cùng vào thành phố một ngày nào đó đi ?”. Mary đang đứng trước gương soi, nhanh gọn sắp xếp lại mái tóc quanh chiếc mũ bằng lông thú rộng vành của nó. Tôi biết nó cảm thấy tội nghiệp cho tôi và nghĩ thỉnh thoảng nó phải có sự quan tâm đặc biệt đối với tôi. Giọng điệu đầy trìu mến của nó là chân thật; đó cũng là một sự tuyên bố độc lập khá dè dặt nhắm đến Charlotte, khi nó không tán đồng cách giải quyết của bà về cá tính và hoàn cảnh của tôi. Để chứng tỏ rằng tôi rất quí trọng chủ ý của nó, có lẽ tôi sẽ chấp nhận lời đề nghị của nó. Nhưng chỉ với ý nghĩ về cái nóng ngột ngạt và ánh đèn chói mắt của các cửa hàng bách hoá vào những ngày của tháng Mười Hai thôi cũng đủ làm tôi ghê tởm. Những căn buồng bằng kính khổng lồ,  những máy bán hàng tự động, mà người tiêu dùng bị hút vào, những chỗ đầy ắp tiếng vù vù, rầm rầm. Tôi là kẻ tham gia bất đắc dĩ, là kẻ bị hành hạ bởi tiếng ồn ào, bởi mùi hoá chất từ xà phòng và nguyên liệu dệt vải, nên không thể đi thong dong , không thể lục lọi tìm hàng như mọi người khác. Bị hoa mắt trước đám đông chen lấn xô đẩy nhau quanh các quầy hàng, mà những người như Mary rảo bước một cách quả quyết xuyên qua chúng. Nó còn hơn là một sự việc phi thường về thể chất. Tôi vã mồ hôi hột trước sức cuốn hút những người này vào các con số trên biểu đồ, các yếu tố cấu thành của quần chúng đầy ý nghĩa về mặt kinh tế, tăng, giảm một cách thụ đông trên các khoản điều chỉnh giá cả. Tôi thở hổn hển trong thế giới của sự ồn ào, huyên náo, màu sắc, và phô trương loè loẹt, mà sẽ chóng lụn tàn như thể chưa từng hiện hữu, đã phủ bụi thời gian, đã trở thành ảo ảnh. Vì vậy, tôi đã khước từ lời đề nghị và đi về phòng khách để khỏi phải chứng kiến cái nhìn chắc chắn Mary và Evert đang trao đổi nữa. Mặc dầu vậy, tôi không khỏi không nghe rõ lời thì thầm của Charlotte : “Cô ta vẫn chưa có thể đối phó với đám đông. Điều gì đã khiến cô ta trở nên như vậy chứ? Liệu rồi cô ta có thể trở lại trường để dạy không nữa. Tôi thật hết sức lo ngại …”

Họ đã quên mất chuyện về tấm hình. Nó vẫn còn nằm trên bàn ở nhà trong.

 

Một ngàn chín trăm mười lăm. Thời gian ấy đã là một quá khứ xa xôi thuộc thập kỷ 1930 mà tôi chỉ còn nhớ một cách mơ hồ.Tôi biết gì về năm 1915 ? Bác công nhân trong tấm hình mặc chiếc áo sơ mi ca-rô và đôi mắt hớn hở dưới diềm mũ lưỡi trai, những nếp nhăn trên khuôn mặt của bác cho thấy bác ở độ tuổi bốn mươi , hoặc dễ chừng khoảng sáu mươi lăm, không có quyền bầu phiếu, không luật lệ xã hội dành cho bác cho đến nay. Tôi nhớ rất rõ từ trong quyển sổ tay: bác vẫn còn nhiều năm nữa để chờ nhận tiền trợ cấp tuổi già và bảo hiểm y tế và việc làm tám tiếng một ngày – nếu bác từng phải nhìn thấy chúng. Mặc dầu vậy, tôi vẫn thấy bác không quá bất hạnh, chắc chắn bác yêu thương hai đứa bé mà bác khoe vói người thợ nhiếp ảnh, khoe với tương lai một cách rất đỗi tự hào. Bác đang đứng đó, không, không phải đằng trước căn nhà tranh của người làm vườn. Nó trông có vẻ giống như một trong những căn nhà hai phòng mà vẫn còn có thể tìm thấy ở những vùng ngoại ô cổ kính nhất của thành phố chúng ta; trong ánh nắng chiều giữa các bức rèm cửa, xuyên qua cửa sổ mở tôi có thể nhận ra một cây trong chậu kiểng. Bác có một ngôi vườn nhỏ, rộng chỉ vài mét, tách biệt khỏi nhà hàng xóm bởi hàng rào ở mỗi bên. Đó phải là một ngày cuối mùa hè có nắng ấm của năm 1915, hoa thược dược đang nở rộ; ắt hẳn phải là một ngày rất đặc biệt, bởi vì bác đã làm cho chính mình trở nên bất tử (áo sơ mi, không áo khoác ngoài vì trời nóng) với vợ và hai đứa con ăn mặc bảnh bao. Khuôn mặt người vợ hiện rõ sự xúc động, và cái cách bác ẵm đứa bé gái trên tay vừa khoan thai  vừa cảm động. Cái gì về tấm ảnh mà đã khiến tôi quá xúc động? Người phụ nữ trong dáng sắp bước đi, tay che chiếc áo khoác màu đen trước mắt chăng, hay người đàn ông đang đứng đó, chân dang rộng, đôi chút táo bạo và liều lĩnh một cách ngây thơ chất phát chăng ? Chung quanh nhà ông, khu láng giềng, khói từ các nhà máy toả lên trời (cây cối trong phông nền của tấm ảnh không thể là cây cối ở điền trang); mà là ở quanh thành phố, vùng đất nơi hoà bình vẫn còn ngự trị, vùng đất gần hơn như ông nhận biết (hay tôi bị nhầm) là các chiến hào, là bãi chiến trường.

 

Sau đó, Charlotte bồn chồn cả đêm, ngồi xuống, đứng dậy, rồi lại ngồi xuống, phiền phức vì những thứ mà cô có thể dễ dàng bỏ qua hoặc sẽ làm vào một ngày khác. Cuối cùng sự yên lặng bủa vây cô ta (Bertus không còn thấy đằng sau tờ báo đã được mở toang hết cỡ, chỉ trả lời khi anh ta không còn sự lựa chọn nào khác, hoặc trả lời càng vắn tắt càng tốt; anh không nói bất cứ thứ gì khác trực tiếp với tôi).

 

“Tôi nghĩ hành vi của em hết sức trẻ con. Tại sao hai đứa luôn có ý quá ngang ngược? Như thể thật quá khủng khiếp khi phải sống trong căn nhà mà chúng ta trải qua cả thời thơ ấu ở đó. Ước chi biết tôn trọng những kỷ niệm …”.

Bertus xếp tờ báo làm tư, lắc đầu.

“Thật quá bướng bỉnh. Em lấy làm vui sướng trong việc phá hỏng mọi kế hoạch của chị.Chị cảm thấy khá tự nhiên khi sống ở đó. Vả lại, cũng rất quan trọng đối với tương lai của con cháu, tương lai của Evert nữa.

“Tầng một, căn gác xép trên sân thượng,” tôi nói một cách lấp vấp đầy giận dữ qua lời nói của tôi, “Chị nghĩ là Bertus muốn sống trong căn nhà nơi nó bị đánh đập và bị nhốt  hồi còn nhỏ lắm sao? Còn em, chị nghĩ là em sẽ sống tự nhiên trong những căn phòng nơi Krauts bị  ?” Bertus nhìn tôi, lúc này anh ta biết là tôi hiểu, và anh cũng sẽ hiểu một cái gì đó về tôi mà tôi chưa bao giờ có thể nói ra được. 

“Em quắcng thẳng rồi” Charlotte nói, “đó chỉ là sự đa cảm bệnh hoạn.

Bertus đập mạnh tờ báo đã xếp xuống bàn. “Chỗ này cũng đủ tốt cho tôi rồi.”

Charlotte: “Em quá ích kỷ.”

Bertus: “Mấy đứa con của chị chúng không thích những thứ đó đâu. Evert sẽ dừng lại ở nơi nó muốn, nơi nằm trong gen của nó. Duy trì sự xuất hiện bằng cách sống trong căn nhà đó – thật là một sự lãng phí tiền bạc một cách vô trách nhiệm. Hãy để cho hội đồng thành phố mua nó làm nhà cho những người lớn tuổi. 

Tôi có thể thấy nó đang bắt đầu xuất hiện; Charlotte lắt đầu lia lịa. 

“Ô, Chúa tôi, em có thái độ quá hẹp hòi như thế. Em muốn ở đây đến hết đời sao, trong căn hộ chung cư nhỏ xíu của em sao, bốn phòng cộng với một nhà bếp, người bán thuốc lá của em bên kia đường, quán rượu bên góc đường nơi em lui tới chơi bi-a ? Ba người trong chúng ta không có nổi một căn phòng để chơi với con mèo, chị quá thất vọng. Em thuộc loại người gì vậy? Đôi lúc chị hiểu quá rõ tại sao Bố trở nên quá giận dữ vì em. Em chẳng có lấy một chút tham vọng nào, chẳng có chút sáng kiến gì, chỉ là một người cạo giấy, một thư ký quèn, một người ti tiện nhỏ nhen. …”

 

“Em có thể”  giọng nói của Bertus nghe có vẻ bình tĩnh, nhưng có chút gì đó trong giọng nói như muốn cảnh báo Charlotte nên coi chừng. “Nếu chị không thích nó, chị có thể xéo”.

Charlotte đang rút khăn tay ra.Như tôi quan sát thấy, khuôn mặt của chị diệu hiền hơn, ít nét hơn, và đứa con đầy hoảng sợ của chị nhìn vào mắt bà: “Một mình con sao?”.

“Nếu em rời đi, em sẽ tìm một căn phòng khác” tôi nói

Chị nhìn về phía tôi: “Mày cũng giống như thằng Bertus. Vẫn sự chống đối đó, vẫn sự xấu hổ giả tạo đó, như thể đó là một vụ tai tiếng  xuất phát từ một nền tảng gia đình danh giá, có chuẩn mực. Mày nên xem lại chính mày đấy. Không ai nghĩ là mày được dưỡng dục và trưởng thành như một quí bà đâu. Tại sao giờ này lại trở nên chán ghét căn nhà ở vùng nông thôn đó ? Mày hoàn toàn chẳng biết chút gì về …”.

 

Chúng tôi đang ngồi đầy căng thẳng nơi mép ghế dựa đối diện nhau trong phòng khách, một sự kết hợp khá hài hoà giữa những đồ đạc bằng gỗ màu thẫm, trang nhã với nhũng tấm khăn trải bàn bằng vải thêu kim tuyến của Pháp, đèn bàn, gối đệm với những mũi thêu nhỏ mà Charlotte mang theo lúc dọn đến. Phía sau đầu của Bertus những quyển sách được xếp thẳng hàng theo chủ đề và theo thứ tự A,B,C , vật xa xỉ duy nhất của cậu ta, chiếc đồng hồ quả lắc.

Bertus : “Chị kiếm đâu ra những ý tưởng về ngôi nhà ở điền trang?”

Charlotte: “ Em hỏi lạ chưa, Bố nói …” 

Bertus: “Bố chưa bao giờ nói bất cứ thứ gì”.

Charlotte không tránh khỏi cái nhìn của anh ta, Bertus ngồi thẳng người dậy, hai tay đặt lên chỗ tựa tay của ghế bành. “Hồi ấy, Mẹ cũng chẳng khác gì Bố”.

Bertus: “Chị không nên nghĩ như vậy”.

Charlotte: “Mẹ nói …”

Bertus: “Chị có chắc chắn về điều đó không?”

Charlotte (hơi bối rối):” Chúng ta chỉ là những đứa bé …”.

Bertus: “Vì vậy thực sự chị không biết?”

Charlotte: “Thế em muốn chị phải nói gì đây? Em không thể nhớ một tí gì về nó sao ”.

Bertus (với lòng tự trọng cao, không liên quan đến tính thẳng thắn, đến tình trạng không tự chủ của đôi bàn chân hơi gập lại trong đôi dép lê có hoa văn kỳ cục): “Em không thể nhớ bất cứ thứ gì mà chẳng bao giờ xảy ra và cũng chẳng bao giờ được nói tới”.

 

Chị tôi và anh tôi giờ đang ngồi tựa lưng về phía nhau, giống như hai kẻ có âm mưu, hoặc như trẻ con muốn chia sẻ một điều bí mật mà không tin cậy lẫn nhau, người mà sẽ tiết lộ điều bí mật, người mà sẽ bị trừng phạt ? Tôi có thể nghe Charlotte đang thở. Cuối cùng chị thốt ra giọng kể lể: “Sao mày dám? Sao mày dám?” 

Tại sao tôi bỗng nhớ lại lối đi dọc hành lang ở quê nhà, những gạc nai do những người đàn ông trong gia đình phía Mẹ săn được trong những chuyến đi săn bị quên lãng xa lắm rồi, hai hàng gạc nai trần thiết đối diện nhau từ những nhánh sừng xương xẩu dang rộng của những vật trưng bày bên lối vào nhà đến những tấm ván nhỏ gắn cục bướu giữa các cặp sừng nai ở các cửa ra vườn ? Những căn phòng đầy ắp hương thơm của cảm giác thoả mãn và phồn vinh thời Victoria. Ngôi nhà là thành trị của sự đáng tôn kính. Mẹ tôi, người tôi chưa bao giờ biết mặt, đã để lại mọi thứ như nó ắt hẳn là ở thời thơ ấu của bà, trước khi đi lấy chồng, rõ ràng là có sự ưng thuận của Bố tôi. Cuộc sống của họ không tạo ấn tượng gì nhiều đối với vùng phụ cậnnhư thể nó là một thế hệ bị nhảy cách quãng. Điều đó không giải thích được đối với trường hợp bố mẹ tôi, nhưng nó chắc chắn quyết định phân nửa lý do tại sao chúng tôi là như chúng tôi hiện là, Bertus, Charlotte và tôi. Phân nửa phần đời còn lại vẫn còn mơ hồ, như trong bóng tối. Bất cứ ai đang gặp rắc rối bởi những gì đang thiếu hụt đều có thể lấp đầy chỗ thiếu ấy bằng sự dư dật. Những gì đáng lẽ phải có ở đó, nhưng những gì không có, phát triển trong những giấc mơ và sự ao ước đến mức tỷ lệ đáng kinh ngạc. Nhà của Mẹ được tăng gấp đôi dưới sức mạnh của riêng nó, đang trở nên vững vàng và chắc chắn đủ cho cả hai. Bên ngoài đường chân trời, qua khỏi nơi tất cả những đường thẳng hội tụ, một fata Morgana xuất hiện, làm méo mó một cách lạ lùng bởi những lớp không khí đang run rẩy. Những nhánh gạc nai, những gian nhà kính cây đầy ắp cây trồng, những tấm gương soi mặt, những ván gỗ lát tường, những tấm thảm màu xanh lá cây đậm và những bức rèm cửa, cách trang trí lá trên báo dán tường, những đại lộ hiện rõ, ao hồ, khu bồn cỏ và bãi trồng cây khắp nơi, đang hoá cứng lại từ đàng xa để tạo thành một khu điền trang ở nông thôn với vườn hoa, một vườn cây ăn trái và một ngôi nhà tổ tiên theo truyền thuyết. Không ai sẽ từng nói về nó bằng quá nhiều lời, không một chút dối trá nào được kể, nhưng ắt hẳn nó có thể được rút ra kết luận từ những gì được để lại chưa được nói ra, hay từ những gì được ngụ ý. 

Bertus và Charlotte dường như quên mất rằng tôi đã ở đó. Họ đã từ bỏ vai trò suốt đời của họ. Charlotte không còn là người hỏi những câu hỏi có xu hướng ép buộc nữa, Bertus không còn không trả lời một cách bướng bỉnh nữa.

Bertus: “Em lúc nào cũng biết rõ là nó không đúng sự thật. Em đã kể với chị như vậy, một thời gian cách đây quá lâu, trí nhớ của em ít ra vẫn còn rất tốt”. 

Bằng một cử chỉ bất lực một cách vô thức, Charlotte xoay hai lòng bàn tay về phía anh ta như thể chị muốn cho anh thấy một thứ gì đó trong chúng.

“ Bố thường không đánh chị như thế,” Bertus nói một cách bình thản.”Đó chỉ là một lần duy nhất”.

 

Tôi mong mỏi được trở lại trường, mong gặp những khuôn mặt  nhỏ nhắn, sáng ngời bên trên các bàn học. Nếu không trở lại làm việc, tôi sẽ điên mất, và những hình ảnh đôi lúc đan xen giữa tôi và thế giới hiện thực sẽ thắng thế. Còn hơn những kỷ niệm, một cái gì đó khác hẳn những giấc mơ, không ai có thể thuyết phục tôi, nếu không, tôi chẳng là gì đối với họ. Sẽ là gì khi các giới hạn của ý thức riêng của ai bị tàn phai, khi mà thời gian, tuổi tác của tôi bị hao mòn như một đám mây mỏng, đang trở nên không đúng lúc, đang có mặt khắp nơi. Bây giờ không còn những lằn roi đỏ thẫm trong lòng bàn tay của Charlotte nữa. Bertus không còn la thét trên căn gác xép trên sân thượng nữa. Khi Bố đánh, cách đây khá lâu, đó chính là lúc khởi đầu cho sự hợp tác với một lực lượng chưa thể nói tên ra được mà lâu lắm về sau mới hình thành, và những căn phòng trên tầng một bắt đầu chuyển đổi thành nơi chiếm đóng của kẻ thù của họ. Phải có mối quan hệ giữa biểu tượng chữ run với fata  Morgana của khu ‘điền trang’. Tôi có thể thấy cái đầu xanh xao vàng vọt của người Bố đang chết dần trước mắt tôi, đó là toàn bộ về nó nữa. Cái chết đã bắt đầu khá lâu trước khi Bố trừng phạt một cách khắc nghiệt đối với sự chân thật đến ngây ngô của Bertus, sự đau đớn tột cùng  tiếp tục cho đến khi chúng tôi, các con của ông, đã trở nên biết một cách chính xác đó là những gì trong gia đình chúng tôi, trong ngôi nhà mà Mẹ chúng tôi thừa hưởng, đó chính là sự thiếu, được để lại, chưa được nói ra.

 

Tôi lấy tấm hình trên bàn và đặt nó lại chỗ cũ dưới cái chặn giấy trên bệ lò sưởi. “Vì Evert,” tôi nói lớn, “ vì nhà trí thức hợm mình, vì kẻ trưởng giả học làm sang kia”.

Charlotte mặt trắng bệch, nhưng không phản đối. “Chị không biết họ là ai,” cô ta thú nhận bằng sự nhún nhường mới.

Bây giờ Bertus lấy tấm ảnh từ tay tôi, chìa nó về phía chị Charlotte,và chỉ vào hai đứa bé: “Đó là chị. Đây là em”.

Charlotte chỉ nhìn chăm chăm vào tấm ảnh.

“Vói ông Ngoại và bà Ngoại, đằng sau nhà của họ,” Bertus nói, giọng trầm lặng hơn. Tôi đến gần hơn. Ngay cả tôi đã không tồn tại vào năm 1915, và sẽ không tồn tại đối với một lúc nào đó, nhưng chuyện này có liên quan với tôi nữa. Quyển album, hộp đựng đồ quý, kẹp giấy tờ, các túi xách bên dưới tấm vải che bụi, không ai nhìn thấy những thứ này trừ tôi, dưới đáy sâu tối om của tủ đựng đồ quý dưới mái nghiêng: “Trong phòng trên gác xép sân thượng,” tôi nói nhưng không ai nghe tôi.

Từ từ Bertus ngồi dựa ngửa ra, hai tay che đầu để Charlotte và tôi  không thể thấy khuôn mặt anh: “Đó là lần sau cùng. Chúng ta không trở lại nữa sau đó. Ông đã dẫn chúng ta. Tôi có thể nghe rõ Bố nói gì với họ, bên trong, trong nhà bếp. Tôi phải chơi bên ngoài. Sau đó, tôi không muốn rời đi. Trong khi ông chờ, họ kéo tôi sang một bên. Họ kể với tôi rằng ông ấy luôn là một cậu bé thông minh nhất ở trường, luôn luôn đứng đầu lớp, và rằng ông thường đi bộ một đoạn đường dài, và thậm chí còn đi xa hơn nữa, tôi phải giữ cái gen thông minh ấy về tôi, tôi phải trưởng thành như một công dân tốt, phải cố hết sức, và rồi ông thường tự hào về tôi như họ từng tự hào về ông ấy, Bố, Mẹ thấy chính họ được ban thưởng về đường con cái cho sự làm việc chăm chỉ, chăm sóc tốt con cái và cho sự tằn tiện và cho tất cả sự hy sinh, ngay cả những sự hy sinh khó khăn nhất, đó là một đặc quyền lớn lao nhất để trưởng dưỡng sự thông minh của chị, để học và để hiểu tất cả mọi thứ, những người như thế có thể làm cho thế giới trở thành nơi tốt đẹp hơn. Tôi sẽ không bao giờ quên những gì tôi đã chịu ơn từ ông, cũng như họ chắc chắn rằng ông sẽ không bao giờ quên những gì ông đã mang ơn từ họ. Thế mà ông đã quên … Tôi biết rằng ông đã quên. Và với tôi, ông đã nhận phần thưởng mà ông xứng đáng để nhận … “.

Bertus từ lâu rồi không nói với chúng tôi, và hiện đang nói  với chính mình. “Ông không thể tự hào về tôi. Tôi không muốn mình giống như ông ta. Tôi muốn ông ông  

quên tôi là con trai ông nữa. Và ông luôn hành xử như ông đã từng. Tôi nghĩ …. “. Bertus khom người cho gần với tấm ảnh trên đầu gối anh.”Tôi đã không đến gặp ông lần cuối khi ông đang hấp hối. Tôi không cho ông một chút cơ hội để chứng tỏ cho tôi thấy là ông đã thực sự nhớ lại tất cả,” Bertus nói, giọng khàn khàn và đầy ngạc nhiên.

 

 

                        Translated into English by Laura Watkinson

                        Translated from English into Vietnamese by Phan Thien   Tri

 

 



 

 

 

 

 

 

                                   

 

 

 

 


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 



MUA RAO  - Hwang sun Won (uo) https://gtvh51.blogspot.com/2024/10/rao-sun-won-han-quoc-ngay-khi-cau-be.html