DSS11. TẤM ẢNH
Hella Haasse
Translated into English by Laura Watkinson
Translated from English into Vietnamese by Phan Thien Tri
Một quí bà có quyền thế của tiểu thuyết lịch sử, Hella Haasse (1918-2011) là một trong số những nhân vật then chốt trong nền văn học Hà Lan thời hậu chiến. Bà ra mắt công chúng của bà với quyển tiểu thuyết ngắnThe Black Lake (1949), một câu chuyện về tình bạn giữa cậu con trai người Hà Lan và cậu con trai người Indonesia, cơ sở trên sự trải nghiệm trưởng thành của bà ở Đông Ấn Hà Lan. Haasse nhận nhiều giải thưởng văn học có uy tín, trong số chúng là Giải Thưởng Văn Học Hà Lan năm 2004. Tác phẩm của bà được dịch sang nhiều thứ tiếng. The Tea Lords là tác phẩm đầu tiên trong số những tác phẩm của bà được dịch sang tiếng Anh khoảng mười lăm năm qua.
Tôi không nhớ là đã từng thấy nó trước đây, thế nhưng nó trông có vẻ rất quen thuộc. Cô y tá đưa tấm ảnh cho Charlotte, một ngày sau khi Cha mất. Cô nói nó ở trong tủ cạnh giường suốt mấy tháng vừa qua. Thỉnh thoảng ông có hỏi về nó, cầm nó trên tay một lúc. Lúc đó ông khó mà có thể thấy rõ.
“Không phải gia đình, nhất định không phải gia đình,” Charlotte nói, và cô ta có lẽ biết vì cô ta giữ hồ sơ gia phả của chúng tôi. Một ngày vài lần cô lấy tấm ảnh ra khỏi cái chặn giấy và ngắm nhìn nó qua cặp mắt kiếng chữ của cô. “Họ có thể là ai? Một người đàn ông với chiếc mũ lưỡi trai, chỉ mặc áo sơ mi không mặc áo khoác, dây đeo quần; một người phụ nữ mặc áo không tay đen bóng, gớm ghiếc và hai người con. Ắt hẳn đó là một trong những người giúp việc của ông ngoại, có thể là người làm vườn. Ai đó đã viết “1915” vào mặt sau của tấm ảnh. Chỗ ở của chúng tôi hồi đó nay vẫn còn trong đất nước này”.
Bertus phản ứng bằng cái nhún vai và tiếng thở dài bực tức.
“Tôi muốn biết, tôi không thể chịu đựng được,” Charlotte nói đi nói lại. “Tại sao Bố lại có tấm hình này trong tủ cạnh giường ? Anh biết ông như thế nào không, không bao giờ mang trong người bất cứ tấm hình nào, ngay cả hình của Mẹ hoặc của các cháu. Trông này, cậu có thể thấy một loại nhà nhỏ trên nền hình, một bức tường bằng gạch với một cửa sổ, một phần của hàng rào. Có phải có một ngôi nhà của người làm vườn ở điền trang của ông ngoại không? Hẳn nhiên là cậu có thể nhớ, Bertus à, trước đây cậu thường ở đó mà. Cậu sáu tuổi vào năm 1915, không, bảy tuổi.”
Khi Charlotte bắt đầu nói như thế, Bertus nhắm mắt như thể anh muốn dấu kín những gì bên trong anh. Charlotte biết không chút khoan dung; ngay khi cô ta chú ý thấy anh ta không muốn làm một cái gì đó, hay không muốn nói về một cái gì đó, cô ta tấn công tới tấp vào anh ta bằng những câu hỏi, khoét sâu vào lớp che chắn mà anh cố dựng lên quanh mình. Không phải một sự mong muốn gây đau khổ, cũng không phải do tính bướng bỉnh mà vì sự thiếu khả năng hay sự thiếu thiện chí của Bertus trong sự trả lời thường có vẻ mở ra những lỗ hổng lớn của sự thiếu tự tin nơi Charlotte, và cô đòi hỏi sự đoan chắc một lần nữa. Thường thường đó là những vấn đề lặt vặt. Một đứa bé bị hoảng sợ có thể bỗng thấy một bà tiên tóc trắng dáng vẻ kiên quyết xuất hiện bên trong nó. Tôi biết nó cảm thấy thế nào. Tôi rất quen với cảm giác nghi ngờ đó, mặc dầu vậy tôi vẫn không mong điều đó nơi Charlotte.
Tất nhiên, thoạt tiên không thể thuyết phục Bertus nhớ lại bất cứ những kỷ niệm nào của thời thơ ấu, nhưng cách chắc ăn nhất là gợi mở cho anh ta bắt đầu nói ra những hồi ức xa xưa. Và rồi, do kết quả của sự kiên định của cô, đồng thời với sự lưỡng lự thấy rõ nơi anh, cuối cùng một số hồi ức hiện ra làm anh nhớ lại: “Có một con chó già nhốt trong chuồng. Một lối đi lát gạch với hoa thược dược mỗi bên. Một mương nước đầy ắp bèo tấm, nơi ta có thể bắt ếch. Những bụi cây quả lý chua …”
Charlotte, đang nóng lòng, cảm thấy không mấy thoả đáng, liền hỏi, “ Nhưng cậu không nhớ chút gì về ngôi điền trang sao? Ý chị muốn nói ngôi nhà và khu vườn? Ắt hẳn phải có vườn cây ăn trái. Bố có đôi lần nói về chúng, về việc ăn cây trái trong vườn nhà. Dĩ nhiên, phải có người làm vườn.”
Bertus liếc nhìn cô, khi cô nói điều đó, bằng cái nhìn hết sức dè dặt đối với cô, một sự biểu hiện đầy hoài nghi và tội nghiệp.” Không, theo tôi biết thì không có người làm vườn nào cả,” anh nói.
Charlotte muốn chỉ cho anh ta thấy tấm hình lần thứ một trăm : “ Đây, hãy nhìn đây. Hãy xem kỹ. Cậu không nhận ra bất cứ thứ gì sao? Kìa là hàng rào cây thuỷ lạp và những bông hoa thược dược dong dỏng cao kia hẳn phải thuộc về căn nhà tranh của người làm vườn, nhưng cậu có thể thấy những cây cao đằng sau hàng rào …”
Bertus không dễ mất kiên nhẫn, nhưng trong trường hợp đó tôi thấy anh ta hất tay Charlotte ra trong cơn giận dữ. “Tại sao chị quan tâm quá vậy, đàn bà các người?”
Charlotte trở nên căng thẳng thấy rõ. Chị nói với tôi qua đầu Bertus, “Elza, em hiểu tại sao Bố muốn giữ tấm ảnh này bên mình không ?” Bố không bao giờ làm chuyện gì mà không có lý do cả. Năm 1915. Chuyện gì xảy ra vào thời gian này ? Lúc ấy chị mới hai tuổi. Đó há không phải là lúc Bố bắt đầu mở rộng việc kinh doanh sao?
“Chị quên là em sinh vào năm 1930,” tôi nói. “Chị không biết chút gì về việc em và anh Bertus gọi “những ngày xưa thân ái”. Tôi lấy tấm ảnh từ tay chị và đặt nó trở lại dưới cái chặn giấy, một cục thuỷ tinh đánh bóng thành hình bán cầu, tôi có thể thấy khuôn mặt người đàn ông được phóng to hết cỡ trong đó, và một phần của đứa bé gái ông đang ẵm trên tay. Ông ta trông có vẻ như vừa nói chuyện với đứa bé. Hãy nhìn chú chim non! Cái mỉm cười trong đôi mắt của ông ta như chỉ dành cho cô bé, và cho bàn tay nhỏ bé mũm mĩm nó đang áp vào bên má trái của ông. “Một người đàn ông tử tế,” tôi nói, nhưng Charlotte thì đang thả hồn theo dòng tư tưởng của riêng cô: “Bố rất có thể có những nghĩa vụ nào đó mà chúng ta chẳng biết tí nào về nó”.
Bertus lầm bầm chuyện gì đó phía sau tờ báo.
“Không phải là một chuyện lạ lùng lắm sao?” Charlotte ngắt lời.
“Không, đối với bất cứ ai biết rõ, vì vậy chị chớ bắt chính mình tiến sâu vào mọi chuyện. Nó chẳng tốn chị một đồng xu nào,” Bertus nói ngắn gọn, vớ vẩn. Charlotte xoa chiếc khăn tay giữa hai lòng bàn tay. “Như thể chính chị, người đầu tiên chị nghĩ đến chính là mấy đứa trẻ. Không phải là lần đầu Bố gây cho chúng ta sự ngạc nhiên đến phát tởm”…
Bertus: “Ồ, vì vậy chị sẽ đưa việc này ra lại, có phải không ?
Charlotte: “Những cậu con trai thì còn quá nhỏ vào năm 1945, nhưng chúng cũng có thể đủ hiểu về những gì đang diễn ra. Cách đây đã hai mươi năm, cũng may là ngày nay người ta đã nghĩ khác đi, và ngay cả như vậy …”.
Đôi khi cứ giả câm giả điếc là điều hạnh phúc nhất.
Việc thực hiện di chúc của Bố đang khá sôi nổi. Chẳng có gì nhiều ngoài căn nhà của bố, nơi cả ba chúng ta được sinh ra và lớn lên. Charlotte vẫn tiếp tục đưa việc ấy ra, nói rằng chúng ta nên đến sống ở đó. Chị ta nghĩ thật quan trọng, “tài sản kế thừa cho con cái,” con cái của chị . Bertus ít nhất có thể thể hiện sự bực dọc của mình qua sự không ưa thích thường lệ của sự đổi thay và om sòm. Anh nêu ra nào là sự tốn kém khi làm cho căn nhà có thể ở được, sau khoảng thời gian dài bỏ bê, không ai coi ngó, một số phần bỏ trống, nào là phải đổi mới, sửa chữa , lắp đặt máy sưởi chạy bằng dầu, nào là chi phí bảo hành và chăm sóc. “Chị sẽ thoải mái hơn nếu ở đây với em trong căn hộ này, chị Charlotte ạ. “Chúng ta sẽ không trẻ hơn chút nào đâu nếu ….”.
“Chị không nghĩ cho chính mình đâu, chị đang nghĩ cho các con của chị”. Lúc nào cũng vậy, đó là chỗ mạnh miệng nhất của chị mỗi khi tranh luận. Chị là người duy nhất trong ba chúng tôi đã lập gia đình và có con cái, và vì vậy, chị cũng là người duy nhất, hoặc như chị nghĩ như vậy, hiểu rõ cuộc đời và hội đủ điều kiện để qua được sự phán xét. Trong khi chị nói và nói thao thao bất tuyệt, thì Bertus và tôi thỉnh thoảng liếc nhìn nhau, bị dồn dập bởi giọng nữ lanh lảnh của Charlotte, những bức tường bằng ván gỗ đen lại hiện lên quanh chúng tôi; chiếc cầu thang hình trôn ốc uốn lượn như con rắn từ tầng hầm lên đến mái vòm bằng kính màu chót vót cao trên mái nhà; sự đối xứng của các dãy hành lang, các phòng, các cửa ra vào, các ban công đều chật hẹp tù túng như trước giờ, mọi đường nét biến mất tại một điểm đơn độc bên ngoài đường chân trời; bất cứ thứ gì ở gần, và trong phạm vi tầm nhìn đều rõ nét, đều được phát hoạ, đều bị lạnh giá. Trong đầu óc chị, Charlotte rõ ràng đã sắp xếp lại mọi thứ: chỉ định lãnh địa cho mỗi trong ba chúng tôi, trong các phòng còn lại chị dự tính dành cho đứa con trai trưởng của chị (hiện đang làm kinh doanh), để tiếp đón khách hàng, cho đứa cháu nội (sau này) để tổ chức tiệc tùng cho các bạn sinh viên và cho tiệc mừng tốt nghiệp của nó, cho đứa cháu gái (trong tương lai khá xa) của chị tổ chức tiệc cưới, cho đứa con trai thứ hai của chị (hiện đang ở Mỹ, làm công tác nghiên cứu trong phòng thí nghiệm) với vợ và các con của nó đang trong kỳ nghỉ phép năm (của giáo sư Đại học, bảy năm một lần) ở Châu Âu.
“Chúa tôi !” là tất cả những gì Bertus nói, và rồi Charlotte bắt đầu trở nên bực tức: “Chị biết điều này chẳng có ý nghĩa gì đối với hai em, những người còn độc thân, chị không mong bất cứ thứ gì khác, nhưng có lẽ chỉ đối với một lần trong đời của em, em có thể thấy rằng, trở nên goá chồng ở tuổi còn quá trẻ như chị, chị đã phải từ chối con cái quá nhiều thứ mà lẽ ra chúng phải được giao quyền để làm. Chị cảm thấy mình có nghĩa vụ đối với ký ức về anh Sander…”
Ngay khi tôi đủ tuổi, tôi đã rời khỏi nơi ấy. Một chút tự trọng nhỏ nhoi mà tôi có được cơ sở trên sự kiện rằng tôi đã thành công trong việc tự xoay sở trong việc học hành mà không có bất cứ sự hổ trợ nào về mặt tài chánh từ Bố. Tôi không muốn về lại nơi có những dãy hành lang với hàng dài của những nhánh gạc nai, mà vào mùa đông như thể tiếp nối với vô số cành cây trụi lá dọc theo đại lộ. Có quá nhiều cửa ra vào khoá kín trong căn nhà đó suốt những năm sau chiến tranh khi tôi sống ở đó một mình với Bố tôi. Những tấm thảm vừa khớp mà chị đã dự định trải từ tầng hầm lên tận căn gác xép trên sân thượng sẽ không bao giờ có thể xua đi âm vang bước chân của người đàn ông già đó, nói chi tới những bước chân của người khác, trước khi …
Người đàn ông trong tấm hình có đôi mắt sáng quắt. Dáng vẻ vui tươi, tuy có hơi mệt mỏi, quyết đoán nhưng nhẫn nhục. Ông đang ôm chặt đứa bé, chỉ cho người nhiếp ảnh và mọi người xem, và ông đang bảo nó nhìn những gì đằng trước nó. Nhưng chưa có dấu hiệu được thấy biểu hiện trên khuôn mặt nhỏ nhắn, tròn trịa như búp bê bên dưới diềm mũ lưỡi trai, chắc có lẽ người ta đội lên nó để che khỏi ánh nắng mặt trời. Một bé trai trong bộ đồ thuỷ thủ đang đứng thẳng người và cầm tay một người phụ nữ. Cậu có vẻ nhận biết rõ, mặc dầu cậu như muốn kéo bàn tay cậu đang cầm như thể thuyết phục bà đến tham gia với họ. Một chút gì đó có tính cách tự vệ trong dáng đứng của bà, bà ép cằm xuống, vầng trán nhíu lại một cách đau khổ, không chỉ vì ánh đèn chói mắt, ánh sáng chói của vải sa tanh đen bóng trên dường cong ở ngực bà, hai chóp của đôi ủng của bà là hai hình vuông bóng loáng. Khi nhìn qua lớp thuỷ tinh khuếch đại của cái chặn giấy, tôi có thể thấy rõ hơn: làn da chai nhám trên hai bàn tay thô bự của bà, những đường thâm quần quanh đôi mắt của người đàn ông, những chỗ nối và đinh đóng trên mấy tấm ván bị hỏng nát vì mưa gió của hàng rào đằng sau đầu của họ.
Chúng tôi đã không chụp hình và không được chụp hình. Tôi đã không ngớt suy nghĩ về điều này ngay khi tôi còn nhỏ, nhưng đã coi đó như là điều hiển nhiên. Đó chính là một phần của sự yên lặng và tình trạng trống vắng đến lạ lùng của cuộc sống chúng tôi ở tại nhà, và tính tình của Bố tôi, người mà luôn luôn giữ vững những nguyên tắc khác, khó có thể giải thích vì chúng quá cứng nhắc. Khi chị Charlotte đưa đề tài về ngôi nhà cũ của chúng tôi ra – như chị đã lập đi lập lại, với hy vọng dẫn đưa Bertus và tôi đến nơi chị muốn chúng tôi đến – Tôi cảm thấy một thế giới không có viễn ảnh tương lai đang di chuyển về phía tôi: rõ ràng không với tới được, và quá xa vời, như chỗ cầu thang, các dãy hành lang, quang cảnh nhìn từ các dãy phòng, toàn cảnh tuyệt đẹp đằng sau các cửa sổ, nhưng thực tế chỉ là ảo ảnh. Về lại mái nhà xưa có nghĩa là bị buộc phải tồn tại trong một thế giới có ít phạm vi hơn để tôi tồn tại.
Giờ đây, chị Charlotte đang đưa ra tất cả những chỗ dừng chân. Trong suốt cuộc tranh luận vừa rồi, sự tấn công và sự tố cáo lẫn nhau của chị mang tính cá nhân …
“Chị chỉ rất khác biệt với hai đứa. Bertus có lối sống của một tiểu tư sản, ý chị muốn nói là cuộc sống sung túc tốt, cứ nhìn vào đôi dép lê kìa, bao lâu mà em còn có thể túm tụm lại bên cạnh lò sưởi với ống điếu trên môi và tờ báo trước mặt thì em chẳng bao giờ có lấy một chút phong thái, rốt cục, vẫn còn sót lại như truyền thống gia đình, nhà từ đường của Bố …”
“Thực ra là nhà của Mẹ,” Bertus nói một cách bình thản, nhưng như thường lệ, Charlotte phớt lờ nhận xét này. Cô có vẻ thấy thật đáng xấu hổ rằng Bố đã dọn vào ở với mấy người em rể sau cuộc hôn nhân của mình.
“… rốt cục, là nhà cửa đất đai của gia đình, và có một thứ gì đó về nó, đó là …”
“Phong kiến,” tôi nói, làm đầy đủ câu nói của chị, nhưng trớ trêu thay nó bị chị Charlotte bỏ ngoài tai.
“Và chị không thể hiểu nổi em đó, em Elza à. Trong ba chúng ta, em là người quá dễ dãi trong chuyện gia đình, em là đứa bé gái nhỏ nhất trong gia đình, em được phép làm bất cứ thứ gì em thích. Không, đừng thộn mặt ra thế, rõ ràng là em không hiểu là em hư hỏng đến mức nào đâu so với Bertus và chị. Nhưng thôi, em cần một thái cực khác, em phải trở lại khu nhà ổ chuột tồi tàn nhớp nhúa ấy với bất cứ lý do gì. Sự không ưa thích tài sản đầy xuẩn ngốc của em, sự sợ hãi cuộc sống bình thường, chưa kể bệnh tật và sự bất hạnh khác của em. Làm sao Bertus và chị không khỏi thương hại em …”
Mẹ chết vì bệnh xơ vữa động mạch ngay sau khi em được sinh ra đời. Charlotte lúc ấy là một phụ nữ đã có gia đình và con cái, anh Bertus đã khôn lớn và rời khỏi nhà, tôi thì còn đang theo học bậc tiểu học. Khoảng thời gian ấy, Bố luôn bị cuốn hút bởi công việc kinh doanh, nuông chiều vì thiếu sự quan tâm, khoan dung vì cảm giác tội lỗi. Nhưng Bố sống nhờ vào ký ức về anh chị tôi như một người không ngừng thực thi quyền lực một cách nghiêm khắc. Những đổi thay sau chiến tranh không thể xoá đi hình ảnh của Bố. Họ hiếm khi trở về nhà, khó mà biết được một con người đơn độc, lầm bầm suốt ngày bên bàn giấy, một ông già, tóc muối tiêu lê bước từ phòng này sang phòng khác. Tôi không muốn ghét bỏ Bố tôi. Tôi không biết tên gì để gọi cho sự xấu hổ ấy. Mỗi khi nhớ đến Bố, tôi đều cảm nghe một niềm thương cảm xót xa: một người làm việc một cách say mê, liên tục để xây đắp cho doanh nghiệp của mình, một con người gần như mất mọi thứ có giá trị với chính mình, mất hết mọi tư hữu, mọi thanh thế, thậm chí, có một giai đoạn mất cả quyền công dân của mình vì, như ông đã đặt vào, đã “cá cược nhầm vào một con ngựa”.
“Em không muốn về sống ở đó đâu, chị Charlotte,” tôi nói.
“Em và Bertus hết sức khắn khít, nó thì chùng , em thì quá căng. Một căn nhà đẹp như thế, những người như chúng ta phải có nghĩa vụ đối với nó. Giá mà nhà của ông bà nội không bị thiêu rụi …”.
Bertus ho.
“Ôi, hoặc bị truất hữu, bị phá huỷ, em không biết gì nhiều hơn chị đâu. Hãy về và nghĩ đến nó. Em biết được những gì?”.
Charlotte lấy tấm hình ra lại từ phía dưới cái kẹp giấy.. “Một cái gì đó mách bảo chị biết rằng tấm hình này ắt hẳn đã được chụp ở điền trang của ông nội. Bertus , cậu làm ơn cố nhớ lại xem? Có phải lúc này cậu không nhớ chút gì …?”
Bertus, phát cáu, làm sột soạt tờ báo trên tay.”Chị muốn em nói gì đây? Em được cho là có nhiệm vụ phải nhớ lại những gì? Em đã kể cho chị mọi thứ em biết”.
“Nhưng tất cả những gì em kể chỉ là những thứ vụn vặt, chẳng có công dụng gì với chúng ta. Một mương nước với bèo tấm trên mặt nước, hoa thược dược, quả lý chua, những thứ đó chỗ nào chẳng có”.
Nắng chiều còn đọng lại trên bức tường lót ván màu đen. Tôi đẩy đĩa quả lý chua ngang qua bàn về phía Bố. Chầm chậm, bố tự tìm một chùm còn nguyên vẹn trong số những trái cây đã tháo rời, vặn nó xung quanh bằng các ngón tay, nói lầm bầm trong miệng, như thể cho chính mình hơn là cho tôi (thường thì chúng tôi sống trong sự yên lặng hoàn toàn) một thứ gì đó về những bụi cây quả lý chua đằng sau căn nhà thời thơ ấu của Bố, về những tấm vải thưa như mạng nhện bị rách khi dùng hái trái cây, về việc tuốt sạch tất cả những quả lý chua. Tôi ngắt lời chị Charlotte, lập lại sự nhận xét hiếm hoi của tôi về Bố. Ông không bao giờ nói về tuổi trẻ của mình. Bertus nhìn Charlotte: “Những bụi cây quả lý chua, đó là những gì em đã nói. Phía sau phía nhà kho. Nơi em được phép giúp để cưa và bửa củi cho việc đốt lò sưởi”.
Charlotte: “ Người làm vườn, dĩ nhiên, vì vậy ắt hẳn em có thể nhận ra người ấy”.
“Em không biết chút gì về bất cứ người làm vườn nào cả,” Bertus nói một cách cộc lốc. “Chị và người làm vườn của chị”.
Rồi cậu ta biến mất đằng sau tờ báo trở lại, Charlotte giận dữ giật mạnh tấm vải thêu bên dưới đèn bàn, một tấm khăn bàn rộng lớn với đăng ten có lỗ thủng trang trí dành cho đứa con dâu của chị để được sử dụng tại các bửa tiệc tối trong tương lai để gây ấn tượng cho các thân chủ. “Chắc chắn em là một cậu bé đặc biệt nhất. Chị vẫn còn có thể nhớ rất nhiều thứ từ khi chị lên sáu nếu chị được phép đến nhà ông nội, bà nội ở tuổi ấy… nhưng họ đã chết trước lúc đó, và ngôi nhà đã được bán mất …”.
“Hay đã bị dỡ bỏ. Hay đã bị thiêu rụi,” tôi nói. Mí mắt của Charlotte giật giật.
Giờ đây, Evert và Mary trở nên có dính líu tới nữa. Điều đáng chú ý là chẳng bao lâu sau chuyến thăm viếng trước đó của họ, họ lại lái xe đến, lần này không có lũ nhỏ, trong chiếc xe Anh quốc được bảo trì hoàn hảo, một kiểu xe rất hiện đại. Charlotte ắt hẳn đã lưu ý họ trước. Không lời mở đầu xã giao, như chúng tôi quen từ họ ( họ chẳng bao giờ xuất hiện trừ phi họ muốn một cái gì đó), với Evert trước tiên cố gắng tham gia với Bertus trong việc thảo luận về việc ấn định giá từ cao xuống thấp, liên hiệp các xí nghiệp, cơ chế thị trường, và rồi, cùng với Mary và sẽ được trợ giúp một cách hăng hái bởi Charlotte, người mà lúc nào cũng hân hoan một cách tuyệt đối bởi những chuyến thăm viếng không thường xuyên của đứa con trai lớn của bà, đang lái buổi thảo luận chung đến những đề tài như hâm nóng bầu không khí, những buổi tối tứ tấu đàn dây tại nhà riêng, những căn nhà trang trại ấm cúng cho những ngày cuối tuần, bộ sưu tập về tranh khắc trên gỗ của Nhật Bản, về đồ trang trí nội thất kiểu Biedermeir của Đức thế kỷ 19. Lần này họ đi thẳng vào điểm chính: căn tầng trệt nhà của Bố dành cho họ, nghĩ đến con cái và công việc kinh doanh, trên lầu dành cho ba chúng tôi; chi phí được chia sẻ cùng nhau.
“Thật là một căn nhà lý tưởng cho việc phân chia, về mặt vị trí và sơ đồ quy hoạch,” Mary nói đầy thuyết phục, sau khi Evert đã thoả thuận việc mua bán một cách chi tiết về mặt tài chánh: rằng căn nhà bếp phụ trên tầng một anh hoàn toàn sử dụng một cách độc lập, và căn gác xép có thể được biến đổi thành một căn phòng xinh xắn, đầy quyến rủ mà không cố gắng gì nhiều. Anh sẽ phải tự quyết định mình cần sống như thế nào. Mẹ cùng với Cậu và Liza ở trên lầu, hoặc mẹ và Liza ở tầng một, còn Cậu ở trên căn gác xép …”.
Vậy là, những căn phòng đã bị khoá cửa trên hai mươi năm nay sẽ được đưa ra sử dụng trở lại ? Suốt thời gian sau chiến tranh, tôi sống với Bố, tôi thường bước qua khỏi mâm cầu thang trên tầng một như thể khu vực đó không còn là một phần của căn nhà nữa. Mặc dù tôi biết tôi sẽ không bao giờ còn gặp lại họ nữa, những viên sĩ quan trong Feldgrau, và rằng tôi sẽ mãi mãi không bao giờ phải nhìn xuyên qua những cánh cửa tình cờ để mở để thấy bên trong các căn phòng giờ đã đổi thay do sự hiện diện của họ, và căn nhà bếp đã được lắp đặt làm nơi trú chân của họ; thời gian trên tầng một như đọng lại trong tôi kể từ đó. Không tờ báo dán tường mới, hoặc lớp sơn mới nào có thể khiến tôi quên được những biểu tượng viết bằng kiểu chữ run, những tiếng kêu răng rắc trên cầu thang gỗ do tiếng bước chân mang giày ủng, những giọng nói oang oang, hình ảnh của người say xĩn cô đơn ấy trên một “Feierabend”, đứng tựa lên quầy, trong bộ đồng phục để áo hở cổ không cài nút, cái nhìn đờ đẫn vô hồn, sự tự nghĩ mình mà lại thương mình của người ấy, và vết bẩn đe doạ mơ hồ nào đó lên người đó đã phá tan những giấc mơ của chính tôi, một cô bé mười hai hay mười ba tuổi gì đó suốt mấy tháng liền. Nhìn từ các cửa sổ trên lầu, cây cối mùa đông trụi lá dọc theo đại lộ trông giống như những sinh vật bị lột trần, bị xén lông, bị làm thương tổn.
Tôi nhìn Bertus, đang mang khuôn mặt cứng đơ, một mặt nạ với đôi môi mọng và những nốt ruồi son trên xương gò má.
“Cậu út và Elza không thích ý này,” Charlotte nói, giọng đầy trách móc và phẩn nộ.
“Thôi nào ! Một ngôi nhà to lớn uy nghi biết bao! “ Mary thốt lên bằng giọng điệu mà cô thường sử dụng với con cái mỗi khi chúng không muốn ăn món gì.
Evert bắt đầu lại ngay từ đầu, nói bằng cái gì nhỉ, đối với anh ta, bằng giọng điệu tươi vui; nói cách khác, thỉnh thoảng tung lối phát âm kiểu giai cấp công nhân đầy mai mỉa vào lối tranh luận của anh, một thói quen hồi sinh viên mà anh học được, cùng với thói quen mang theo chiếc dù đen xếp nếp mỗi khi ra đường: “Ồ, cô gái, cô có thể về sống lại trong căn nhà sang trọng mà không phải chịu đựng bất cứ sự day dứt lương tâm, và cô có lẽ sẽ không còn dạy lũ trẻ của những công nhân nữa, và, chỉ Thượng Đế biết, giờ họ là những người chủ của nền dân chủ hiện đại – ti-vi, tủ lạnh, xe cộ sẽ quan trọng đối với họ hơn là văn hoá mà những nhà theo chủ nghĩa lý tưởng phi thực tế như cô muốn chia sẻ…” Anh ta cũng không tha tôi bằng một tràng dài đả kích mà anh đề cập đến như “cái gọi là nền giáo dục tiến bộ”. Mary và anh ta tuyệt đối khép mình vào kỷ luật và cho nền giáo dục ý thức hệ giai cấp, con trẻ cần phải học về uy quyền ngay từ nhỏ vì điều này ngăn những sự hiểu lầm trong xã hội, nơi mà ý nghĩa lành mạnh về các giá trị … v.v… . Những người thuộc thế hệ của tôi, và nhỏ hơn tôi vài tuổi, chỉ xa lạ như người ở hành tinh nào khác. Như thường lệ, mỗi lần Evert thao thao bất tận, tôi cảm thấy như mình đang lắng nghe Bố nói bằng giọng nói của một thanh niên, như thể thời kỳ nữ hoàng Victoria đã được khôi phục lại dưới hình thức của những gì các mục quảng cáo thích gọi “một thanh niên trẻ đầy triển vọng của thành phố”, một cách vô thức tôi nhắm nghiền mắt lại, nhưng tất nhiên là tôi không thể nào bịt tai lại để khỏi nghe.
Bertus đã cứu tôi một bàn thua,”Khi nào Elza hoàn toàn bình phục, và nếu đó chính là những gì nó muốn, nó sẽ trở về ngôi trường đó. Tôi nghĩ nó hoàn toàn đúng khi nói dạy trẻ em đọc, viết, và giải thích ý nghĩa cho chúng hiểu là cả một vấn đề”.
Giờ tới lượt Mary đầy cảnh giác khi cô muốn sớm dập tắt mọi ý kiến trái chiều ngay từ khi chúng còn trong trứng nước: “Nhưng để trở lại ngôi nhà đó, cậu Bertus, chúng ta có thể mời một người bạn trong số bạn bè của chúng ta, một kiến trúc sư. Căn gác xép trên sân thượng, chẳng hạn …”.
Charlotte đã kể cho tôi rằng Bố thường đánh đòn Bertus khi còn bé (chính Bertus không bao giờ nói về chuyện này).”Trên căn gác xép, trong phòng để đồ đạc … với chiếc gậy đi bộ. Nếu cả hai chúng ta cùng nghịch ngợm với nhau, thì chị đã phải canh chừng … khi kết thúc Bố thường nện cho chị hai gậy vào giữa lòng bàn tay ….”. Những chi tiết như thế luôn được chi Charlotte kể lại với cặp mắt nhìn xuống nhưng luôn có ý nghĩa thầm kín của sự hân hoan ma mảnh đầy ác ý, với sự sợ hãi, với tội lỗi mà chị thường phải khắc phục. Bố chưa bao giờ đánh tôi. Bố cũng không bao giờ mất thì giờ để làm việc đó. Ngay cả khi còn quá nhỏ, tôi cũng có thể nhận thấy sự căng thẳng xuất hiện trên khuôn mặt mỗi khi Bố ở cùng với Bertus và Charlotte. Hai người rất sợ Bố; ông có vẻ khá thất vọng đối với họ. Bố thường giật giật chân một cách hậm hực hay đấm những đầu ngón tay lên chỗ tựa tay của ghế bành mỗi khi Bertus trả lời một cách ú ớ, hay nói một cách lưỡng lự bằng một tràng lắp bắp. Bố đối xử Charlotte với cử chỉ hơi lịch sự ra vẻ kẻ cả mà những người đàn ông bảo thủ dành cho phụ nữ, nhưng không một chút day dứt về sự ngắt ngang khi sự nói huyên thuyên của cô làm ông bực mình (điều này thường không kéo dài) và đột ngột trả cô ta về vị trí của mình, ngay cả khi có mặt của chồng cô, một giáo sư, mà ông cư xử một cách đầy quy phục. Đó là vào những năm trước chiến tranh, khi mà cả ba người trong số họ thường đến để ăn cơm trưa vào những ngày Chủ Nhật. Chúng tôi thường ngồi quanh chiếc bàn có kích thước lớn hơn bình thường trong căn phòng ốp ván tường ngoại khổ, và sau món xúp, Bố thường nói chuyện chỉ với giáo sư, trong khi Charlotte giả vờ lắng nghe hoặc thả cái nhìn – với thái độ kiêu căng của sự thiếu tự tin – qua chúng tôi hoặc lang thang khắp căn phòng, còn Bertus thì yên lặng chăm chú lắng nghe, thỉnh thoảng gật đầu về phía tôi, và rồi trong suốt món tráng miệng, anh ta thường bắt đầu xếp hình những con vật từ những miếng giấy lụa màu mà anh ta thường mang theo trong ví. Sau đó, anh trao chúng cho tôi, và thế là trong hộp đựng giày của tôi lại đầy thêm những hình xếp ấy. Trên lầu, trong căn gác xép, phòng chứa đồ đạc, tôi chơi ở đó hằng nhiều giờ, thay đổi những đồ đạc cũ khắp nơi, lục lọi trong tủ quần áo, trong các hộp đựng đồ quí, chuyện trò suốt buổi với những người bạn vô hình của tôi. Về sau, trong suốt những năm chiến tranh, tôi thường trèo lên, chui vào chỗ ngồi sâu nhất của cửa sổ mái nhà để làm bài tập hoặc đọc sách; phòng chứa đồ đạc là nơi tôi cảm thấy an toàn nhất, cách xa khỏi những chỗ ở khác ở tầng một. Kể từ lúc tôi phát hiện anh Bertus lúc bé thường bị phạt bên dưới những cây xà nghiêng ấy, tôi có thể hiểu vì sao anh không bao giờ theo tôi khi tôi muốn chỉ anh xem lãnh địa của riêng tôi. Khi Charlotte đưa đội viễn chinh đáng trừng phạt đó lên căn gác xép, tôi không bao giờ quên đề cập đến “cái thuở đó, lúc tôi còn là cô bé, vì vậy tôi đã không phải lên xem, nhưng chỉ đứng ở chân cầu thang, tôi vẫn có thể nghe anh la thét, anh đã phải ở trên đó cả ngày, anh không được nhận đồ ăn …” và đôi lúc tôi không khỏi không hỏi: “Nhưng anh Bertus, quỉ tha ma bắt anh đã làm chuyện gì sai vậy?” Bertus luôn nhún vai và nói: “Anh không nhớ”.
“Căn nhà ấy không thích hợp để ở đâu,” Ai trong chúng tôi sẽ nói ra điều này đây, Bertus hay tôi ?
Khi Bertus lột chiếc mặt nạ bằng gỗ ra, như anh hiện giờ, thật khó mà có thể bắt anh thốt ra một lời. Dạo này, bất cứ ý kiến không tán thành nào tôi đưa ra đều tự động kết nối với căn bệnh của tôi cách đây một năm, với những gì Evert và Mary đề cập tới như là “tình trạng suy nhược” của tôi.
“Má ơi, họ là ai, những người trong tấm hình đó ? Nó có ghi 1915 ở mặt sau. Một cặp thật đẹp đôi, vô cùng hân hoan, một tấm hình lỗi thời, thật duyên dáng trong chiếc áo khoác ngắn tay màu đen bà diện cho ngày Chủ Nhật đẹp trời. Má tìm nó ở đâu ra vậy Má?”
Khi Charlotte giải thích, Evert nhìn liếc qua vai vợ: “Quá đặc biệt. Đó có vẻ không phải là ông nội! Nhưng rõ ràng là người già thường tìm về quá khứ ngay trước khi họ chết”.
Mary: “Chúng ta có thể mang nó theo với chúng ta không? Con có cái khung hình thuẫn màu đen, con sẽ lắp nó vào, nó sẽ trông rất tuyệt vời trên bức tường có sọc ca rô của chúng ta bên trên tủ áo với ngọn đèn dầu hoả.
Evert: “1915, cách đây nửa thế kỷ. Giữa Đệ Nhất Thế Chiến. Thật xuẩn ngốc khi phải sống trong một đất nước trung lập xuyên suốt thời gian ấy. Cháu đoan chắc là cậu vẫn còn nhớ những ngày đó, phải không cậu Bertus?”
Charlotte: “Con sẽ không khai thác được bất cứ thứ gì về cậu ấy đâu, không thứ gì. Cậu ấy không có trí nhớ. Và Mary một lần nữa, đang nghiên cứu tấm hình mà Evert đang cầm, nó trông có vẻ bị vàng úa hơn bao giờ hết bên cạnh cổ tay áo rất trắng của anh ta: “ Một người đàn ông trong chiếc mũ lưỡi trai và áo sơ mi sọc ca rô, và chiếc lách đeo tay. Còn người phụ nữ … bà có khuôn mặt khá diệu hiền, tôi nghĩ. Trông này, anh Evert, anh không nghĩ đó là một khuôn mặt rất thanh tú, dễ xúc động, đối với loại người như thế sao? Còn hai đứa bé, thật khôi hài với chiếc quần dài đến đầu gối của thằng bé, và rõ ràng là họ đã mặc đồ đẹp cho đứa bé gái vào dịp đó; anh có thể thấy một chiếc áo đầm rất đắt tiền, tất cả diềm xếp dưới váy đều bằng dải thêu ren, trông gớm ghiếc, nhưng họ nghĩ thật là tuyệt. Chúa ơi, trông là lạ hay hay, một trong những căn nhà nông thôn của công nhân thế kỷ mười chín, đa số là nhà một tầng, với lối đi lát gạch vào tới cửa …”
Charlotte : “Đó là người làm vườn trong ngôi nhà miền quê của ông bà nội, với gia đình ông ta”.
Mary: “Há không thiêng liêng lắm sao, Evert, anh không nghĩ là điều đó thiêng liêng lắm sao? Không có hình tổ tiên của anh trên tường, nhưng nhân viên của họ?
“Phong kiến, phong kiến,” tôi lầm bầm, điều này đã khiến Charlotte bĩu môi, Evert và Mary nhìn nhau, biểu lộ sự thương hại quen thuộc: Ah, kìa Elza tiếp tục đi.
“Cứ để họ treo tấm hình đó trên tường !” Bertus bỗng lớn tiếng giọng gay gắt. Evert ngập ngừng phá vỡ sự yên lặng đầy choáng váng tiếp theo cơn bộc phát này. “Cứ cho là thiếu những tấm hình tử tế của gia đình … .Tất cả những gì chúng ta có là từ bên phía bà nội”.
“Căn nhà ở vùng quê đã bị thiêu rụi, anh biết điều đó mà,” tôi nói. “Vì vậy những tấm hình cũng đã ra tro bụi “Điều này được dự định như một tín hiệu dành cho Bertus, một dấu hiệu của sự hiểu biết đầy bí ẩn. Nhưng anh ta không phản ứng, vẫn ngồi yên, mặt đỏ gay xuống tận cổ vì cơn giận dữ đầy bí ẩn của anh, quay lưng về phía chúng tôi, anh nhét thuốc vào ống điếu. Evert và Mary, quá tin sâu vào khoa thần thoại của chúng tôi đến nỗi ngay cả họ chưa bao giờ nảy ra ý nghĩ đặt những câu hỏi, lần này cũng không đáp lại những lời nói của tôi nữa, chỉ tin theo luật bất thành văn. Tuy nhiên, họ đã quyết định đã tới lúc nói lời tạm biệt. Charlotte nhún và trừng mắt nhìn tôi khi chị qua mặt tôi bước vào hành lang và tôi theo sau họ.
“Sao, mọi việc thế nào rồi, dì Elza ? Dì có muốn đi xa một lần nữa không, hay là chúng ta cùng vào thành phố một ngày nào đó đi ?”. Mary đang đứng trước gương soi, nhanh gọn sắp xếp lại mái tóc quanh chiếc mũ bằng lông thú rộng vành của nó. Tôi biết nó cảm thấy tội nghiệp cho tôi và nghĩ thỉnh thoảng nó phải có sự quan tâm đặc biệt đối với tôi. Giọng điệu đầy trìu mến của nó là chân thật; đó cũng là một sự tuyên bố độc lập khá dè dặt nhắm đến Charlotte, khi nó không tán đồng cách giải quyết của bà về cá tính và hoàn cảnh của tôi. Để chứng tỏ rằng tôi rất quí trọng chủ ý của nó, có lẽ tôi sẽ chấp nhận lời đề nghị của nó. Nhưng chỉ với ý nghĩ về cái nóng ngột ngạt và ánh đèn chói mắt của các cửa hàng bách hoá vào những ngày của tháng Mười Hai thôi cũng đủ làm tôi ghê tởm. Những căn buồng bằng kính khổng lồ, những máy bán hàng tự động, mà người tiêu dùng bị hút vào, những chỗ đầy ắp tiếng vù vù, rầm rầm. Tôi là kẻ tham gia bất đắc dĩ, là kẻ bị hành hạ bởi tiếng ồn ào, bởi mùi hoá chất từ xà phòng và nguyên liệu dệt vải, nên không thể đi thong dong , không thể lục lọi tìm hàng như mọi người khác. Bị hoa mắt trước đám đông chen lấn xô đẩy nhau quanh các quầy hàng, mà những người như Mary rảo bước một cách quả quyết xuyên qua chúng. Nó còn hơn là một sự việc phi thường về thể chất. Tôi vã mồ hôi hột trước sức cuốn hút những người này vào các con số trên biểu đồ, các yếu tố cấu thành của quần chúng đầy ý nghĩa về mặt kinh tế, tăng, giảm một cách thụ động trên các khoản điều chỉnh giá cả. Tôi thở hổn hển trong thế giới của sự ồn ào, huyên náo, màu sắc, và phô trương loè loẹt, mà sẽ chóng lụn tàn như thể chưa từng hiện hữu, đã phủ bụi thời gian, đã trở thành ảo ảnh. Vì vậy, tôi đã khước từ lời đề nghị và đi về phòng khách để khỏi phải chứng kiến cái nhìn chắc chắn Mary và Evert đang trao đổi nữa. Mặc dầu vậy, tôi không khỏi không nghe rõ lời thì thầm của Charlotte : “Cô ta vẫn chưa có thể đối phó với đám đông. Điều gì đã khiến cô ta trở nên như vậy chứ? Liệu rồi cô ta có thể trở lại trường để dạy không nữa. Tôi thật hết sức lo ngại …”
Họ đã quên mất chuyện về tấm hình. Nó vẫn còn nằm trên bàn ở nhà trong.
Một ngàn chín trăm mười lăm. Thời gian ấy đã là một quá khứ xa xôi thuộc thập kỷ 1930 mà tôi chỉ còn nhớ một cách mơ hồ.Tôi biết gì về năm 1915 ? Bác công nhân trong tấm hình mặc chiếc áo sơ mi ca-rô và đôi mắt hớn hở dưới diềm mũ lưỡi trai, những nếp nhăn trên khuôn mặt của bác cho thấy bác ở độ tuổi bốn mươi , hoặc dễ chừng khoảng sáu mươi lăm, không có quyền bầu phiếu, không luật lệ xã hội dành cho bác cho đến nay. Tôi nhớ rất rõ từ trong quyển sổ tay: bác vẫn còn nhiều năm nữa để chờ nhận tiền trợ cấp tuổi già và bảo hiểm y tế và việc làm tám tiếng một ngày – nếu bác từng phải nhìn thấy chúng. Mặc dầu vậy, tôi vẫn thấy bác không quá bất hạnh, chắc chắn bác yêu thương hai đứa bé mà bác khoe vói người thợ nhiếp ảnh, khoe với tương lai một cách rất đỗi tự hào. Bác đang đứng đó, không, không phải đằng trước căn nhà tranh của người làm vườn. Nó trông có vẻ giống như một trong những căn nhà hai phòng mà vẫn còn có thể tìm thấy ở những vùng ngoại ô cổ kính nhất của thành phố chúng ta; trong ánh nắng chiều giữa các bức rèm cửa, xuyên qua cửa sổ mở tôi có thể nhận ra một cây trong chậu kiểng. Bác có một ngôi vườn nhỏ, rộng chỉ vài mét, tách biệt khỏi nhà hàng xóm bởi hàng rào ở mỗi bên. Đó phải là một ngày cuối mùa hè có nắng ấm của năm 1915, hoa thược dược đang nở rộ; ắt hẳn phải là một ngày rất đặc biệt, bởi vì bác đã làm cho chính mình trở nên bất tử (áo sơ mi, không áo khoác ngoài vì trời nóng) với vợ và hai đứa con ăn mặc bảnh bao. Khuôn mặt người vợ hiện rõ sự xúc động, và cái cách bác ẵm đứa bé gái trên tay vừa khoan thai vừa cảm động. Cái gì về tấm ảnh mà đã khiến tôi quá xúc động? Người phụ nữ trong dáng sắp bước đi, tay che chiếc áo khoác màu đen trước mắt chăng, hay người đàn ông đang đứng đó, chân dang rộng, đôi chút táo bạo và liều lĩnh một cách ngây thơ chất phát chăng ? Chung quanh nhà ông, khu láng giềng, khói từ các nhà máy toả lên trời (cây cối trong phông nền của tấm ảnh không thể là cây cối ở điền trang); mà là ở quanh thành phố, vùng đất nơi hoà bình vẫn còn ngự trị, vùng đất gần hơn như ông nhận biết (hay tôi bị nhầm) là các chiến hào, là bãi chiến trường.
Sau đó, Charlotte bồn chồn cả đêm, ngồi xuống, đứng dậy, rồi lại ngồi xuống, phiền phức vì những thứ mà cô có thể dễ dàng bỏ qua hoặc sẽ làm vào một ngày khác. Cuối cùng sự yên lặng bủa vây cô ta (Bertus không còn thấy đằng sau tờ báo đã được mở toang hết cỡ, chỉ trả lời khi anh ta không còn sự lựa chọn nào khác, hoặc trả lời càng vắn tắt càng tốt; anh không nói bất cứ thứ gì khác trực tiếp với tôi).
“Tôi nghĩ hành vi của em hết sức trẻ con. Tại sao hai đứa luôn có ý quá ngang ngược? Như thể thật quá khủng khiếp khi phải sống trong căn nhà mà chúng ta trải qua cả thời thơ ấu ở đó. Ước chi biết tôn trọng những kỷ niệm …”.
Bertus xếp tờ báo làm tư, lắc đầu.
“Thật quá bướng bỉnh. Em lấy làm vui sướng trong việc phá hỏng mọi kế hoạch của chị. Chị cảm thấy khá tự nhiên khi sống ở đó. Vả lại, cũng rất quan trọng đối với tương lai của con cháu, tương lai của Evert nữa.
“Tầng một, căn gác xép trên sân thượng,” tôi nói một cách lấp vấp đầy giận dữ qua lời nói của tôi, “Chị nghĩ là Bertus muốn sống trong căn nhà nơi anh ấy bị đánh đập và bị nhốt hồi còn nhỏ lắm sao? Còn em, chị nghĩ là em sẽ sống tự nhiên trong những căn phòng nơi Krauts bị … ?” Bertus nhìn tôi, lúc này anh ta biết là tôi hiểu, và anh cũng sẽ hiểu một cái gì đó về tôi mà tôi chưa bao giờ có thể nói ra được.
“Em quá căng thẳng rồi,” Charlotte nói, “đó chỉ là sự đa cảm bệnh hoạn”.
Bertus đập mạnh tờ báo đã xếp xuống bàn. “Chỗ này cũng đủ tốt cho tôi rồi.”
Charlotte: “Cậu quá ích kỷ”.
Bertus: “Mấy đứa con của chị chúng không thích những thứ đó đâu. Evert sẽ dừng lại ở nơi nó muốn, nơi nằm trong gen của nó. Duy trì sự xuất hiện bằng cách sống trong căn nhà đó – thật là một sự lãng phí tiền bạc một cách vô trách nhiệm. Hãy để cho hội đồng thành phố mua nó làm nhà cho những người lớn tuổi.
Tôi có thể thấy nó đang bắt đầu xuất hiện; Charlotte lắt đầu lia lịa.
“Ô, Chúa tôi, em có thái độ quá hẹp hòi như thế sao. Em muốn ở đây đến hết đời sao, trong căn hộ chung cư nhỏ xíu của em sao, bốn phòng cộng với một nhà bếp, người bán thuốc lá của em bên kia đường, quán rượu bên góc đường nơi em thường lui tới chơi bi-a ? Ba người trong chúng ta không có nổi một căn phòng để chơi với con mèo, chị quá thất vọng. Em thuộc loại người gì vậy? Đôi lúc chị hiểu quá rõ tại sao Bố trở nên quá giận dữ vì em. Em chẳng có lấy một chút tham vọng nào, chẳng có chút sáng kiến gì, chỉ là một người cạo giấy, một thư ký quèn, một người ti tiện nhỏ nhen. …”
“Tôi có thể,” giọng nói của Bertus nghe có vẻ bình tĩnh, nhưng có chút gì đó trong giọng nói như muốn cảnh báo Charlotte nên coi chừng. “Nếu chị không thích nó, chị có thể xéo”.
Charlotte đang rút khăn tay ra. Như tôi quan sát thấy, khuôn mặt của chị diệu hiền hơn, ít nét hơn, và đứa con đầy hoảng sợ của chị nhìn vào mắt chị: “Một mình con sao?”.
“Nếu em rời đi, em sẽ tìm một căn phòng khác,” tôi nói.
Chị nhìn về phía tôi: “Mày cũng giống như thằng Bertus. Vẫn sự chống đối đó, vẫn sự xấu hổ giả tạo đó, như thể đó là một vụ tai tiếng xuất phát từ một nền tảng gia đình danh giá, có chuẩn mực. Mày nên xem lại chính mày đấy. Không ai nghĩ là mày được dưỡng dục và trưởng thành như một quí bà đâu. Tại sao giờ này lại trở nên chán ghét căn nhà ở vùng nông thôn đó ? Mày hoàn toàn chẳng biết chút gì về …”.
Chúng tôi đang ngồi đầy căng thẳng nơi mép ghế dựa đối diện nhau trong phòng khách, một sự kết hợp khá hài hoà giữa những đồ đạc bằng gỗ màu thẫm, trang nhã với nhũng tấm khăn trải bàn bằng vải thêu kim tuyến của Pháp, đèn bàn, gối đệm với những mũi thêu nhỏ mà Charlotte mang theo lúc dọn đến. Phía sau đầu của Bertus những quyển sách được xếp thẳng hàng theo chủ đề và theo thứ tự A,B,C , vật xa xỉ duy nhất của cậu ta, chiếc đồng hồ quả lắc.
Bertus : “Chị kiếm đâu ra những ý tưởng về ngôi nhà ở điền trang?”
Charlotte: “ Em hỏi lạ chưa, Bố nói …”
Bertus: “Bố chưa bao giờ nói bất cứ thứ gì”.
Charlotte không tránh khỏi cái nhìn của anh ta, Bertus ngồi thẳng người dậy, hai tay đặt lên chỗ tựa tay của ghế bành. “Hồi ấy, Mẹ cũng chẳng khác gì Bố”.
Bertus: “Chị không nên nghĩ như vậy”.
Charlotte: “Mẹ nói …”
Bertus: “Chị có chắc chắn về điều đó không?”
Charlotte (hơi bối rối): “Chúng ta chỉ là những đứa bé …”.
Bertus: “Vì vậy thực sự chị không biết?”
Charlotte: “Thế em muốn chị phải nói gì đây? Em không thể nhớ một tí gì về nó sao”.
Bertus (với lòng tự trọng cao, không liên quan đến tính thẳng thắn, đến tình trạng không tự chủ của đôi bàn chân hơi gập lại trong đôi dép lê có hoa văn kỳ cục): “Em không thể nhớ bất cứ thứ gì mà chẳng bao giờ xảy ra và cũng chẳng bao giờ được nói tới”.
Chị tôi và anh tôi giờ đang ngồi tựa lưng về phía nhau, giống như hai kẻ có âm mưu, hoặc như trẻ con muốn chia sẻ một điều bí mật mà không tin cậy lẫn nhau, người mà sẽ tiết lộ điều bí mật, người mà sẽ bị trừng phạt ? Tôi có thể nghe Charlotte đang thở. Cuối cùng chị thốt ra giọng kể lể: “Sao mày dám? Sao mày dám?”
Tại sao tôi bỗng nhớ lại lối đi dọc hành lang ở quê nhà, những gạc nai do những người đàn ông trong gia đình phía Mẹ săn được trong những chuyến đi săn bị quên lãng xa lắm rồi, hai hàng gạc nai trần thiết đối diện nhau từ những nhánh sừng xương xẩu dang rộng của những vật trưng bày bên lối vào nhà đến những tấm ván nhỏ gắn cục bướu giữa các cặp sừng nai ở các cửa ra vườn ? Những căn phòng đầy ắp hương thơm của cảm giác thoả mãn và phồn vinh thời Victoria. Ngôi nhà là thành trị của sự đáng tôn kính. Mẹ tôi, người tôi chưa bao giờ biết mặt, đã để lại mọi thứ như nó ắt hẳn là ở thời thơ ấu của bà, trước khi đi lấy chồng, rõ ràng là có sự ưng thuận của Bố tôi. Cuộc sống của họ không tạo ấn tượng gì nhiều đối với vùng phụ cận; như thể nó là một thế hệ bị nhảy cách quãng. Điều đó không giải thích được đối với trường hợp bố mẹ tôi, nhưng nó chắc chắn quyết định phân nửa lý do tại sao chúng tôi là như chúng tôi hiện là, Bertus, Charlotte và tôi. Phân nửa phần đời còn lại vẫn còn mơ hồ, như trong bóng tối. Bất cứ ai đang gặp rắc rối bởi những gì đang thiếu hụt đều có thể lấp đầy chỗ thiếu ấy bằng sự dư dật. Những gì đáng lẽ phải có ở đó, nhưng những gì không có, phát triển trong những giấc mơ và sự ao ước đến mức tỷ lệ đáng kinh ngạc. Nhà của Mẹ được tăng gấp đôi dưới sức mạnh của riêng nó, đang trở nên vững vàng và chắc chắn đủ cho cả hai. Bên ngoài đường chân trời, qua khỏi nơi tất cả những đường thẳng hội tụ, một fata Morgana xuất hiện, làm méo mó một cách lạ lùng bởi những lớp không khí đang run rẩy. Những nhánh gạc nai, những gian nhà kính trồng cây đầy ắp cây trồng, những tấm gương soi mặt, những ván gỗ lát tường, những tấm thảm màu xanh lá cây đậm và những bức rèm cửa, cách trang trí lá trên báo dán tường, những đại lộ hiện rõ, ao hồ, khu bồn cỏ và bãi trồng cây khắp nơi, đang hoá cứng lại từ đàng xa để tạo thành một khu điền trang ở nông thôn với vườn hoa, một vườn cây ăn trái và một ngôi nhà tổ tiên theo truyền thuyết. Không ai sẽ từng nói về nó bằng quá nhiều lời, không một chút dối trá nào được kể, nhưng ắt hẳn nó có thể được rút ra kết luận từ những gì được để lại chưa được nói ra, hay từ những gì được ngụ ý.
Bertus và Charlotte dường như quên mất rằng tôi đã ở đó. Họ đã từ bỏ vai trò suốt đời của họ. Charlotte không còn là người hỏi những câu hỏi có xu hướng ép buộc nữa, Bertus không còn không trả lời một cách bướng bỉnh nữa.
Bertus: “Em lúc nào cũng biết rõ là nó không đúng sự thật. Em đã kể với chị như vậy, một thời gian cách đây quá lâu, trí nhớ của em ít ra vẫn còn rất tốt”.
Bằng một cử chỉ bất lực một cách vô thức, Charlotte xoay hai lòng bàn tay về phía anh ta như thể chị muốn cho anh thấy một thứ gì đó trong chúng.
“Bố thường không đánh chị như thế,” Bertus nói một cách bình thản.”Đó chỉ là một lần duy nhất”.
Tôi mong mỏi được trở lại trường, mong gặp những khuôn mặt nhỏ nhắn, sáng ngời bên trên các bàn học. Nếu không trở lại làm việc, tôi sẽ điên mất, và những hình ảnh đôi lúc đan xen giữa tôi và thế giới hiện thực sẽ thắng thế. Còn hơn những kỷ niệm, một cái gì đó khác hẳn những giấc mơ, không ai có thể thuyết phục tôi, nếu không, tôi chẳng là gì đối với họ. Sẽ là gì khi các giới hạn của ý thức riêng của ai bị tàn phai, khi mà thời gian, tuổi tác của tôi bị hao mòn như một đám mây mỏng, đang trở nên không đúng lúc, đang có mặt khắp nơi. Bây giờ không còn những lằn roi đỏ thẫm trong lòng bàn tay của Charlotte nữa. Bertus không còn la thét trên căn gác xép trên sân thượng nữa. Khi Bố đánh, cách đây khá lâu, đó chính là lúc khởi đầu cho sự hợp tác với một lực lượng chưa thể nói tên ra được mà lâu lắm về sau mới hình thành, và những căn phòng trên tầng một bắt đầu chuyển đổi thành nơi chiếm đóng của kẻ thù của họ. Phải có mối quan hệ giữa biểu tượng chữ run với fata Morgana của khu ‘điền trang’. Tôi có thể thấy cái đầu xanh xao vàng vọt của người Bố đang chết dần trước mắt tôi, đó là toàn bộ về nó nữa. Cái chết đã bắt đầu khá lâu trước khi Bố trừng phạt một cách khắc nghiệt đối với sự chân thật đến ngây ngô của Bertus, sự đau đớn tột cùng tiếp tục cho đến khi chúng tôi, các con của ông, đã trở nên biết một cách chính xác đó là những gì trong gia đình chúng tôi, trong ngôi nhà mà Mẹ chúng tôi thừa hưởng, đó chính là sự thiếu, được để lại, chưa được nói ra.
Tôi lấy tấm hình trên bàn và đặt nó lại chỗ cũ dưới cái chặn giấy trên bệ lò sưởi. “Vì Evert,” tôi nói lớn, “vì nhà trí thức hợm mình, vì kẻ trưởng giả học làm sang kia”.
Charlotte mặt trắng bệch, nhưng không phản đối. “Chị không biết họ là ai,” cô ta thú nhận bằng sự nhún nhường mới.
Bây giờ Bertus lấy tấm ảnh từ tay tôi, chìa nó về phía chị Charlotte,và chỉ vào hai đứa bé: “Đó là chị. Đây là em”.
Charlotte chỉ nhìn chăm chăm vào tấm ảnh.
“Với ông Ngoại và bà Ngoại, đằng sau nhà của họ,”Bertus nói, giọng trầm lặng hơn. Tôi đến gần hơn. Ngay cả tôi đã không tồn tại vào năm 1915, và sẽ không tồn tại đối với một lúc nào đó, nhưng chuyện này có liên quan với tôi nữa. Quyển album, hộp đựng đồ quý, kẹp giấy tờ, các túi xách bên dưới tấm vải che bụi, không ai nhìn thấy những thứ này trừ tôi, dưới đáy sâu tối om của tủ đựng đồ quý dưới mái nghiêng: “Trong phòng trên gác xép sân thượng,” tôi nói nhưng không ai nghe tôi.
Từ từ Bertus ngồi dựa ngửa ra, hai tay che đầu để Charlotte và tôi không thể thấy khuôn mặt anh: “Đó là lần sau cùng. Chúng ta không trở lại nữa sau đó. Ông đã dẫn chúng ta. Tôi có thể nghe rõ Bố nói gì với họ, bên trong, trong nhà bếp. Tôi phải chơi bên ngoài. Sau đó, tôi không muốn rời đi. Trong khi ông chờ, họ kéo tôi sang một bên. Họ kể với tôi rằng ông ấy luôn là một cậu bé thông minh nhất ở trường, luôn luôn đứng đầu lớp, và rằng ông thường đi bộ một đoạn đường dài, và thậm chí còn đi xa hơn nữa, tôi phải giữ cái gen thông minh ấy về tôi, tôi phải trưởng thành như một công dân tốt, phải cố hết sức, và rồi ông thường tự hào về tôi như họ từng tự hào về ông ấy, Bố, Mẹ thấy chính họ được ban thưởng về đường con cái cho sự làm việc chăm chỉ, chăm sóc tốt con cái và cho sự tằn tiện và cho tất cả sự hy sinh, ngay cả những sự hy sinh khó khăn nhất, đó là một đặc quyền lớn lao nhất để trưởng dưỡng sự thông minh của chị, để học và để hiểu tất cả mọi thứ, những người như thế có thể làm cho thế giới trở thành nơi tốt đẹp hơn. Tôi sẽ không bao giờ quên những gì tôi đã chịu ơn từ ông, cũng như họ chắc chắn rằng ông sẽ không bao giờ quên những gì ông đã mang ơn từ họ. Thế mà ông đã quên … Tôi biết rằng ông đã quên. Và với tôi, ông đã nhận phần thưởng mà ông xứng đáng để nhận … “.
Bertus từ lâu rồi không nói với chúng tôi, và hiện đang nói với chính mình. “Ông không thể tự hào về tôi. Tôi không muốn mình giống như ông ta. Tôi muốn ông
quên tôi là con trai ông nữa. Và ông luôn hành xử như ông đã từng. Tôi nghĩ …. “. Bertus khom người cho gần với tấm ảnh trên đầu gối anh.”Tôi đã không đến gặp ông lần cuối khi ông đang hấp hối. Tôi không cho ông một chút cơ hội để chứng tỏ cho tôi thấy là ông đã thực sự nhớ lại tất cả,” Bertus nói, giọng khàn khàn và đầy ngạc nhiên.
Phan Thiện Trì chuyển ngữ
June, 2021
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét