Thứ Tư, 24 tháng 11, 2021

 DSS34.  MỘT AI KHÁC.        

         

                                                                                                   Arnon Grunberg

 

                                              Translated from Dutch into English by Sam Garrett

                                              Translated from English into Vietnamese by Phan Thien Tri 

 

 

Arnon Grumberg (1971) nhà văn nhiều tài, viết khoẻ của những tiểu thuyết, tiểu luận và mục báo thường xuyên, sống ở New York. Ông ra mắt quyển tiểu thuyết đầu tiên Blue Mondays vào năm 1994, các nhà phê bình hoan nghênh như một hài kịch kỳ quặc, một thứ của hiếm trong nền văn học Hà Lan. Quyển tiểu thuyết được đánh giá cao Tirza  là quyển sách đầu tiên được chuyển thành phim, sau khi đoạt giải thưởng Libris  và Golden Owl. Tác phẩm của ông được dịch sang ba mươi thứ tiếng bao gồm tiếng Anh.

 

Ông cân nhắc một món bở, ông vừa nhận một chỗ làm có uy tín cao. Ông là một bác sĩ khoa tâm thần, còn rất trẻ (38), không con cái, chưa lập gia đình, đầu chưa hói; ông, nhận ra khi đứng trước gương soi, cạo râu hồi sáng, gần như không có khuyết tật gì về thể chất, và ông chăm sóc tốt chính mình. Một lớp kem dưỡng da chỗ này, mát- xa chỗ kia. Aron Barshay ít có nguyên nhân gây bất mãn hơn nhiều người khác.

 

Aron Barshay không giống như bác sĩ tâm thần điển hình của bạn, anh không mang kính cận, không có râu quai hàm. Tại các quán rượu, nhà hàng, họ thường hỏi anh liệu anh có phải là một giáo viên dạy yoga, hay có lẽ là một huấn luyện viên thể hình. Ông chấp nhận chính mình giống như thế, chứ không như một bác sĩ tâm thần, giống một giáo viên dạy yoga hơn.

Vào những dịp rất hiếm, anh phát biểu trước các hội nghị, nhưng không thường xuyên như trước kia. Có lần anh tham gia vào một dự án nghiên cứu, xử lý mối quan hệ giữa tình trạng thanh thiếu niên tự tử với những người chống suy nhược. Đóng góp của Barshay rất khiêm tốn, nhưng anh biết điều đó. Anh không cố  gắng tạo ra nhiều hơn từ đóng góp đó so với thực tế, không cho chính anh, cũng không cho người khác. Hơn bất cứ thứ gì khác, anh rất thực tế về  cuộc sống của riêng anh và cuộc sống của bệnh nhân anh, của đồng nghiệp anh. Sự phù phiếm là thú tiêu khiển mà anh đã từ bỏ. Anh là một cộng sự tại một bệnh viện nơi anh rất được kính trọng. Đã nhiều năm qua kể từ khi anh cảm thấy bị thôi thúc để trở thành một giám đốc, để thăng tiến lên một bậc, như họ hứa.

 

Barshay không tự cho phép mình bị lôi cuốn bởi tham vọng, ít nhất là không còn nữa. Anh dành thì giờ để chơi tennis , để đi ra ngoài, thỉnh thoảng anh bay sang Paris  hay  Luân Đôn cho một kỳ nghỉ cuối tuần ba ngày. Hoặc đến thăm viếng chị của anh ở Los Angeles; bố mẹ của Barshay đã mất. Thỉnh thoảng anh có một cô bạn gái, thỉnh thoảng một người bạn sẽ gợi ý về một lợi thế của một mối quan hệ ổn định ( “khi bạn đạt tới một lứa tuổi nà đó , thật khó xử để là một người đàn ông chưa vợ nữa”). Thỉnh thoảng Barshay cân nhắc một mối quan hệ ổn định và nghiêm túc như thế chỉ để bác bỏ một ý tưởng. Thỉnh thoảng Barshay ra ngoài để khiêu vũ và sử dụng thuốc tiêu khiển. Thế giới đang đắm chìm trong sự hỗn loạn, nhưng Barshay rất giỏi trong việc giữ khoảng cách an toàn với mọi sự hỗn loạn.

 

Vào một tối thứ Bảy ngày 6 tháng Mười Một, Barshay và một người bạn đi ra ngoài để ăn tối tại một nhà hàng Tây Ban Nha trong làng. Họ đặt trước một chỗ số 830. Barshay mặc một chiếc áo cổ cao màu đỏ, dù rằng trời đang thực sự quá ấm áp đối với áo cổ cao, và một bộ com- lê màu đen. Ngay cả tính thờ ơ của anh cũng đã được nghĩ thấu suốt. Barshay nghĩ về mọi thứ, mà không để nó làm anh tê liệt. Anh nghĩ về nhiều thứ và rút ra một kết luận . Đôi khi anh thay đổi những kết luận nào đó mà anh đã rút ra từ quá khứ. Thật không giống như anh ta để sầu muộn về những cơ hội đã mất. Không phải Barshay chưa bao giờ bỏ nhỡ một cơ hội nào, nhưng anh từ chối tán dương những cơ hội đó. Một vài cơ hội phải bị bỏ nhỡ. Người ta cũng sống theo luật thống kê. Không có một cái tổng thể nào to lớn hơn che dấu ý nghĩa của mọi chi tiết. Không có những ý nghĩa lớn, chỉ có những ý nghĩa to nhỏ. Còn nữa, sự thất bại của một cá nhân có thể là điều may mắn cho cả nhóm. Trong sự sầu muộn, nói cách khác, Barshay ngửi thấy mùi của trạng thái lơ mơ mà anh rất ghét.

Bạn anh dạy môn lịch sử Mỹ tại một trường Đại Học nổi tiếng, và xuất hiện đều đặn trên các tạp chí nổi tiếng. Họ ngồi đối diện nhau, cả hai đều gọi món cơm thập cẩm Tây Ban Nha. Họ không gặp nhau hơn bốn tháng nay. 

Barshay kể với bạn rằng anh đang nghĩ đến việc nhận nuôi một đứa bé người Trung Hoa. Bạn có thể làm việc đó vào lúc này dù rằng bạn vẫn còn độc thân. Anh đã tham dự ba buổi tối để lấy thông tin tại cơ sở giao nhận con nuôi. Barshay là người duy nhất chưa lập gia đình ở đó. Sau buổi họp đầu tiên, một cặp đã kéo anh qua một bên. “Chúng tôi có thể giới thiệu cho ông một người,” họ thì thầm.

Họ có vẻ rất quan tâm và lo lắng. Barshay bảo họ rằng điều này không cần thiết vì anh hoàn toàn có khả năng tự giới thiệu chính mình. 

“Tôi không biết,” bạn anh, người mà đã ly dị và có đứa con trai năm tuổi nói, “ Một đứa con nuôi, điều đó gần như luôn phát sinh các vấn đề, có phải không?”

“Hầu như luôn luôn,” Barshay gật đầu đồng ý. “Nhưng còn có sự lựa chọn nào khác sao?” Một đứa bé mồ côi ở một vùng nông thôn Trung Quốc. Bạn có ý tưởng như thế nào về việc này? Và chúng gần như tất cả là những bé gái ở các viện mồ côi đó vì con gái không được cần lắm.”

“Tại sao quá bất ngờ thế? Có phải cậu đang cảm thấy cô đơn? Cậu có thể mua một con chó, có phải không?”

“Tôi có thể,” Barshay nói, “Nhưng, như bạn biết, có quá nhiều trẻ em không ai cần, và tôi có một căn hộ rộng lớn. Ai khác sẽ chỉ phải chăm sóc những con chó không ai cần. Và thật không quá bất ngờ. Tôi đã đang chơi đùa với ý tưởng này hằng nhiều năm. Tôi luôn cảm thấy bị thôi thúc muốn được chăm sóc những người không được cần đến. Tôi hoài nghi đó là lý do tại sao tôi đã muốn trở thành một bác sĩ tâm thần ngay từ chỗ làm đầu tiên của tôi. Nhớ lại khi ấy tôi còn nghĩ rằng các bác sĩ khoa tâm thần là phải chăm sóc những người không được cần đến.”

Bạn anh thở dài. Sự ly dị đã tốn anh một mớ. Lập gia đình đã quá tốn kém rồi mà ly dị thậm chí lại còn hơn thế. Anh ta phải bắt đầu lại tất cả. Về phương diện tài chánh mà nói, đôi khi anh tự hỏi liệu sự đầu tư có thực sự xứng đáng với  sự rắc rối không. Còn sự tự do thực ra đáng được bao nhiêu?  Thực vậy, sự tự do cũng là một sự thất vọng nữa, vì bấy giờ  anh có thể tận hưởng nó một cách vô tận. Không giống như Barshay, bạn anh không có một thân hình lực lưỡng. Không ai từng nhầm lẫn anh với một giáo viên dạy yoga. Họ thấy anh đối với những gì anh là: một giáo sư đại học. 

Người bạn duỗi thẳng người, anh vừa ăn xong. Anh nhìn Barshay, họ quen biết nhau đã hai mươi năm. Barshay là người làm chứng tại lễ cưới của anh. Aron Barshay vẫn tiếp tục ăn một cách chậm rãi với vẻ thích thú. Khi trong đĩa không còn gì, anh nói: cơ quan giao nhận con nuôi đã đến nhà tôi rồi, họ đến để xem tôi có đáng được tin cậy không. Cho đến giờ này, rõ ràng là tôi có thể được tin cậy.”

Cả hai bật cười, có lẽ anh bạn cười  hơi quá lớn, như thể  anh phải làm cho chính mình tin tưởng rằng điều này là khá thú vị cho dù anh không nghĩ như thể, Barshay với đứa bé người Tàu. Sau khi họ gọi phiếu tính tiền và chia đôi, Barshay đề nghị họ nên đến một nơi nào khác, như cả hai thường làm. Bạn anh hơi lưỡng lự nhưng, khi anh ta thấy rằng trời đang bắt đầu mưa phùn bên ngoài, anh liền quyết định ngay. “Có một bài báo tôi cần phải viết xong” anh nói. “Lần khác vậy.”

Họ chào tạm biệt và bước ra đường. 

“Hãy cho tôi biết việc nhận con nuôi diễn tiến thế nào,” nhà sử học nói với một cái gì đó giống như một tiếng cười mặc dầu không phải là giọng cười chế nhạo. Mối nghi ngờ của anh ta có vẻ đã tan biến. Có lẽ anh ta thấy việc nhận một đứa bé Trung Hoa làm con nuôi như là một cái gì giống như một sự ly dị, rắc rối, tốn kém nhưng chẳng có lợi ích gì. “Có lẽ cậu nên kiếm một cô vợ trước đã, rồi mới đi tìm con nuôi. Đó là cách mà người ta thường làm, Aron. Tại sao bạn nên khác biệt? Tại sao bạn hành động như thể biết rõ mọi thứ?” Anh ta quay lại rồi bỏ đi ngay mà không đợi câu trả lời. Nhà sử học đi đầu trần dưới mưa.

Sau này người bạn đó sẽ nghĩ lại về buổi tối này, cái cách mà người ta nghĩ về những buổi tối khi họ thấy và nghe một cái gì đó mà không biết chính xác là cái gì. Và càng nghĩ về nó, họ càng tự hỏi “mình đã thấy gì, mình đã nghe gì, vì Chúa?, họ càng ít có cơ hội để khám phá ra nó.

Aron Barshay đang mặc một chiếc áo mưa có mũ trùm đầu, anh kéo mũ lên và bắt đầu đi bộ. Anh muốn ra ngoài để khiêu vũ, nhưng không biết ở đâu. Hôm nay là tối thứ Bảy. Đứng vào hàng khoảng nửa tiếng, anh không còn cảm thấy thích. Tại một cửa hàng bán thức ăn nhanh, anh mua một gói thuốc Marlboro. Barshay nói với người đứng sau quầy hàng, “và một hộp diêm quẹt,” Anh là người thỉnh thoảng mới hút thuốc lá nên không mang theo bậc lửa. 

Dưới mái hiên của một nhà hàng đã đóng cửa, anh đốt một điếu thuốc. Anh thấy thoả mãn lắm, thật rất vui được gặp lại bạn cũ, thức ăn ngon, chuyện trò thật sinh động, sinh động đủ cho bất cứ trường hợp nào cho một tối thứ Bảy của tháng Mười Một.

Barshay chẳng thiếu một thứ gì.

Có lẽ anh phải về nhà, đọc báo, nằm tại giường với một quyển sách trên tay, xem DVD. Anh tự hỏi mình sẽ thuê phim gì đây, nhưng rồi anh nhớ lại vũ trường Soho Grand. Đã lâu lắm kể từ khi anh đến đó vào một buổi tối cách đây hai mùa hè . Một buổi tối tuyệt vời. 

Vào những tối thứ Bảy luôn có một thứ gì đó diễn ra ở đó, và nó cách đây không xa lắm. 

Anh vứt mẫu thuốc lá và bắt đầu đi bộ. Thoạt đầu chậm rãi, rồi mỗi lúc một nhanh hơn, vô cùng hào hứng.

Khoảng nửa đêm Barshay đến Soho Grand. Tiền sảnh chật ních những người, giống như mong đợi. Không còn một chỗ ngồi, nhưng anh không ngại phải đứng. Anh len lỏi tìm cách đến quầy rượu, gọi một ly rượu, rồi lui vào một góc. Khi băng ngang qua phòng, anh nghĩ anh nhận ra một bệnh nhân trước đây, nhưng khi nhìn kỹ anh thấy đó là một đồng nghiệp trước đây.

Barshay có đọc một quyển sách về những thiên thần, anh không thể dừng đọc, để suy nghĩ, anh không có nhiều cảm nghĩ về thiên thần. Anh nhìn người bạn đồng nghiệp trước đây của anh và anh được nhắc nhở về quyển sách đó. Rõ ràng có một cái gì đó về người đồng nghiệp trước đây đã nhắc nhở anh về một thiên thần. Một cái nhìn đờ đẫn, nước da xanh xao, mái tóc nâu vàng. Barshay biết người đồng nghiệp trước đây cũng thấy anh nữa, nhưng cả hai giả vờ như không thấy.

 

Sau ly rượu thứ hai, Barshay cảm thấy bị thôi thúc muốn hút một điếu thuốc, anh xuống cầu thang và ra ngoài, bên dưới mái che, anh rút ra một điếu thuốc từ trong túi áo mưa. Nhân viên bảo vệ khách sạn cầm dù chạy đến chỗ một chiếc ta-xi để che cho một số khách khỏi bị ướt. Đời vẫn đẹp làm sao!

Barshay không tìm thấy hộp diêm quẹt, vì vậy anh quay sang một cô gái đứng cạnh anh, đang hút thuốc. Cô lấy ra một cái bật lửa trao cho anh mà không nói một lời. Bật lửa tắt ba lần liên tiếp, Barshay phải mở áo mưa để che cho khỏi gió. 

Anh kéo một hơi dài, trong khi cô gái cất cái bật lửa vào túi. Anh nhìn cô và hỏi: “Cô muốn nhảy một bản không?” Cô lấy điếu thuốc ra khỏi miệng, nhưng không trả lời. Cô ngước nhìn vào khách sạn như thể đang kiểm tra để đoan chắc mình đang ở đâu.

“Hay cô đến đây cùng với ai khác?” Barshay gạn hỏi. Đây là Aron Barshay đang lúc sung mãn nhất: đầy nghị lực, được chuẩn bị tốt để tận dụng tốt nhất mọi thứ, khác thường nhưng không bao giờ doạ nạt, người lái cỗ xe vinh quang, người thúc ngựa phi nước đại, như thể anh đang có một nhân vật quan trọng nào đó trong xe.

Cô gái nhìn vào khách sạn một lần nữa.

“Thực ra là không,” cô nói.

“Vậy hãy đi kiếm chỗ nào đó, và nhảy nhé.” Barshay mỉm cười. Một nụ cười bạn có thể tin cậy. Cuối cùng, đó là tất cả những gì về nó: tạo sự tin cậy cả ở bệnh nhân lẫn phụ nữ. 

“Được rồi,” cô nói, “chúng ta hãy đi!”

Họ chạy xuyên qua mưa đến một chiếc tắc xi và Barshay giẫm chiếc dày trái của anh xuống một vũng nước. Nước tung toé lên cao.

Chỉ khi họ ngồi vào trong xe tắc xi Barshay mới nhận ra là họ chưa quyết định đi đâu . Anh để cô ta quyết định. Cô ta buộc phải có ý tưởng tốt hơn về việc đó. Đã quá lâu kể từ ngày anh đi nhảy lần mới đây nhất.

“Chúng ta hãy đến Meatpacking District,” cô nói.”chúng ta sẽ tìm thấy một cái gì thú vị ở đó.

Barshay nghĩ đó là một sự lựa chọn tốt. Tắc xi ra khỏi lề đường.

“Cô có muốn biết tên tôi không?” anh hỏi.

“Những gì anh muốn nói là rằng anh muốn biết tên tôi.”

“Đúng vậy,” Barshay nói, “đó là những gì tôi muốn biết.”

Cô nói với anh tên cô là Madison. Một dạo anh cũng có một bệnh nhân tên là Madison, lâu lắm rồi, một trong những bệnh nhân đầu tiên của anh. 

Barshay nói với cô tên đầu của anh, tên họ thì hãy để lần sau, có lẽ không bao giờ. 

Ống quần bên chân trái của Barshay đang ướt sũng nước.

“Sao cô không mặc áo khoác?” anh hỏi.

“Đây  áo khoác của tôi.”

Barshaw nhìn một miếng vải, có vẻ đối với anh nó giống như một cái gì giữa bộ com-lê gồm quần và áo ấm rộng với miếng vải cắt rời từ áo choàng tắm.

Hộp đêm mà họ đến là nơi Barshay chưa bao giờ đến trước đó. Hộp đêm này mới, có lẽ tân thời nữa. Anh ta hoài nghi về sự tân thời, anh hoài nghi về tất cả các thứ mà người ta kể.

Hai người khiêu vũ nửa tiếng. Madison nhảy rất giỏi, khi đang khiêu vũ cô đắm mình trong dòng nhạc, rất điệu nghệ. Cô ta nhảy khác hẳn với cách cô ta nói. Trẻ trung hơn, táo bạo hơn, dễ dàng hơn.

Rồi họ đến quầy rượu để uống. Cả hai lướt qua đám đông như những nhà chuyên nghiệp, như người ta thường gây tiếng ồn, thường vã mồ hôi hột, thường xúc chạm cơ thể.

“Hãy nói về chính anh đi,” Madison nói khi họ đến quầy và gọi món uống. Anh lau mồ hôi trán. Có gì để nói về chính anh ta? Anh muốn nói gì về chính mình? Nói rằng anh trông  giống như một huấn luyện viên yoga, nhưng dáng vẻ bên ngoài đang đánh lừa anh ta.

“Tôi đang trong tiến trình nhận nuôi một đứa bé người Trung Hoa.”

“Một cái gì?”

“Một bé gái người Trung Quốc.”

“Sao?”

“Tôi thích trẻ em, và tôi có đủ thời gian, tiền bạc. Dường như đối với tôi đây là một điều đúng đắn để làm.”

Có vẻ hơi nghiêm túc, anh ước chi mình có thể nói về việc nhận con nuôi một cách trớ trêu hơn một chút.

Madison cười toe toét. Anh không có ý muốn nói như thế, nhưng anh cũng cười cùng với cô.

“Tôi cũng được nhận nuôi nữa” cô nói. “Tôi thường không nói với người khác về chuyện này nhưng tôi có thể nói với anh, vì tôi sẽ không bao giờ gặp lại anh nữa.”

Giờ đến lượt Barshay bắt đầu cười toe toét. 

Anh không nói gì trong vài giây, rồi anh hỏi “Vậy cô có bao giờ gặp bố mẹ thực của cô chưa?”

“Bố mẹ đẻ của tôi? Chưa, chưa bao giờ.”

“Cô có biết bất cứ thứ gì về họ không?”

“Mẹ tôi rất trẻ khi sinh tôi ra. Mười lăm. Vừa mới mười lăm tuổi. Bà dấu nhẹm chuyện có thai cho riêng mình trong tám tháng.

“Quá trẻ,” Barshay nói, “và bố đẻ của cô?”

“Ông ấy già hơn.”

Nhạc quá lớn nên họ nói gần như quát to.

Món uống của họ đến. Madison đã gọi rượu Kir Royale. Cô nếm thử và nhăn mặt. “Anh thử  xem? Cô yêu cầu.

Barshay nếm thử. “Thật kinh tởm,” anh nói. Chúng ta hãy ra khỏi đây.”

Họ đứng dậy, bước ra phía cửa. 

“Vậy bây giờ làm gì đây?” Madison hỏi khi họ ở bên ngoài. 

Anh nhìn đồng hồ. Anh không có ý kiến. Điều này không giống anh chút nào. Anh luôn có ý kiến, kế hoạch và  những đề xuất, nhưng lúc này anh không biết họ nên đi đâu. 

“Hầu hết trẻ em trong các viện mồ côi Trung Quốc là các bé gái, bởi vì không ai cần chúng, ít nhất là không ở Trung Quốc.” anh nói với hy vọng rằng anh sẽ nghĩ ra một ý tưởng gì đó, chỉ cần anh ấy tiếp tục nói. 

“Nếu tôi là một đứa con trai, tôi không nghĩ là mẹ tôi đã cần tôi nữa.” Madison nói với niềm kiêu hãnh Barshay thấy xúc động.

Anh nghiêng người qua. Anh hôn cô, cô để anh ta tự nhiên. Cô nếm thấy như rượu lemonade cô đặc lại. Còn một miếng kẹo cao su trong miệng cô. Kẹo cao su không cản trở họ. 

Sau cái hôn, họ bắt đầu đi bộ một cách không mục đích dọc theo đường 14. 

“Tại sao cô không cố gắng tìm bố mẹ đẻ?” Barshay hỏi

“Em sợ chúng tôi chẳng có gì để nói với nhau.”

Một lần nữa, câu trả lời của cô khiến anh xúc động. Dĩ nhiên, cứ tưởng tượng em gặp lại bố mẹ em, và rồi một sự im lặng ập xuống. Một sự im lặng tràn ngập khổ đau. Rất có thể xảy ra. Họ lại hôn nhau. Lần này lâu hơn, nhưng ít thận trọng hơn. Như thể họ đã từng làm điều này một thời gian rồi. Anh chú ý thấy cô vừa lấy miếng kẹo cao su ra mà không cho anh ta thấy.

“ Bây giờ chuyện gì nữa đây?” cuối cùng cô ta hỏi. 

Có phải anh chịu trách nhiệm về sự giải trí của cô không? Có phải anh là người đi kèm các cô gái ở cuộc dạ hội? Cô nhỏ nhắn, nhưng rất đẹp, đó là sự thật. Cô đã làm anh rất xúc động.  Các câu trả lời, sự bạo dạn của cô. 

“Tôi có rượu ở nhà. Tôi có thể pha rượu gin và thuốc bổ. Và tôi cũng có một ít rượu vang đỏ rất ngon.” 

“Rượu vang đỏ,” cô nói.

Đã hai giờ rưỡi sáng  Chủ Nhật, ngày 7 tháng Mười Một. 

Ngồi trong tắc xi trên đường về căn hộ của anh, “Anh đã đến Trung Quốc chưa?” Madison muốn biết. 

“Chưa,” anh nhìn cô trong bóng tối nhập nhoạng, tranh tối tranh sáng của xe tắc xi.

“Cô rất khác biệt,” anh nói. Có vẻ giống như một lời thú tội.

“Khác biệt với ai?”

Anh ta thực ra nên nói “khác biệt với các cô gái mà tôi đã đưa về căn hộ của tôi.” nhưng anh không nói.

“Cô rất đặc biệt,” anh nói. “Tôi là một người rất hoài nghi. Tôi thường không nói như thế với phụ nữ. Tôi chưa bao giờ nói như vậy trước đây. Cô rất đặc biệt. 

“Anh cũng rất khác biệt nữa,” Madison nói.

Họ lại hôn nhau. 

“Ai đặt tên cô là Madison vậy? Barshay hỏi sau một cái hôn nữa và có một khoảng ngắn  yên lặng. “Bố mẹ đẻ hay bố mẹ nuôi?” 

“Bố mẹ nuôi. Em chưa có tên khi đến với họ. Mẹ đẻ của em đã không đặt tên cho em vì bà biết bà sắp trao em cho người khác.” 

Cô lấy hộp phấn ra khỏi ví và nhìn chính mình trong chiếc gương soi nhỏ.”Và ai đã đặt tên cho anh vậy, Aron?”

“Bố mẹ tôi, tôi đâu phải là con nuôi.”

“Tệ thật.”

Khi họ bước ra khỏi xe, anh phải giúp Madison.

Gót giày của cô bị vướng đâu đó. Cô chui ra một cách thoải mái.

 

Barshay sống ở Công Viên Phía Tây. Nhân viên trực tầng ban đêm chào anh một cách không mấy sốt sắng. Hắn ngắm nhìn vị bác sĩ tâm thần đi ngang qua. Quan sát cách anh đứng với một cô gái, đang chờ thang máy, cách họ bước vào thang máy. 

Trong khoảnh khắc anh hơi sợ vì biết những gì nhân viên trực tầng ban đêm đang nhìn thấy.

 

“Đợi tôi thay đồ một chút.” Barshay nói khi cả hai đã vào bên trong nhà.

Rồi anh thắp ba cây đèn cầy, đó là tất cả mà anh có. Anh vặn nhỏ tất các bóng đèn.

Anh thay đồ rất nhanh trong phòng ngủ. Một chiếc áo khoác không tay, một quần dài khác, không giày, không bít tất.

Madison đang ngồi trên đi-văng, chờ anh.

Anh rót hai ly rượu vang đỏ ngọt và ngồi xuống kế bên cô.

“Tôi được phép hút thuốc lá ở đây chứ?”

“Tốt hơn là không, trừ phi anh thực sự phải. Có phải anh thực sự muốn hút không?”

“Chưa, có lẽ chút nữa.” 

Cô nhắp thử rượu vang đỏ của cô. Sau khi nếm thử rượu, cô ta nói,”Rượu này khiến em nhớ ông ngoại của em,” cô nói. “Ông thường bỏ cherries vào trong rượu. Rượu vang này có lâu năm không?”

Anh nhìn vào chai và nói. “Hai mươi năm. Bằng tuổi của em đó.”

Cô ta nhìn quanh. “Đây sẽ là chỗ em bé Trung Hoa đến sống?”

“Vâng,” anh ta nói. “Đây sẽ là nhà của bé Trung Hoa.” 

Anh chỉ cho cô căn phòng dành cho em bé anh sẽ nhận nuôi. Họ đi bộ qua khỏi các bức tường mới sơn giống như một cặp vợ chồng đang xem liệu ngôi nhà này có thể là nơi dành cho họ không.

“Cô có nghĩ là cháu bé sẽ thích chỗ này không?” anh hỏi.

“Những đứa bé được nhận nuôi luôn thoả mãn với gần như bất cứ thứ gì.”

Họ hôn nhau, cởi đồ cho nhau, họ làm tình, làm đứng trước, rồi trên sàn nhà, trong phòng dành cho bé Trung Hoa. Sau đó họ nằm trên trường kỷ trong phòng khách, cô nói cô đói bụng. Barshay đưa cho cô một quả táo, một miếng dưa hấu. Cô ăn táo trước rồi dưa hấu. Họ làm tình tiếp. Barshay cảm thấy mình đang yêu. Anh tuyên bố tình yêu của anh với cô ta. Cô cười.

Họ uống một ly rượu vang đỏ nữa. 

 

Bảy giờ sáng rồi, trời bắt đầu sáng rõ bên ngoài khi Madison nói, “Em phải đi.”

Cô mặc quần áo.

“Tôi muốn gặp lại cô,” anh nói. “Chúng ta có thể đi xem phim. Hãy nấu một món gì đó rồi cùng ăn. Cô thích nấu ăn chứ? Cô lấy ra quyển sổ tay nhật ký từ trong ví tiền, xé một trang, ghi số điện thoại trên đó rồi trao cho Barshay. 

Cô phải sớm trở lại,” Barshay nói, “Rồi chúng ta có thể cùng nhau nấu một món gì đó.”

“Cô thích loại thức ăn nào?”

“Em ăn thứ gì cũng được”. 

Trước khi bước vào thang máy, cô quay lại và hôn vội Barshay, đang đứng khoả thân nửa người ở ngưỡng cửa. 

Sau đó mười lăm phút, anh gửi cô một tin nhắn. “Anh nhớ em,” anh viết.

Khá bằng lòng với những gì vừa xảy ra. Barshay đi ngủ. Anh là người đàn ông sắp làm cha và là người sắp đối mặt với mọi khả năng có thể xảy ra, và cũng yêu đương ngay trước lúc bước sang tuổi bốn mươi. 

Lúc hai giờ chiều, anh thức dậy, trời  đã ngớt mưa. Anh lau dọn phòng khách. Một miếng dưa hấu, vỏ táo, và chai rượu vang đỏ gần như hết sạch, bao thuốc lá trống trơn, đèn cầy cháy hết. Anh dọn kỹ mọi thứ một cách thấu đáo, như thể bằng sự lau dọn anh cũng xoá sạch mọi ký ức về cô.

 

 

Một chồng nhật báo và tạp chí anh cũng vứt luôn; từ giờ có lẽ anh không còn đọc chúng nữa. Tất cả cho vào bao nhựa, anh mang xuống lầu, nơi anh nói chuyện với nhân viên trực tầng về vòi nước bị rò rỉ cần được sửa chữa. 

Rồi anh đưa xe ra khỏi nhà xe. Anh muốn lái xe vào khu rừng. Thời tiết tốt cho việc đi bộ.

Trên xa lộ, anh gửi một tin nhắn cho Madison. “Em định làm gì? Đã thức dậy chưa?” anh viết.

Bên ngoài thị trấn Tarrytown, Barshay đậu xe. Anh đi bộ khoảng nửa tiếng xuyên qua khu rừng. Thật yên tĩnh. Anh không bám sát lối đi. Anh đi bộ theo trực giác của anh, đi ngoằn ngoèo xuyên qua khu rừng, dẫu sao thì không thể bị lạc đường ở đây. Cảm giác của việc đang yêu dâng trào mãnh liệt. Bạn cũng có thể cứu những đứa trẻ được nhận nuôi bằng sự bắt đầu một mối quan hệ đối với chúng. Không phải tình yêu giống như việc muốn cứu ai đó sao?

Sau khi đi bộ, trong một nhà hàng ở Tarrytown, anh gọi một tách chocolate nóng với kem đánh, và gửi một tin nhắn khác cho Madison, “Em đang làm gì?”

 

Một tối Chủ Nhật, trước sáu giờ một chút. 

Barshay ngồi tựa ngửa ra ghế, anh ngắm nhìn những khách hàng khác. Có một cặp trong số họ. Anh tưởng tượng anh và Madison cùng nhận nuôi một em bé người Trung Hoa, rồi cùng bắt đầu tưởng tượng về một kỳ nghỉ. Một khách sạn hạng sang, một bể bơi, Madison trên một tấm ván lướt. Cô ta có thích lướt ván không nhỉ?

Lúc sáu giờ mười phút, điện thoại reo. Anh thấy số máy lạ. 

Không phải Madison, một người đàn ông đã quay nhầm số.

Sự thất vọng không kéo dài lâu. Anh thả dòng tư tưởng của mình trôi đến điểm hẹn, nơi anh có thể gặp Madison. Không như một người mơ mộng ban ngày, mà giống như một ai đó đang làm việc tại một hãng du lịch. Khách sạn nào sẽ tốt nhất. Một chuyến bay thích hợp cho một chuyến đi nghỉ một tuần lễ sẽ mất bao lâu. Trong bất cứ trường hợp nào, anh cũng không muốn đưa cô ta đến Florida. Anh đã đến đó quá thường xuyên rồi, thành phố Miami cũng đã đến, không còn chỗ nào ở đó cho anh đến nữa.

Lúc chín giờ rưỡi đêm đó, anh vẫn chưa nghe tin tức từ cô ta. Anh lái xe về nhà và gọi món ăn Thái lên căn hộ anh. Anh ngồi ăn tại đi văng, vội vàng với sự tập trung cao độ.

Trên sàn nhà trong phòng dành cho bé gái Trung Hoa, anh thấy một chiếc bông tai. Anh đặt nó bên cạnh đồng hồ báo thức trên đầu giường, như thể nó là một nghi lễ tôn giáo.

 

Vào tối thứ Ba, Aron Barshaw dự một buổi họp cung cấp thông tin khác tại cơ sở giao nhận con nuôi. “Ông sẽ đón con ông tại phi trường, cháu nó có mang một va li nhỏ,” một thiếu phụ nói với họ. Anh bực mình bởi cái giọng điệu trịch thượng mà thiếu phụ từ cơ sở giao nhận con nuôi ấy nói với những bố mẹ nuôi tương lai. Coi họ như là những đứa con nít.

Trong suốt lúc giải lao, anh bàn bạc với những bố mẹ nuôi tương lai khác. Một vài người trong số họ đồng ý với anh, số khác không có vấn đề gì với cách mà mọi thứ đang diễn ra. Một cặp vợ chồng sợ phải nói ra bất cứ thứ gì. Họ lo sợ sẽ không được trao một em bé Trung Hoa nếu họ  nói ra điều gì. Barshay rất quý trọng sự chân thành của họ.

Những sự thẩm vấn đối với những người bố mẹ đơn thân thấu đáo hơn đối với những cặp vợ chồng. Người bố hoặc mẹ nhận con nuôi trong tương lai phải đóng lệ phí điều tra nữa. Phải tốn một khoản tiền lớn đó. Nhưng Barshay không ngại. Anh xin một cái hẹn tiếp với các nhà phỏng vấn, những người này sẽ đến tận nhà anh trong hai tuần nữa để phỏng vấn tường tận hơn. 

Ngồi trong xe tắc xi trên đường về nhà anh gửi cho Madison một tin nhắn nữa, tin nhắn thứ sáu kể từ khi cô thăm viếng chỗ anh. Cô chưa có phản ứng gì đối với tin nào trong số chúng. Anh cũng đã gọi cho cô hai lần, có lẽ các tin nhắn đã không thông được, nhưng cô không trả lời và hộp thư thoại của cô cũng đã đầy.

Buổi chiều kế tiếp, sau buổi họp  hầu như chủ yếu là về tiền, thư ký của Barshay loan báo rằng anh có mấy người thăm viếng. Thật quan trọng, rõ ràng, ngay cả rất khẩn cấp, Madison, anh nghĩ. Làm sao cô tìm thấy anh ở đây? Có phải thật đáng ngạc nhiên không?

Nhưng một lần nữa, không phải Madison, và cũng không phải là những người khách không mong đợi từ cơ sở giao nhận con nuôi. Một người đàn ông và một người đàn bà. Trạc tuổi anh, có lẽ lớn hơn một chút. Họ xin lỗi vài lần vì đã quấy rầy anh ở nơi làm việc, nhưng họ không thể đến gặp anh tại nhà. 

“Tôi có thể giúp được gì cho hai vị?” anh hỏi.

Hình nền trên máy tính để bàn của anh trống trơn. Anh thích màn hình để trống như vậy. 

Có lần anh nói với một phụ nữ. Bên trong tôi gần như trống rỗng. Điều này khiến cô ta bị sốc nặng. Mặc dầu vậy, không phải là một sự trống rỗng đáng sợ, một cõi hư vô ngăn nắp. Bên trong Aron Barshay, mọi thứ đều ngăn nắp và vui vẻ.

“Chúng tôi đến đây về một người đang bị mất tích,” người phụ nữ nói.

Barshay nhìn bà ta; một cái nhìn mà các đồng nghiệp anh nghĩ giống như được diễn tập. Mặc dầu anh đang biểu diễn, một sự biểu diễn đúng như thật. Một bác sĩ tâm thần thường phải diễn xuất. 

“Chúng tôi được thuê bởi bố mẹ cô gái,” người đàn ông nói. “Cảnh sát điều tra chậm lắm.”

Từ một phong bì màu trắng, người đàn ông đưa ra một tấm hình. Gần như rụt rè, ông đưa tấm hình cho Barshay. 

Đây là cô gái,” người đàn ông nói, “ông có nhận ra cô ta không?”

Barshay nhìn vào tấm hình.

Anh nhìn người đàn ông. Không phải người đàn ông anh thường nghĩ đến: ông ta theo dấu những người bị mất tích. Rồi anh nhìn vào tấm hình một lần nữa.

“Tại sao ông hỏi tôi về chuyện này?” Barshay hỏi.

“Bởi vì chúng tôi nghĩ gần đây anh có gặp cô ấy,” người phụ nữ nói. “Có đúng vậy không?” Có phải mới đây ông có gặp cô ta?” Người phụ nữ đẩy tấm hình đến gần chỗ anh hơn. Bà ta mạnh mẽ hơn, hung hăng hơn. 

Barshay nhặt tấm hình lên. Dù rằng anh không cần. Bà ta rất có thể nhận ra, Barshay  hoàn toàn khác hẳn với cái cách mà anh nhớ lại bà.

Barshay lục trong ngăn kéo, lôi ra một thỏi sơn dưỡng môi và thoa nó lên môi anh.

Tấm hình của Madison khiến anh sầu muộn, buồn bã, nó làm anh ngạc nhiên, nó khiến anh bực tức. Những gì làm anh bực tức là cảm giác nhớ cô ta. Anh không muốn nhớ ai. Nhớ người khác còn nguy hiểm hơn là một bàn giấy lộn xộn. Đó là một chứng bệnh, một sự khởi đầu của nỗi ám ảnh.

“Đúng vậy,” anh nói, “tôi có thấy cô ta hôm cuối tuần vừa rồi. Đã gặp cô ta, mới đúng.”

Người đàn ông và người phụ nữ nhìn nhau

“Chính xác là ông đã gặp cô ấy ở đâu?” người đàn ông hỏi.

Barshay nhìn tấm hình một lần nữa. Cô không đeo bông tai trong tấm hình này. Mặc dầu chắc chắn cô có đeo dây chuyền.  Anh nhận ra cô ta không mấy khó khăn, nhưng trong tấm hình này cô ta giống như một ai khác. Không phải là cô gái anh gặp ở vũ trường Soho Grand. Trẻ hơn, thậm chí còn rất trẻ, trâng tráo hơn, thậm chí còn rất trơ trẽn. Một cái nhìn tỏ ra cóc cần bất cứ ai, bất cứ thứ gì. Barshay thích cái nhìn đó. Thứ nhất chủ nghĩa hoài nghi, rồi với ngón tay giữa giơ lên với thế giới, với số phận, với văn hoá, với khoa học, với thần thánh, với những vị anh hùng đã khuất, với mụ đàn bà từ cơ sở giao nhận con nuôi, cả Trung Quốc nữa.. “Thực ra hai người đã tình cờ đến gặp tôi bằng cách nào?” Barshay hỏi. “Hai người đã tìm thấy tôi bằng cách nào?”

Người đàn ông mỉm cười. “Đó là nghề của chúng tôi” ông ta nói.”Người ta để lại dấu vết. Họ không khỏi không làm như thế”. Ông nói điều này với một chút u sầu nào đó, như thể sẽ tốt hơn nếu người ta không để lại bất cứ dấu vết gì. 

“Tôi thực sự muốn giúp ông, nhưng chúng ta có thể tiếp tục buổi nói chuyện này trong hai, ba tiếng nữa, được chứ? Có lẽ tại một nơi nào khác ngoài toà nhà này?  Tôi có việc khẩn cấp cần tham dự.

Barshay đề cập đến tên của quán ăn tự phục vụ nới thỉnh thoảng anh ăn trưa mỗi khi anh không cảm thấy thích đi đến căn tin của bệnh viện.

Một lần nữa, khi anh ở một mình anh lấy một bản báo cáo ra khỏi ngăn kéo, bản báo cáo của một đồng nghiệp đã viết; anh được cho là có nhiệm vụ  phải sửa nó và ghi bình luận của mình bên dưới. Anh đọc nhưng anh không thể nào tập trung vào bản văn. 

Barshay lấy điện thoại của anh ra và gửi cho Madison một tin nhắn, vui vẻ nhưng rất khẩn cấp. “Cô đang ở đâu? Hãy gọi ngay cho tôi. Tôi cần nói chuyện với cô.”

Anh viết tên cô ta lên thếp giấy ghi toa thuốc, hai lần.  Rồi anh cố quay lại đọc tiếp bản báo cáo của đồng nghiệp anh với chức năng nhớ lại trong số những bệnh nhân mắc bệnh PTSD.

Barshay không muốn đến quán ăn tự phục vụ, nhưng dẫu sao thì anh cũng phải đi. Anh chẳng có gì phải trốn tránh. Anh chưa bao giờ có bất cứ thứ gì phải che dấu. Một người theo chủ nghĩa hoài nghi hoàn hảo. Đó chính là Aron Barshay.

Có phải cô ta thực sự một mình? Khi ông gặp cô ấy?” người phụ nữ hỏi sau khi Barshay nói với họ anh đã gặp cô ta như thế nào. Vũ trường Soho Grand . Cơn mưa. Hộp đêm. 

Barshay suy nghĩ về nó.

“Không có bất cứ người nào khác sao. Một người nào đó  nói chuyện với cô ta chẳng hạn? người đàn ông hỏi.

Không, theo như tôi biết, tôi là người duy nhất nói chuyện với cô ta”. Có vẻ một sự tự hào  xuất phát từ anh ta, có vẻ giống như một sự thành tựu. 

“Cô ấy đang đứng bên ngoài, hút thuốc lá.”

“Ông biết rằng cô ta chỉ mới mười lăm tuổi?” người phụ nữ hỏi.

“Chúa tôi,”

Anh khoáy cà phê của anh, anh cho thêm ít sữa.

“Cô ta không bao giờ đề cập đến tuổi của mình. Tôi nghĩ đâu khoảng hai mươi hai, hai mươi ba gì đấy. Có lẽ là hai mươi. Cô ta có vẻ trưởng thành. Chúng ta đang nói về cùng một người, có phải không? Tôi khó mà có thể tưởng tượng cô chỉ mới mười lăm. Chắc chắn là có sự nhầm lẫn gì rồi. Không ai hỏi cô giấy tờ tuỳ thân, cũng không ngay cả cô vào vũ trường. Cô không thể nào chỉ mới mười lăm tuổi.

Barshay tiếp tục tường thuật những gì đã xảy ra đêm đó đến từng chi tiết nhỏ. Anh đề cập đến miếng dưa hấu, quả táo và rượu vang đỏ, nhưng không nói đến chuyện làm tình. Anh đi từng chi tiết về  đứa bé Trung Hoa mà anh đang dự định nhận làm con nuôi.

“Và hôm đó là Chủ Nhật? Anh đã làm gì?” người đàn ông hỏi. 

“Tôi ra ngoài đi bộ đường trường trong khu rừng gần thị trấn Tarrytown.”

Ông có làm việc này thường xuyên không?”

Lúc này chính người đàn ông mới là người sẽ không cho phép đi.

“Cái gì?”

“Đi bộ trong rừng?”

“Không thường xuyên lắm, nhưng thường đủ để khỏi bị đi lạc.”

 

Barshay đáp xe điện ngầm về nhà. Anh xả nước đầy bồn tắm và nằm vào trong đó. Anh đọc một tờ báo. Chẳng có tin tức gì về Madison. Điều này khiến tâm hồn anh thoải mái. 

Anh đọc lướt qua mấy tờ rơi của các nhà hàng giao thức ăn . Anh không thể chọn. Anh gọi cho bạn anh nhưng gác máy sau khi để reo hai lần. Barshay nằm xuống giường. Anh cảm thấy thật đáng yêu hơn bao giờ hết. 

Những người từ hãng tìm người mất tích  không trở lại tìm anh. Có lẽ vụ này đã được giải quyết. Tuy vậy, Barshay không dám liên lạc với Madison. Lúc này tuỳ thuộc vào cô, anh nghĩ. Bạn không nên trói buộc chính mình vào một cô gái mới mười lăm tuổi. Bạn phải để cho những thanh thiếu niên thời gian mà chúng cần.

Lại một lần nữa, anh nghĩ về đêm mà họ yêu nhau. Buổi tối với bạn anh, khách sạn, rượu. Sự khinh suất, sự nhiệt tình, tất cả đã tràn về với Barshay. Tính không dễ bị đánh bại. Năng lực, một thứ năng lực thuần tuý mà sự yêu đương đã tạo cho anh ta, mà Madison đã cho anh, cái cách đã làm anh xúc động, sự nhận làm con nuôi. Anh ước chi anh có thể đi du lịch với cô, anh ước chi anh có thể nói với cô ta: “Giờ hai ta có thể cùng nhau nhận nuôi một em bé, và chúng ta sẽ không để nó cô đơn. Những đứa bé không được cần đến, không được đặt tên vì chúng cực kỳ không mong muốn, chúng mình sẽ chăm sóc chúng. Em và anh. Chúng ta sẽ cho chúng một gia đình. Khi bạn nghĩ về nó một cách hợp lôgic, bạn sẽ thấy tất cả chúng ta đều không được mong muốn. Những người không được mong muốn gắn bó với một vị Thượng Đế không mong muốn. Đó là những gì chúng ta đang là. Vì vậy đừng cảm thấy mình bị bỏ rơi. Tôi muốn nói, không được mong muốn như bạn thích, nhưng cảm thấy được chào đón. Với tôi,”

Một tối thứ Năm, anh gọi đến hãng du lịch đặt vé cho một chuyến đi ngắn ngày nhưng bao gồm tất cả  đến đảo Ca-ri-bê.

Hai ngày trước khi khởi hành đi đến đảo Ca-ri-bê, anh tắm vào buổi tối và nằm trên giường với một bát đậu phộng rang. Anh xem TV, đài truyền hình địa phương, tin tức thời sự. Thỉnh thoảng anh ngủ gật, rồi giật mình tỉnh thức, ăn một ít hạt đậu phộng rang.

Khoảng sau chín giờ ba mươi, một người đàn ông xuất hiện trên TV, nói về một cô gái họ vừa tìm thấy ở gần thị trấn Tarrytown. Hình của cô ta xuất hiện trên màn hình.

Aron Barshay ngồi bật dậy trên giường. Bát đậu phộng rang rơi xuống sàn nhà. Anh thấy những người đàn ông đang khiêng một cái bao tải.

Aron Barshay nhìn vào TV, anh nhìn vào tấm hình của một cô gái trên TV . Anh nhìn và anh nhìn , và anh nhìn, anh cố nhớ lại cô ta, anh cố nhớ lại chính anh, một gã hoài nghi thân thiện, một người theo chủ nghĩa hoài nghi cả trong tình yêu, một bác sĩ tâm thần, người mà trông giống như một giáo viên dạy yoga, nhưng anh đứng trước ký ức của riêng anh như trước những cánh cổng vào thiên đường, nơi anh không được phép bước vào.

 

                                                           Phan Thiện Trì chuyển ngữ

                                                                    September, 2021

 

                                              

                                                                              

 

 

 

 

 

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

MUA RAO  - Hwang sun Won (uo) https://gtvh51.blogspot.com/2024/10/rao-sun-won-han-quoc-ngay-khi-cau-be.html