Thứ Năm, 25 tháng 11, 2021

   DSS36. CĂN PHÒNG CỦA RIÊNG TÔI

 

                                                                                                                      Joost De Vrie

 

                                                  Translated from Dutch into English by David Colmer

                                                  Translated from English into Vietnamese by Phan Thien Tri

 

 

 

Joost de Vrie (b.1983) nhà văn, tổng biên tập và nhà phê bình văn học, lần đầu tiên ra mắt với cuốn Clausewitz (2010) được cảm hứng bởi tác phẩm của Harry MulischQuyểtiểu thuyết thứ hai của ông, The Republic (2013) đã giúp ông đoạt giải Golden Owl và một vài đề cử cho những giải thưởng văn học khác, sẽ được dịch sang chín thứ tiếng bao gồm tiếng Anh.

 

 

Henry Kissinger có cái miệng nhỏ, mềm dẻo mà ông thích dùng nó để đưa ra những bình luận khôi hài, như ông gọi quyền lực là loại thuốc kích thích tối thượng nhất, một câu cách ngôn mà ông thường lập đi lập lại nhiều lần khiến người ta bắt đầu tin nó, được khuyến khích bởi xu hướng riêng của ông để làm tư thế cho những tay săn ảnh tại các bữa cơm tối, hoặc tại các bữa tiệc rượu chiêu đãi với những nhân vật có vai vế trong xã hội hay các ngôi sao đang lên trong thế lực của ông.

Giờ nhìn lại những tấm ảnh đó, bạn thấy một bộ côm-lê đen to ngang với một người đàn ông được độn vào nó. Một khuôn mặt hiện rõ ra, không nói tới cổ, cặp mắt ti hí đằng sau cặp mắt kính khổng lồ, mái tóc gợn sóng kiểu cổ điển, và một trong những cô bé Barbarella đứng cạnh ông, trong chiếc áo đầm đẹp, răng của nó bị cản bởi một nụ cười, quá căng thẳng, trông giống như cô bé ấy đang đưa khuôn mặt của mình qua một buổi tập thể dục nhịp điệu.

 

“Quyền lực là loại thuốc kích thích tối thượng nhất”. Ông đang đề cập đến những người phụ nữ đó, nhưng không nghĩ lý thuyết của ông có thông suốt đủ để nhận biết nó được áp dụng cho ông nữa. Trong cuộc chạy đua vào cuộc bầu cử tổng thống năm 1968, ông gọi  Richard Nixon “không thích hợp để làm tổng thống”, nhưng khi tổng thống Nixon gọi ông ba tuần sau khi thắng cử để bổ nhiệm ông làm Cố vấn An ninh Quốc gia, ông đã không ngần ngại. Ông cũng cảm thấy hai đầu gối của mình run rẩy và tim mình đập thình thịch khi đối mặt với quyền lực thực sự trong Nhà Trắng.

“Ông sẽ giúp tôi trong vai trò Cố Vấn An Ninh Quốc Gia được chứ?”

Vâng, được, ngài Richard. Vâng, tôi sẽ”.

Chúng tôi nhận ra ông ta từ khoảng ba mươi mét, có lẽ hơn. Ông đang đi về phía chúng tôi từ điện Louvre. Một người đứng tuổi, dáng nhỏ, với gậy chống, được hộ tống bởi ba người trẻ hơn nhiều, rõ ràng là ba nhân viên an ninh. Bên phải chúng tôi, dòng sông Seine êm đềm chảy, bên trái, Jardin des Tuileries, Orangeries, Rue de Rivoli với những khách sạn lộng lẫy và các cửa hiệu Armani, Đằng sau chúng tôi, Place de la Concord với đài kỷ niệm khổng lồ của Napoleon, xa hơn về hướng đó, Grand Palais, Champs-Elysees với Arc de Triomphe, mà Hitler đã diễu hành vòng quanh đó, thay vì chỉ đi ngang qua, vì để tỏ lòng tôn kính nấm mồ của Chiến Sĩ Vô Danh. Chúng tôi bị bao bọc bởi những tiếng vọng của quá khứ. Đó hẳn phải là một trong những nơi thu hút khách du lịch khắp nước Pháp. Sát bên kim tự tháp kính ngược của viện bảo tàng, cách khoảng một trăm năm mươi mét từ đài kỷ niệm những người Liberia và người Senegale không có giấy tờ đến chỗ vòng móc khoá gần tháp Eiffel, đến chỗ những du khách bàng quan. Nếu bạn có hai tiếng đồng hồ để giết thời gian tại Paris này thì đây là nơi đến thích hợp, và đó là lý do chúng tôi có mặt ở đây – một tiếng rưỡi trước khi tôi đến báo cáo tại Gare du Nord – nhưng khách du lịch ít khi để con đường chính chạy xuyên qua các khu vườn dinh thự xưa thông suốt, vì vậy bạn chỉ còn có thể đi dạo một cách bình thản dọc theo các lối đi lát sỏi đẹp, loại sỏi chắc chắn rất tốt cho việc chơi môn ném bi sắt.

Kìa, thật có thể, chắc chắn là không thể, đó là, rất có thể đó thực sự là, chúng tôi nói với nhau, nhưng chắc chắn ở trong tâm trí chúng tôi, đã bốn thập kỷ kể từ khi ông giữ một chức vụ trong nội các, và hơn cả là không thể nhớ lần mới đây nhất chúng tôi thấy ông trên truyền hình, chúng tôi không thể nhớ đã từng thấy ông trên truyền hình ngoài cảnh phim lưu trữ. 

Ông đang đi chậm và chúng tôi cũng bước chậm nữa. Chúng tôi muốn lúc đó được làm chậm lại, lúc mà lối đi của chúng tôi sẽ vượt qua, và chúng tôi có thể nhìn vào mắt ông. Mười mét, sáu mét, rồi ba mét và rồi – trước sự ngạc nhiên của tôi – em trai tôi bước tới trước mặt ông.

“Xin lỗi, ngài Kissinger, chúng tôi có thể chụp một tấm hình?” Liền đó nói thêm rằng, “Tôi là một fan lớn của quyển sách Thuật Ngoại Giao của ngài”.

Mấy nhân viên an ninh ngăn lại một lúc. “Ồ, được rồi, tốt,” vị cựu Bộ trưởng Bộ Ngoại Giao nói lầm bầm trong miệng, người mà chỉ đứng tới vai em trai tôi. Ông có vẻ vui lắm. Em trai tôi đưa lên tấm ảnh có nụ cười toe toét đầy giả tạo của ông, trong khi một trong những trợ lý của Kissinger mỉm cười một cách chuyên nghiệp và nói chắc nịch, “Vâng, chỉ một tấm thôi nhé”.

Mặt của hai người sát nhau trên màn hình của chiếc  iPhone của tôi. Tôi biết Hugo khá rõ nhưng mặt của Kissinger làcả một bữa tiệc cho đôi mắt. Da mặt của ông ta như da thục sần sùi, nhàu nát và có góc cạnh, trông giống như một túi xách du lịch bằng da cũ kỹ. Trọng lực đã giữ chặt mí mắt của ông lại và không buông; chúng luôn ươn ướt và rũ xuống. Tương tự như vậy đối với môi dưới của ông. Một thời rất mạnh, khuôn mặt ông đã sụp đổ,  nhưng mắt ông rất sáng và xanh như băng, đốt cháy xuyên qua thấu kính của cặp mắt kiếng hình vuông đậu trên lỗ mũi khoai tây của ông giống như hai cái ti- vi song sinh vậy.

Ngay lúc đó tôi nghĩ đến tất cả những thứ bạn có thể biết về ông ta. Trong thập kỷ ba mươi,  ông cùng với gia đình trốn khỏi nước Đức để thoát khỏi Phát xít Đức, ông đã trở thành một học giả xuất sắc nhất tại Đại học Harvard, tham gia vào chính quyền của Nixon vào cuối thập kỷ sáu mươi, theo đuổi thành công tình trạng bớt căng thẳng với Trung Hoa và Liên Bang Sô Viết, để cho cuộc chiến tranh Việt Nam leo thang (phí phạm hàng chục ngàn mạng sống) vì vậy ông có thể giảm leo thang nó sau này theo các điều khoản của riêng mình và đã đoạt giải Nobel vì Hoà Bình về việc này.

Những cuộc đàm phán về hoà bình đã được tổ chức tại Paris. Bất cứ ai thấy ông đi bộ ở đây tại Tuileries này đều biết điều đó. Lịch sử đã nhân cách hoá chiến tranh và hoà bình. Ông già này đã ủng hộ các chế độ Phát xít ở Châu Mỹ La Tinh, có lẽ đã cho ám sát Salvador Allende, đã trì hoãn việc thông báo cho tổng thống để ông không làm trung gian trong cuộc chiến ở Yom Kippur, cố tình để hàng ngàn người phải chết đói ở Bangladesh. Và ông đã ở đây.

Cạch, tiếng máy ảnh vang lên.

“Cảm ơn, cảm ơn,” Kissinger nói “Chúc một ngày tốt đẹp,”

“Thật tuyệt vời được gặp ông, thưa ông,” chúng tôi nói.

Chúng tôi không tiếp tục bước đi, nhưng đứng nhìn ông đi với đội ngũ bảo vệ ông. Họ rời khỏi khu vườn cách đó xa hơn một chút, tiến ra phía đường nơi một chiếc xe chắc chắn đang chờ. Chúng tôi không nói gì, tôi có thể tưởng tượng rằng ông đang mua sắm, ông có những địa chỉ quen thuộc trên đường Saint Honore, Place Vendome.

Ồ, Henry Kissinger,” cuối cùng Hugo đã nói.

“Vâng, tuyệt vời,” tôi nói.

“Siêu việt.”

“Chắc chắn rồi”.

Chúng tôi nhìn nhau một lần nữa.

“Đáng lẽ hắn đã bị tống cổ vào tù cách đây nhiều năm rồi”.

“Về chuyện bánh mì và nước, sự ăn uống kham khổ, tên khốn”.

Chúng tôi cười, dĩ nhiên.

 

Khoảng mười sáu ngày đầu tháng Sáu, trời mưa như thể Thượng Đế muốn xoá sạch những vết nhơ khỏi trái đất, nhưng tới ngày thứ mười bảy mây tan, mặt trời khoang dung toả ánh sáng khắp những ngọn đồi  giữa nước Pháp và nước Bỉ. Mùa hè hé lộ chính nó, một lời hứa đã được thực hiện. Có những cách nhanh hơn để từ Amsterdam đến Waterloo, nhưng chúng tôi đã đăng ký vào một trung đoàn – “trung đoàn” là một từ hoàn toàn không đúng, nhưng đó là những gì chúng tôi đã gọi nó – cùng với nhiều người Anh tái nhập ngũ, tụ tập tại Gare du Nord, nơi tàu hoả từ Luân Đôn đến và một đội nhỏ những chuyến xe khách đường dài đang chờ để chở chúng tôi đến trại lính của chúng tôi ở Bỉ.

Có những người đã trải qua một tiếng đồng hồ đầu tiên của họ trên xe buýt hoàn toàn bận tâm với ánh đèn và các lỗ thông gió bên trên chỗ ngồi của họ. Có những người đàn ông (và chỉ có những người đàn ông) liền chộp lấy những tác phẩm về lịch sử dày cộm và bắt đầu đọc ngấu nghiến hoặc mải mê nhìn sát vào những tấm bản đồ, nhưng hầu hết những hành khách liền tựa lên lưng ghế ngồi phía trước họ, tạo mối liên kết nam giới ngay lập tức. Có những câu chuyện đàm thoại về những gì chúng ta có thể mong đợi, những sự kiện đã vạch định, mọi thứ đã được công bố về diễn đàn trên các trang mạng khác nhau về Ngày Chính thức ở Waterloo, bắt đầu vào ngày mai.

Đối với những ai đang tự hỏi loại người nào di chuyển đến Waterloo để tái ngũ, những người trước đây đã xảy ra ở đó, loại người nào đang ngồi trong xe buýt, tôi chỉ có thể nói: những người đàn ông chính xác,  những người đã không quên bố mẹ họ đã nuôi dưỡng họ như thế nào, những người biết rõ những quy luật của cuộc sống, những người đã sắp xếp tiền trợ cấp và bảo hiểm hoả hoạn của họ, những người có lẽ đã có một lá thư trong một ngăn kéo ở đâu đó mà đã có ở đó kể từ sinh nhật lần thứ bốn mươi của họ và trong đó có chứa đựng  những chỉ dẫn về sự mai táng “trong trường hợp họ”, những người đàn ông đã mua cùng một đôi giày mỗi năm. Một vài người trong số họ đã mang con trai theo với họ,  những cậu con trai rụt rè, vẫn còn trải qua buổi tối thứ bảy đằng trước TV tại nhà. Họ là loại  đàn ông rất dễ dàng để bị.chế diễu, với đôi ủng  Gore-Tex và quần dài cài bằng khoá kéo, áo khoác lót bằng lông cừu, và các túi xách hạng bét của họ - nhưng điều đó đang tạo cho họ một sự bất công. Có lẽ họ là những người đàn ông đã bỏ ra hàng giờ đồng hồ trên sân thượng để tạo cây từ giấy xốp, giấy bìa dùng để làm hộp và những que kẹo để kiến tạo những toà lâu đài, những lữ quán thu nhỏ, tạo toàn bộ cảnh quang cho các chiến sĩ bằng thiếc nhỏ xíu họ đã sơn bên dưới một tấm kiếng phóng đại. Đồ chơi nhưng không phải để trẻ con chơi, mà có ý nghĩa để  làm sống lại lịch sử. Những người này bỏ ra hàng trăm tiếng đồng hồ và hàng ngàn eu-ro vào trong nó. Tóm lại, những người mà tôi rất ganh tị với họ ở ý nghĩa cơ bản, bởi vì mỗi người đàn ông nên có một căn phòng của riêng mình nơi anh ta có thể vứt bỏ công việc và gia đình để chơi, và vui theo cái cách mà thường chỉ được dành cho những cậu bé.

“Chào cả thế giới. Chào các chiến sĩ anh dũng”.

Giọng nói đến từ loa phóng thanh chậm rãi một cách khác thường, được phát âm rõ từng âm tiết bởi một người Pháp.

“Chào mừng tất cả mọi người”.

Nó xuất phát từ hàng đầu nơi một người đàn ông đã đứng nghiêm, một tay đang giữ chặt trên giá chất hành lý, tay kia nâng chiếc mi-cờ-rô lên miệng. Cao ráo và thon thả một cách thanh lịch, ông đang mặc một chiếc áo khoác dài xuống tới đầu gối, một loại áo choàng của bác sĩ. Trong khi đang nói chuyện, ông e thẹn nhìn xuống đôi giày, có một sức quyến rủ nào đó cho thấy ông ắt hẳn ít nhất là đã sáu mươi và có những nét nổi bật, thô kệch, rất có thể ông đã là một đại tá trong Quân đoàn Nước ngoài

“Hoan nghênh đã đến với Trận chiến Waterloo”.

Ông đang cố gắng giải thích cho chúng tôi nơi chúng tôi phải đăng ký khu đóng trại, nơi chúng tôi nhận quân phục, mấy giờ ngày mai chúng tôi phải báo cáo. Nhưng trước tiên ông muốn cho chúng tôi lời chào mừng đặc biệt, xét thấy chúng tôi, những người Anh và Hà Lan, đã rất hào hiệp khi chiến đấu ở bên phe của nước Pháp của Napoleon. Mỉm cười, ông giơ nắm tay lên không trung , “Hoàng Đế muôn năm! Hoàng Đế Napoleon muôn năm!”

“Hoàng Đế muôn năm! Hoàng Đế Napoleon muôn năm!” chúng tôi hô đáp lại.

Dĩ nhiên, ông tiếp tục bằng tiếng Anh đặc mùi phô ma ca- măng-be không thể cưỡng lại được của ông, sau đó tất cả chúng tôi sẽ bị treo cổ như những kẻ phản bội

Sau đó tất cả chúng mày sẽ bị treo cổ  như những kẻ phản bội.

Tất cả chúng tôi cười lớn, và những chỉ huy trưởng của chúng tôi coi đó như một dấu hiệu của một tinh thần đồng đội tuyệt vời và chuyền quanh một cái hộp của những cuốn sổ tay với chương trình cho trận đánh ngày mai.

Không ai trên xe buýt chần chừ trước việc lao vào quyển sổ tay của mình, mà có nghĩa là một sự kết thúc ngay lập tức đối với tình đoàn kết dễ dàng; một chuyến tham quan đã trở thành mục tiêu nghiên cứu một lần nữa. Năm tới sẽ là lễ kỷ niệm thực sự. 18 tháng sáu 1815- 18 tháng sáu 2015 . Quân đội 

Pháp đã hứa một số trung đoàn kỵ binh, trong mọi trường hợp, tổng thống sẽ đến, có lẽ ngay cả Nữ Hoàng Anh, nhà vua Hà Lan cũng sẽ đến.

Khán đài có sức chứa hàng chục ngàn du khách sẽ được dựng lên. Tất cả những người trưởng thành khắp Châu Âu đã theo học những bài học về cỡi ngựa trong lúc rỗi rảnh của họ bởi vì họ đã may mắn được chỉ định các vai trò chính thức theo lô – không như Napoleon  hay Blucher, toàn bộ các cơ quan tuyển chọn đã được triển khai cho những người đó, các nhân vật nổi tiếng đang bay đến, Benedict Cumberbatch đã cam kết đóng vai Wellington, nhưng như các đại tá, đại uý những người được ghi tên vào sử sách với tên tuổi và cấp bậc  bằng cách ngã xuống ngựa và tất cả diễn ra vào chính ngày hôm đó. Nhưng điều đó đã không làm cho chúng ta ngày nay ít nghiêm trọng hơn.

Vì vậy chúng tôi nghiên cứu cửa hàng y phục, các bãi đất đóng trại, các bài đọc ngoài trời theo lịch trình, các tours . . .

‘Chào, nhân tiện, xin giới thiệu tôi là Raymond, đến từ Rotterdam”.

Người khổng lồ bên cạnh tôi đã bắt đầu chuyển động, ông chìa cái xẻng xúc than ra và bảo tôi rằng ông đã bỏ ra ngày cuối tuần để thăm viếng tất cả các tượng đài có liên quan tới Napoleon ở Paris.

“Lăng ông ở Les Invalides”.  Ông đặt một bàn tay lên trái tim.

Goosebumps”.

Đẹp lắm, có phải không?”.

“Thật không một chút tì vết, quá trong sạch. Như thể họ mới chôn cất ông ngày hôm qua vậy.”.

“Hay là giống như ông ở đây mãi mãi vậy,” tôi nói. “Như thể ông luôn ở đó và sẽ mãi mãi ở đó”.

“Ông ta sẽ ở đó mãi mãi, hãy tin điều đó ở tôi. Không ai sẽ di dời ông ta”.

Tôi rất thích những điều như thế đó, “lấy nó từ tôi” của ông. Tôi quyết định rằng tôi thích Raymond theo cái cách mà bạn thích một tài xế tắc xi – bởi vì bạn chẳng có liên quan gì đến ông ta, nhưng vẫn còn đang đặt mạng sống của mình vào đôi bàn tay của ông ta. Mối ràng buộc được tăng cường bởi việc mặc chiếc áo khoác màu tím xám với mẫu hình học giống như kiểu áo thầy giáo được ưa thích của tôi ở trường tiểu học đã mặc. Ông có cái đầu to, hói và hai má giống như hai túi yên ngựa, nhưng một lỗ mũi hẹp, cứng và nhọn, sụn thuần tuý – bạn có thể tưởng tượng gắn một lỗ mũi như thế vào một ổ khoá và lắc lắc nhẹ nó mở ra, hai bọc màu đậm dưới mắt giống như chúng đã có ở đó hằng nhiều thập kỷ.

“Lần đầu ở Waterloo?”

Lần đầu tôi đi chiến đấu. Còn bạn?”

“Lần đầu. Luôn muốn thử một lần. Bây giờ tôi có thời gian”. Hắn vỗ vào ngực hai lần. “Phổi, không được tốt”.

Tôi bảo với hắn em trai tôi đang ở trong một trong những chiếc xe buýt khoảng hai trăm mét đằng sau chúng ta; chú ấy mua vé trễ và, Chúa tôi, những người tổ chức rất nghiêm khắc. Raymond cười: người Pháp không để Waterloo có cơ hội.Vợ và hai con trai của anh ta đã lái xe đến đó bằng xe mooc có thể bị sập. Con gái anh ta thích ở nhà hơn bởi vì, bạn biết đó, phụ nữ và Waterloo, chúng không cùng đi với nhau.

Từ trong iPhone đưa ra những tấm hình của các tượng đài, hình chụp selfies của anh ta trước các tượng đài, những bức ảnh tự chụp của anh ấy bên cạnh một tấm bảng màu xanh trên mặt đất. “Thống chế Ney, ông hoàng của xứ Moskva, bị ám sát ở đây”. Đó là những gì đã xảy ra, ha, anh ta bảo tôi. Khi Ney thấy rằng trận đánh đã thất bại, ông đi tìm cái chết anh dũng, nhưng mặc dầu hết ngựa này đến ngựa khác bị bắn từ bên dưới ông, ông vẫn được cứu – chỉ bị hành quyết bởi chế độ mới sau cuộc tháo chạy của Napoleon -  nhẫn tâm, vị chỉ huy trưởng trung thành nhất của Napoleon.

Lòng dũng cảm của những người dũng cảm”. tôi nói.

“Ông ra lệnh bắn vào đội quân hoả lực của ông. Họ đã không làm theo mệnh lệnh đó nữa”.

Ý nghĩa chắc chắn của lịch sử này đã kích hoạt điều gì đó trong những người đàn ông xung quanh chúng ta, như thể nó là một tín hiệu đối với họ để tham gia vào cuộc đàm thoại , và họ đã trình bày những thông tin riêng về Ney, Murat, Talleyrant và Fouche – và tại sao không? Chúng ta ở đây vì chúng ta có điểm chung, một cái gì đó trong quá khứ xa xôi, ngoài tầm với của chúng ta. Chúng tôi càng thảo luận về nó, nó càng trở nên hiện thực hơn, chúng tôi càng ít cảm thấy mình đang trên đường làm một cái gì đó khó xử hơn. Tôi quay ra phía cửa sổ, phía xa lộ và những ngọn đồi xanh tươi bên ngoài.

 

Tôi gần như chết ngay tức khắc như một trong những người trước tôi.

Chúng tôi đang tiến lên ngọn đồi thành ba hàng năm mươi người, về phía pháo binh Anh. Ba mươi mét về một bên ba hàng khác đang tiến lên, bên cạnh họ, ba hàng khác nữa cũng đang tiến lên. Chúng tôi đang ở đợt thứ nhất. Hoàn toàn phù hợp với tiến trình của những sự kiện lịch sử. Nhiệm vụ của chúng tôi sẽ được theo sau bởi một cuộc tấn công trực diện lớn hơn nhiều với kỵ binh ở hai bên sườn; hai ngàn tình nguyện quân Pháp khác đã có sẵn ở vị trí. Sáng hôm đó chúng tôi đã nhận quân phục từ một nhà kho lớn. Chúng đến với hai cỡ: quá lớn và quá nhỏ. Quần dài của tôi thì quá bự và xệ xuống quá thấp nó giống như được nhất thẳng lên từ một Yo! Video MTV Raps. Mũ của Hugo sụp xuống tới mắt. Đôi ủng vỗ phần phật trước mỗi bước đi. Bạn cảm thấy như có mỗi quả thông, mỗi cành cây xuyên qua lòng bàn chân. Trên đồi Waterloo, đôi ủng của Hugo cho ra tiếng cót két lạ tai, nó vang lên như thể anh đang nhảy múa – sáng hôm đó chúng tôi gần như đã tách ra hai bên vì nó, nhưng lúc bấy giờ chúng tôi không cười.

Không ai nói một lời. Có ai đang đánh trống ở đâu đó, một loại trống trận đánh bằng hai tay, có vẻ như đang tác động từ từ về phía cao trào, một loại âm thanh khiến bạn bước cao chân hơn và nhìn thẳng về phía trước.

Chúng tôi tập trung vào những người đàn ông đằng trước chúng tôi hai trăm mét. Tôi cố không nghĩ về họ một cách quá chi tiết. Họ cũng đang mặc quân phục họ tự may hay thuê ở đây. Mặt trời giữa trưa đang thiêu đót trên cổ chúng tôi. Loại vải cứng, rẻ tiền của bộ quân phục của tôi đã chà xát lên da thịt tôi. Bầu trời trong sáng như băng xanh và đã khiến cho cỏ cũng có vẻ xanh hơn trước.

Tôi đã thức dậy sớm sáng hôm đó. Tôi đã mơ tôi đang săn đuổi bởi một đoàn làm phim và phải làm gián đoạn chuyến bay của tôi vì phải đi tiểu, nhưng tôi rất sợ quay phim nó  - và thức dậy với bàng quang phình to, thúc giục. Mùi cao su của giường hơi của tôi vẫn còn ở trong miệng tôi, em trai tôi đang ngáy một cách nhẹ nhàng và nhịp nhàng. Mái tóc bạc, cứng và khô bám sát vào trán của nó, miệng mở rất to tôi có thể thấy những chỗ lởm chởm trong vòm miệng.

Tôi nhẹ nhàng mở dây kéo nắp lều ngủ và bước ra ngoài qua những sợi dây thừng của những chiếc lều mái vòm xung quanh. Tôi có thể nghe những người khác đang ngáy nữa, một mặt trời kín đáo thò đầu ra khỏi chân trời, có những lều trại và xe rờ-mooc gần như xa tận đến cuối tầm mắt. Tôi tận hưởng cái yên tĩnh. Thật tuyệt vời khi đứng đó lúc thức dậy, chung quanh mọi người còn say ngủ, như thể ngày là của riêng tôi, như thể tôi đã biết một cái gì đó mà họ không biết.

Nước tiểu của tôi đang sột soạt trên lá thông khô với âm thanh như đá vỡ thì bỗng tôi giật mình khi thấy một người cỡi ngựa. Mặc đầu ông ta đã sát bên, nhưng tôi không nghe tiếng vó ngựa. 

Một người đàn ông trong bộ quân phục kỵ binh Pháp, với một cây kiếm kỵ binh và tất cả, một điếu thuốc trên miệng và một ly cà phê trên tay.

“Chào buổi sáng, thưa ngài,” tôi nói.

Ông gật đầu (một trong những cử chỉ nhỏ nhất, thực sự cộc cằn, như thể sự có mặt của tôi đã quấy rầy ông, có lẽ ông muốn ngày là của riêng ông nữa), thúc ngựa, và trước khi ông biến mất khỏi góc của toà nhà đầy tiện nghi, ít nhất đã có hai mươi lính kỵ binh khác đã phi nước đại qua khỏi đó.

James Salter đã viết rằng điều không thể cưỡng lại được về một phi công chiến đấu là rằng mọi thứ xoay chung quanh bạn – tàu sân bay đặt ngoài khơi cho bạn, thợ máy trên tàu, kỹ thuật viên, nhân viên vô tuyến, đầu bếp, nhân viên tạp dịch, tất cả đều ở đó và vì vậy bạn có thể cất cánh.

Tôi vừa có chính cái cảm giác đó trong cả cuộc đời tôi: gia đình nơi tôi lớn lên nhất định xoay quanh tôi, trường học, trường đại học đều có ở đó cho tôi, nhật báo hiện hữu ở đó cho tôi, hiệu sách, các liên hoan văn học – những đoàn kỵ binh đang phi nước đại qua khỏi tôi và phớt lờ như thể tôi là một kẻ vô hình. Mặt đất rung chuyển, ngựa hí, chúng vẫy đuôi, những người cỡi ngựa ngồi thẳng lưng nhưng thư giãn, họ đi qua mà không thèm hạ cố nhìn tôi – nhưng tôi đứng đó với một nụ cười toe toét đầy hạnh phúc trên khuôn mặt.

 

Đường biên giới của Anh giờ đây chỉ còn cách một trăm hai mươi mét. Cũng như tôi đã cố gắng không nghĩ về những chiến sĩ người Anh, tôi cố gắng không nhìn những người đứng xem cũng cách khoảng một trăm hai mươi mét phía sau băng màu cam với khả năng thu phóng và ống nhòm của họ. Tôi tự hỏi liệu gia đình Raymond có mặt trong số họ không, tôi tự hỏi tình trạng sức khoẻ của anh ta thực sự tồi tệ đến mức nào, với “ phổi, không tốt” của anh ta. Anh ta chỉ cách tôi ít mét,  nhưng tôi không muốn nhìn anh ta.

Tôi đã có thể tập trung đặc biệt tốt ở đây và bây giờ, sự tồn tại, bộ quân phục của tôi, cái cách chúng tôi đang đi diễu hành, sự căng thẳng ở sau lưng mà tôi đang giữ thẳng hơn bình thường rất nhiều. Như thể một miếng vải ướt đã lau qua tấm bảng đen của tâm hồn tôi sạch bóng. Đó là một phần của dòng cảm xúc biết bao của tôi. Nó gần như thuộc thể chất, một cảm giác ngứa ran từ cột sống đến thân não của tôi. Dần dần cảm thấy chính mình hoà tan vào trong một giấc mơ.

Lúc này chúng tôi đang diễu hành xuống đồi. Thung lũng giữa chúng tôi và người Anh thì khó khăn hơn vì bạn phải giữ lại để tránh đi quá nhanh và phá vỡ đội hình. Đây chính là lúc mà người Anh khai hoả. Lúc một giờ ba mươi chiều, dĩ nhiên, giống như một trăm chín mươi chín năm trước, Le bapteme de feue, cuộc thử lửa đầu tiên.

Một khẩu đại bác ngay trước mặt chúng tôi đã khai hoả về phía chúng tôi, như thể ai đó đang hắt hơi vào mặt tôi, âm vang nghe như gió rít ngang qua trước khi một chùm khói trắng xuất hiện từ thùng thuốc nổ.

Điều điên rồ là lúc nào tôi cũng có cảm giác như đã từng kinh qua điều này trước kia. Những đám mây của khói thuốc nổ từ những chỗ trống chìm dần cho đến khi toàn bộ phòng tuyến của người Anh bị che khuất khỏi tầm nhìn và sẽ không xuất hiện trở lại cho đến khi chúng tôi cách khoảng bảy mươi mét, và Thống soái Erlon ngồi trên lưng ngựa đằng sau chúng tôi thổi còi và chúng tôi biết đến lượt chúng tôi tấn công.

“Pháp quốc muôn năm!”

“Hoàng đế muôn năm!”

“Cố lê, hỡi các chiến sĩ, tiến lên!”

Bỗng tôi nhận biết mình sắp chết – chúng tôi đã thoả thuận trước rằng ở khoảng cách tám mươi mét chúng tôi sẽ tăng tốc và vào trong tầm hoả lực có tính cách lịch sử và trên mỗi mười mét sẽ có năm chiến sĩ sẽ ngã gục. “Ai tình nguyện?” chỉ huy của chúng tôi ngày hôm trước đã hỏi. Tôi đã giơ tay và chỉ lúc này tôi đã hiểu tại sao.

Những chiến sĩ vụt chạy qua bãi cỏ, hai tay ôm chặt súng như thể chúng là những mái chèo họ đang sử dụng để đẩy chính họ tới phía trước. Chúng tôi có thể thấy những người Anh đang chiếm mục tiêu, trống lệnh của chúng tôi lúc này vang lên lớn hơn nhiều, những đôi ủng được thuê của chúng tôi đang có nguy cơ sắp tuột khỏi chân, một sĩ quan người Anh giơ kiếm lên, chúng tôi đã đến khoảng năm mươi mét, hàng ngũ gọn gàng của chúng tôi đã tan rã, chúng tôi đã tới khoảng cách bốn mươi lăm mét và thấy một lưỡi kiếm vung xuống, những tiếng beng beng lớn vang lên, chúng tôi thấy những ánh lửa và những cột khói bốc lên từ những người lính Anh – tôi để chính mình ngã tới phía trước ở độ nghiêng hoàn toàn. Tôi ôm chặt khẩu súng nòng dài trước ngực bằng cả hai tay, mặt tôi chạm lên cỏ, mũ bay mất, tôi đã nếm mùi đất. 

Tôi đã đề nghị được chết bởi vì cảm giác đó được cho là cảm thấy như thể tôi đang hy sinh. Các chiến sĩ ở các hàng phía sau bước qua người tôi mà không ngoái nhìn lại, và một lần nữa tôi cảm thấy một cảm giác ngứa ran xuyên khắp cơ thể tôi, đó là một cái gì thuộc bệnh căng thẳng thần kinh. Tôi đang nằm đó một cách ngon lành trơ trọi trên bãi cỏ mềm. Tôi cảm nhận lực vạn vật hấp dẫn, tôi cảm thấy thế giới đang xoay, và tôi cảm thấy cô đơn vô hạn, và hoàn toàn vô vọng. Đó là một  loại cô đơn đầy thú vị và chẳng chút u sầu, một cảm giác của việc ở giữa đám đông mà không bị cuốn hút bởi nó, và kết quả là cảm thấy riêng lẻ hơn.

Những chiến binh người Pháp càng chạy xa khỏi chỗ tôi, tôi càng trở nên sung sướng hơn. Thực sự là như thế đó: tôi có thể cảm thấy chính mình đang trở nên hạnh phúc thực sự, như thể có ai đang chuyền serum cho tôi, tôi cảm thấy nó đang chạy khắp người tôi.

Pháp quốc – đất nước này đã cho tôi quá nhiều. Đã rất lâu kể từ khi tôi kinh qua đất nước này. Mùa hè năm đó, tại nước Pháp, khởi đầu cho những tuần lễ hạnh phúc nhất của đời tôi. Không quá phức tạp. Sự có mặt của em trai tôi ở đây đã làm tăng thêm cảm giác đó,  như thể tôi đã trở về kịp lúc. Tất cả những kỳ nghỉ hè đó. Từ các địa điểm cắm trại thường xuyên của chúng tôi đến ngôi làng gần nhất là một cuộc đi bộ đường dài khoảng năm hay sáu ki-lô-mét, một con đường ngoằn ngoèo dẫn tới một ngọn núi. Gần như không có bất cứ một sự lưu thông xe cộ nào. Cây hoa oải hương mọc ở ven đường, những con dế vô hình phát ra âm thanh lạo xạo. Bạn đi ngang qua một trang trại nhỏ, nơi bạn có thể mua những lọ mức. Không thấy người nhà nông nào, bạn chỉ phải để lại vài franc. Có một sự tin tưởng  vào sự chân thật của con người. Gần như mỗi ngày tôi đã đi bộ đến làng dưới ánh nắng chói chang của mặt trời, gần như chỉ có một chiếc khăn quàng qua hai vai để khỏi bị nắng thiêu đốt.

Tôi nói với bố mẹ tôi là tôi đã chơi bóng đá với bạn bè hay đi tắm ở ngoài sông, nhưng tôi đã không. Tôi chưa bao giờ có bất cứ một mục đích gì. Tôi đã đi bộ và muốn làm điều đó một mình. Tôi cũng không bao giờ mang theo máy nghe nhạc. Trong một ngôi làng luôn buồn ngủ, tôi đã mua nhiều nhất là một cuộn Mentos, rồi  đi bộ trở về. Tôi đã trở nên da nâu sạm và tóc màu bạch kim. Tôi rất gầy. Tôi muốn tất cả cho chính mình: đất nước, những ngày và cuộc sống của tôi.

Vào buổi tối hát karaoke hàng tuần, tôi đã hát “The Tide Is High” của Blondie, cùng với Hugo, và với bạn bè. Tôi đã chơi sáu ngàn ván bàn tròn trên một cái bàn bóng bàn nghiêng bằng bê tông phía sau nhà vệ sinh. Trong suốt kỳ nghỉ đầu tiên của tôi, tôi phải là một trọng tài biên cho vòng thi đấu bóng đá thường niên, lúc lên mười sáu tuổi tôi  đã được phép chơi cho một trong những đội bóng đá. Chúng tôi nghe  Greatest Hits của Phil Collins, London Years của Rolling Stones, đĩa CD duy nhất mà chúng tôi có. Chúng tôi viếng thăm các chợ  trong những ngôi làng không tên, mua những bao dược thảo tươi, gửi hai tá bưu thiếp mỗi ngày. Chúng tôi không bao giờ mua kẹo que, nhưng dừng lại ở các siêu thị để mua những bình kem vanila  và ăn bằng những chiếc muỗng nhựa dùng một lần mà chúng tôi mang theo cho mục đích đó, ăn ngấu nghiến rất nhanh, nó làm cho chúng tôi đóng băng cả não bộ. Tôi còn nhớ những kỳ nghỉ hè và bố tôi hỏi thế nào nếu tôi có muốn làm một chuyến lái xe và đi vòng trở lại bằng đường tỉnh mà không có điểm đến nào cả, băng qua các vùng nông thôn, qua khỏi những ngôi làng nhỏ, uống coca cola ở đâu đó . Bố tôi đánh trống nhịp trên tay lái, tôi nhìn ra cửa sổ. 

Mùa hè trước sinh nhật mười tám của tôi, tôi đã mất trinh tiết với một cô gái người Pháp, mặc dầu tôi không bao giờ thực sự muốn âm vang của sự trong trắng đó bị “mất”. Tôi đã không mất bất cứ thứ gì, tôi đã đạt được một cái gì đó. Đó là việc lúc ấy tôi thấy nó như thế nào, đó là việc bây giờ tôi thấy nó ra sao; cô ta tặng tôi một món quà và món quà đó là cô ta và tôi đối xử nó với sự hấp tấp và vụng về  - chỉ giống như xé giấy gói quà ra khỏi món quà mà bạn đang vui mừng đón nhận – hân hoan và cười toe toét. Cô ta cũng cười nhăn nhở vì thích thú và nói rằng chúng tôi chỉ phải chờ một lát và cố gắng làm lại. Và đó là những gì chúng tôi đã làm, gần như cả một buổi chiều, mãi cho đến khi bố mẹ cô ta đi mua sắm trở về.

Sau đó chúng tôi đi đến một dòng sông nhỏ chảy ngang qua khu cắm trại và nằm ngửa, tay trong tay, thả nổi bềnh bồng, để dòng nước mang chúng tôi xuôi dòng. Bầu trời trong xanh, mặt trời, trông lên qua hai hàng mi dày đến những ngọn núi xa ở mỗi bên bờ sông Gorges du Verdon. Chúng tôi đi xa đến nỗi chúng tôi kết thúc bằng việc phải đi bộ bằng chân trần trở lại  khoảng năm hoặc sáu ki-lô-mét, nhưng chúng tôi đã ở bên nhau, chỉ hai chúng tôi, nắm chặt tay nhau và khi chúng tôi về đến nhà thì đã đến giờ ăn tối. Rửa chén bát, tôi rơi vài giọt nước mắt âm thầm, tôi còn nhớ, bởi vì ngày đã qua, vì tôi đã để nó tuột khỏi các ngón tay tôi.

Nằm trên vuông cỏ mềm tôi nghe thấy tiếng vó ngựa, mà ắt hẳn giống như âm thanh của một trận động đất nhỏ, tôi nghe tiếng la to, nhưng nó không đến chỗ tôi – tôi không đang nằm đó trong vai trò của tôi bởi vì vai trò của tôi cảm thấy hiện thực hơn bất cứ thứ gì khác. Tôi đang ở trong quá khứ, hoàn toàn, chỉ không phải là quá khứ đã được chiến đấu ở đây, mà là một thứ gì đó nhỏ hơn nhiều, một quá khứ ít xa xôi hơn nhiều.

Pháp quốc – đất nước này đã cho tôi quá nhiều. Đó là những gì tôi đã đang nghĩ  khi tôi nằm đó, mãi đến khi tôi nhận biết tôi hoàn toàn không ở Pháp: Waterloo là ở Bỉ, một quốc gia có lịch sử bằng cách nào đó đã bị lãng quên một cách sâu sắc, một đất nước mà tôi đã không bao giờ làm bất cứ thứ gì tôi thực sự yêu thích. Nhưng tôi đã nằm ở đó trong bộ quân phục Pháp, đã ngã xuống vì vinh quang của đế chế Pháp.

Sự thoả thuận là rằng bạn phải ở tại nơi bạn ngã xuống; các yêu cầu y tế sẽ đến để hôn bạn trở lại cuộc sống như trước. Rồi những nhà ban hành lại luật pháp được phép trở lại các chức vụ khởi đầu, và tham gia vào nhiệm vụ tiếp theo. Hãy để họ thư thả, tôi nghĩ, hãy để tôi nằm ở đây càng lâu càng tốt.

Bên ngoài khoé mắt của tôi, tôi thấy những người bị thương khác nằm trên mặt đất, cách đó mấy mét. Rất có thể tôi đã cố gắng để thấy liệu có bất cứ khuôn mặt thân quen nào trong số họ, nhưng tôi nhắm mắt. Một chiếc trực thăng bay bên trên đầu, khá thấp, tôi đã giả định một vị trí trong bào thai và tập trung một cách rất hài lòng vào cái chết của riêng tôi.

 

                                                              Phan Thiện Trì chuyển ngữ

                                                                      :September, 2021

 

                                                  

                                                                                  

 

  

 

 

 

 

 

 

 

 DSS5. DSS5.  C H I Ế C   C Ặ P   D A

 

                                                                                                         F. Bordewijk

     

                                                                                                                      

                                                                


                                                                              English translation by Paul Vincent

                                                                              Vietnamese translation by Phan Thien Tri

 

Hành nghề Luật sư, Ferdinand Bordewijk (1884-1965) lần đầu tiên ra mắt công chúng tập văn xuôi của mình thuộc thể loại khác thường, rất xa lạ với đất nước Hà Lan – ba bộ sưu tập  Fantastic Narratives. Ba quyển tiểu thuyết ngắn thuộc chủ thuyết vị lai tiếp theo đã khẳng định  danh tiếng của ông như một tác giả về văn xuôi rất độc đáo, với câu văn ngắn gọn, súc tích và bằng một văn phong được mài giũa  kỹ lưỡng. Một loạt truyện ngắn về cha và con đầy kinh sợ trong một thế giới dựa trên luật pháp, quyển Character (1938) là một điểm nhấn nữa trong sự nghiệp của ông, một chuyển thể thành phim đoạt giải Academy Award vào năm 1998.

 

 

Đã gần mười năm kể từ ngày giải phóng. Trong khoảng thời gian đó, ông Kars đã trông thấy gia đình mình tăng trưởng rõ rệt. Ông đã gần đến tuổi trung niên, và vẫn còn đang làm việc – sau một thời gian bấp bênh trong công việc trước đó – tại một trong những văn phòng chính phủ có liên quan đến việc thanh khoản mọi thiệt hại do chiến tranh và khôi phục mọi quyền hạn, và ông đã dự định thanh lý chính mình. Vì thế, cuối cùng ông đã trở thành một viên chức nhà nước.

 

Thế nhưng ông Kars, người sớm được cân nhắc lên chức vụ cao, đã không sợ sự tinh giản biên chế của riêng mình. Ông đã cống hiến quá nhiều việc làm đáng tin cậy cho chính phủ không phải vì muốn tiếp tục giữ vững địa vị đó. Ông biết rõ giá trị của mình, và may mắn được lãnh đạo cấp cao biết đến nữa, nên theo tiến trình đúng hạn chắc chắn ông sẽ có được một chức vụ khác hợp lý hơn trong chính phủ. 

Ông làm khá nhiều công việc phụ trội tại nhà vào buổi tối, mang về những tài liệu rắc rối để nghiên cứu lúc rỗi rảnh. Ông đi lên từ một hàng dài của những viên chức nhà nước, và nhớ rất rõ về những câu chuyện kể từ ông nội về ngày trước không có những chuyện như xách cặp da về nhà. Các quí ông thời đó làm việc tại các phòng ban khác nhau, thường đi bộ về nhà hai tay không, hoặc nhiều nhất là cây gậy chống hay chiếc dù. Họ dành trọn buổi tối cho việc làm bán thời gian của họ. Thời ấy, việc làm ngoài giờ là hết sức cần thiết. Thật không thể nói cái nào nên ưu tiên trước: đồng lương ít ỏi của viên chức nhà nước hay việc làm bán thời gian; dù vậy, chẳng ai suy nghĩ trong đầu về những vấn đề như thế.

Nhưng với ông Kars, không có thì giờ cho, hoặc cần đến việc làm bán thời gian, mà đã hết sức cần với chiếc cặp da. Điều này đã trở thành một phần của cá tính ông đến nỗi vợ ông thường phải làm nhẹ bớt gánh nặng của ông về chiếc cặp da trước khi bắt đầu mỗi chuyến đi bộ vào sáng Chủ nhật. Nó chỉ là một sự đãng trí, thế nhưng ông Kars đã không tận hưởng chuyến đi dạo nhiều bằng những gì ông đã tận hưởng suốt tuần, mặc dầu ông nhận biết sự đền bù được cung ứng bằng sự hiện diện của nửa kia đầy trìu mến của ông. 

 

Vào một buổi chiều tháng Năm tươi đẹp khoảng sau năm giờ một chút, ông Kars từ sở làm trở về nhà. Ông luôn luôn đi bộ. Khoảng cách không quá xa, chừng khoảng hai mươi phút đi bộ, từ văn phòng, một dãy phố rộng lớn với nhiều cao ốc, về đến nhà ông, trong cùng một khu láng giềng. Thể dục rất tốt đối với ông, vì hiện ông có xu hướng trở nên béo phì, cho nên ông thích đi bộ. Một anh chàng tương đối nhỏ con, dáng đi hơi khom, thường ít khi để ý đến bối cảnh xung quanh khi đi bộ, đầu óc luôn tập trung vào những tập hồ sơ tài liệu, như trong trường hợp của chiều hôm nay. Ông ít khi để mắt đến cây non xanh tươi, trừ phi bà 

Kars chỉ cho ông xem. Bà biết khá rõ về sự hơi đãng trí của ông và thường xuyên cảnh báo ông phải cẩn thận về xe cộ lưu thông. Đáp lại, ông chỉ biết nhờ vào bản năng động vật để tự bảo vệ mình, cảm thấy sự đoan chắc này là chưa hoàn toàn đầy đủ, ông còn thêm rằng ông cũng  luôn giữ một sự đề phòng tuyệt đối.

Lộ trình của bà Kars luôn luôn, và cũng như thế đối với ngày hôm nay, đã dẫn đưa ông ta đến một ngã ba đường đầy phức tạp. Một nơi rất gần nhà, ông phải băng qua một xa lộ rộng lớn với nhiều lán xe khác nhau: một lối đi bộ được trải sỏi, một lán dành cho xe đạp được trải nhựa, một lòng đường lát gạch nung già, mỗi bên hai lán đường dành cho xe điện với luồng phân ranh cây cỏ mọc um tùm giữa chúng, một làn dành cho xe đạp được trải nhựa khác, một lối đi bộ trải sỏi  xinh xắn khác nữa. Tất cả những lán xe này được ngăn cách nhau bởi hàng cây dày san sát, khiến cho đại lộ này không chỉ trở nên xinh đẹp mà còn che khuất tầm nhìn để một khách bộ hành không thể nhìn rõ mỗi hướng khi băng qua đường mà nhất định phải nhìn quanh các thân cây nữa. Và chính ngay chỗ ông Kars thường sử dụng, xa lộ này có một điểm đặc trưng nữa khiến cho nó trở thành một ngã ba;  được sử dụng như một lán xe nữa dành cho xe buýt hai tầng tại một giao lộ hình chữ S.

 

Chiều hôm đó, khoản năm giờ mười lăm phút, ông Kars về nhà từ sở làm, đã băng qua xa lộ, vào thời điểm sự giao thông xe cộ dày đặc ở cả hai hướng. Đâu đó dọc theo con đường, tự nhiên ông có cảm giác kỳ lạ nhất mà ông từng kinh qua. Thật không thể diễn tả bằng lời trong bất cứ thứ ngôn ngữ nào, cũng không thể chuyển dịch  thành âm thanh, hình ảnh hoặc bằng ngôn ngữ tay chân nào. Nó vượt bên ngoài lãnh lực của sự cảm nhận bằng giác quan và đồng thời có một cái gì đó có mặt ở khắp nơi về nó. Nhưng điều kỳ lạ nhất là ở chỗ ông liền quên nó ngay lập tức. 

Ông tiếp tục bước đi. Ông đã băng qua khỏi đại lộ. Ngay trước mặt ông sừng sững một con đường vắt ngang chạy ngoằn ngoèo, cặp đường ray xe điện cũng uốn lượn xuyên qua nó. Từ lúc ấy trở đi, ông thường đi theo con đường quen thuộc: ngay tại góc vuông bên kia con đường này, dọc theo con đường mòn là ngọn đồi nhỏ có cổng chắn ở đầu đường và cuối đường để cấm những người cởi xe đạp không vào, rồi đến khu dân cư nơi ông và gia đình ông đã thuê  một căn nhà hai phòng và thường chắc chắn ông có mặt tại nhà trong vòng năm phút.

Tuy nhiên, vừa khi ông rảo bước  qua khỏi con đường lớn thứ hai và đang đứng an toàn trên vỉa hè thì ông bị thôi thúc bởi một mãnh lực vô hình không thể giải thích nổi là phải nhìn lại, và điều đầu tiên đập vào mắt ông  là một chiếc xe mô tô đang đậu giữa các hàng cây dọc theo đại lộ, trước mặt nó là một nhóm khán giả đã tụ tập. Mặt tiền đó lộ rõ, và ông Kars đã đang đứng đó một cách an toàn tuyệt đối, tại lối vào con đường mòn thoai thoải sau lưng, đã chứng kiến mỗi lúc một đông những người hiếu kỳ vừa đi vừa chạy ngược lên, những  người cởi xe đạp, xe gắn máy xuống xe, rồi xe hơi cũng dừng lại. Ông đã chứng kiến  rõ ràng tất cả từ một khoảng cách rất gần ông và đồng thời cũng không mấy quan tâm về họ. Bản chất ông không phải là loại người muốn đương đầu với một tai nạn giao thông ở khoảng không gian gần. Tuy nhiên, ngay lúc ấy, ông nhớ lại một cảm giác kỳ lạ chỉ mới vừa rồi. Phải chăng đó là một loại điềm báo trước chuyện gì sắp xảy ra ? Bởi vì, hãy trông kìa, nó há không phải ít nhiều gì ở cúng một chỗ giống nhau đó sao ? Thế nhưng, chính tai nạn đã không thu hút sự chú ý của ông nhiều bằng ảnh hưởng của nó trên những người chung quanh, và sự phản ứng đã thôi thúc ông hơn thường lệ, dù rằng ông không biết rõ về nó lắm.

Ông nghe thấy người ta hối hả đặt nhiều câu hỏi, những người đến muộn  đang đứng nhón gót để xem cho rõ, mọi người chen chúc nhau mỗi  lúc một đông hơn. Ông chú ý thấy   những người có khổ hình to, cao chiếm ưu thế hơn, ông thấy xe buýt chạy chậm lại, hàng loạt những chiếc đầu bỗng hướng về cùng một chỗ, nghểnh cổ càng cao càng tốt. Trong khi ấy, một chiếc xe điện trườn tới dọc theo con đường nơi ông đang đứng và khi nó lượn theo đường quanh hình chữ S để ngang qua đại lộ, nơi tai nạn xảy ra, ông thấy tất cả hành khách đứng dậy khỏi chỗ ngồi như để đáp lại một mệnh lệnh, và vụt phóng tới các cửa sổ như thể chiếc xe là một chiếc du thuyền đầy ắp du khách trong lúc biển động.

 

Không nghĩ nhiều đến kẻ bất hạnh chắc chắn đang nằm bên dưới cái gạt chướng ngại vật trước đầu mũi xe, ông Kars đứng nhìn với vẻ hơi thích thú, mà điều này rất thường diễn ra chầm chậm và chẳng phù hợp với tính tình ông chút nào. Hồi còi inh ỏi của cảnh sát từ đâu đó vang lên làm náo loạn hiện trường. Ông Kars nhìn thoáng qua cỗ xe ngựa đậu gần đó, nhưng rồi đám đông đã tới mức làm khuất tầm nhìn của ông đối với số còn lại, và ông tiếp tục lặng lẽ rảo bước về nhà. Ông sẽ sớm có chuyện để kể cho vợ nghe. Tối nay ông sẽ nghe  rõ hơn về tai nạn trên đài phát thanh, và sáng mai ông sẽ đọc bài tường thuật trên báo chí, mặc dầu, ngày nay ít có những bài tường thuật vì số tai nạn ngày càng gia tăng mà cột báo dành cho chúng lại giảm. Mục trào phúng của báo hằng ngày trước đây đã được thay thế bằng mục báo viết về các tai nạn trên các báo hiện nay, và kiểu chữ vẫn còn giống nhau.

 

Tiếp tục suy nghĩ về những vấn đề này, không phải không có một chút hài lòng bí ẩn ở sự so sánh này, ông Kars leo lên đồi theo con đường mòn rất ít được sử dụng này, di chuyển khéo léo qua cổng thứ nhất bằng thói quen hằng ngày của ông, đòi hỏi không quá ba bậc tam cấp và ba lần xoay hông, rồi sau đó một lát lại di chuyển bằng cách tương tự qua cổng  phía bên kia ngọn đồi. Vừa khi ông vượt qua được chướng ngại vật thứ hai này thì một cái gì đó khác thường xảy ra như cách mà một thanh niên lực lưỡng vượt qua  cùng lúc từ cổng phía kia. Hai cổng này hằng ngày chứng kiến sự lịch thiệp và thô lỗ, sự chào mời nhã nhặn và sự gật đầu cứng nhắc để đáp lại sự chào hỏi qua loa và cái mỉm cười thoáng qua, đôi cái nhíu mày, mấy câu văng tục, dưới dạng thở dài hay qua lời quát tháo, và ngoài ra còn chứng kiến những sự xung đột về tâm lý và thể chất nữa.

Tuy nhiên, nó thoát khỏi ông Kars, người mà đã không thấy có bất cứ lý do gì  để nhường đường cho một thanh niên vạm vỡ, rằng vào dịp này một kỳ tích đầy bí ẩn đã đạt được.

 

Ông Kars lúc này đã về đến đại lộ thứ nhất ở khu dân cư, chỉ còn bốn phút nữa là ông sẽ về đến nhà. Thật yên tĩnh, và từ xa ông có thể nghe thấy bốn điệu nhạc trong nhịp điệu đều đặn, du dương và sầu thảm. Tín hiệu dừng đột ngột. Ắt hẳn đó là xe cấp cứu.

Thật không phải chính tín hiệu bốn điệu nhạc mà bất thình lình khiến ông ớn lạnh, cũng không phải đó là dữ kiện mà – lần đầu tiên – ông đã liên kết âm thanh đó một cách đặc biệt với cái chết – và cùng lúc ấy ông trở nên ý thức về chiếc cặp da của ông và, đã nhận biết, ông không hiểu bằng cách nào, rằng chiếc cặp da đã chết. Nó tạo cho ông một cảm giác ớn lạnh không thể tưởng tượng nổi. Vâng, thực sự chính là chiếc cặp da của ông, đúng là chiếc cặp da của ông, khá bị trầy da do sử dụng nhiều, nhưng bền chắc và trầy xước vì hồ sơ bên trong. Ông luôn xách nó bên tay trái và không để nó tuột ngay lúc đó, và tuy thế, chiếc cặp da không còn trọng lượng nữa rồi. Thực ra, nó đã không chết, nhưng hầu như ông Kars đang xách một thây ma. Ngay lúc ấy, ông muốn thả lỏng mấy ngón tay ra  khỏi quai xách nhưng ông không dám. Ông sợ, ông biết rằng thế nào chiếc cặp da sẽ tiếp tục bay bềnh bồng. Ông cảm thấy những giọt mồ hôi to tướng túa ra trên trán và cùng lúc ấy ông cảm thấy chúng không còn đó nữa. Và ông nghe, không biết từ đâu – bên trong hay bên ngoài chính ông – những lời nói mà ông có lẽ đã đọc hay nghe lóm ở đâu đó,  hay đã bắt gặp truyền đi ngoài đường phố: chết không siêu thoát khỏi trần gian ngay lập tức được.

 

Ông Kars đứng chết lặng ở đó như một bức tượng, và thấy cái chết ngay đằng trước ông. Khi ông về đến nhà, ông không cần đến chìa khoá cửa, ông có thể đi  thẳng xuyên qua cửa trước đã được đóng im ỉm, rồi đi xuyên qua cửa phòng một cách dễ dàng, chẳng ai biết được vì sao. Vợ ông thường nhấc máy điện thoại và nghe giọng nói đầy xa lạ và sâu lắng:

“ Thưa bà, cảnh sát xa lộ đây. Chúng tôi lấy làm tiếc để báo cho bà một tin rất nghiêm trọng. Chúng tôi sẽ có mặt ở chỗ bà ngay lập tức.”

Có lẽ lúc này vợ ông vẫn còn giữ ống nghe sát tai và chờ đợi. Vâng, bà đang cầm máy, vẻ mặt thất thần và nhợt nhạt. Và, ôi Trời, các con của bà  cũng có mặt ở đó nữa.

 

                                                                             


                                                                                   Phan Thiện Trì chuyển ngữ

 

 

 DSS35. THỜI NGƯỜI DA ĐỎ

 

 

                                                                                                     Sanneke Van Hassel

 

                                           Translated from Dutch into English by Liz  Waters

                                           Translated from English into Vietnamese by Phan Thien Tri

                                                

 

Sanneke van Hassel (1971) là tác giả của bốn tuyển tập truyện ngắn, được ca ngợi vì bầu không khí năng động và phong cách tiết kiệm của chúng. Mùa hè của năm 2010: quyển tiểu thuyết đầu tiên của bà được xuất bản Nest . Bà là nhà tổ chức liên hoan quốc tế về truyện ngắn, Hotel Van HasselCùng với nhà văn người FlandeAnnelies Verbeke, bà sưu tập một hợp tuyển truyện ngắn đương đại từ khắp thế giới (To The City, 2012).

 

 

Chiếc băng dài để trống. Cô ngồi xuống và đặt chiếc áo len đan bên cạnh. Trời rất nóng đã mấy ngày nay. Lá cây tiêu huyền chỉ lọc ánh nắng. Kinh khủng. Tất cả màu xanh đó đã tự ẩn mình như thế nào trong nhiều tháng và giờ đây đồng loạt bật lên rất mạnh. Mọi thứ đều vọt lên khỏi mặt đất. Phát triển – cô muốn nó chậm lại, để bạn có thể quen dần. Mỗi tháng cô phải sắp xếp lại các ngăn tủ quần áo của lũ trẻ, vứt bỏ những quần áo đã quá nhỏ, chọn lựa và mang chúng đến một thùng chứa vốn đã đầy ắp ở một góc phòng.

 

Cô lấy xấp bài thi ra khỏi túi xách. Cô sẽ chấm một vài bài để cô không phải làm việc vào tối nay. Dưới con kênh đào, một con vịt kêu quàng quạc. Nó bơi đi, biến mất đằng sau bức tượng của Rodin được điêu khắc bằng đồng, đang đứng gần như ngay đằng trước mặt cô. 

“Lhomme qui marche” (Người đi bộ)  cô đọc trên bệ tượng. Chân người đàn ông dài, mông tròn và chắc nịch. Tượng không có đầu, không cánh tay. Gậy chống lờ mờ. Chỉ có bước đi là chủ đề chính, tiếp tục bước, đặt một chân trước chân kia. 

Bên ngoài đuôi mắt cô, cô thấy một người đang đi về phía cô. Cô vội nhìn xuống xấp bài thi, đang làm việc. Không chuyện trò rỗng tuếch với những gã chỉ biết rảo quanh khắp thành phố.

Bóng người đàn ông đó ngã lên giày cô và tiếp đến là một đôi giày đanh, bên trên chúng là đôi chân mặc quần dài bằng da thục có ren tua ở đường may hai bên: bộ côm-lê của người Da Đỏ mà cô đã mua cho  Heintje làm quà tặng nhân lễ thánh Nicholas. Người đàn ông đến ngồi kế bên cô. Bực mình, cô nhất túi xách lên, bỏ xấp bài thi vào trong và đặt nó giữa họ. Trên chiếc băng dài này, đủ chỗ cho cả lớp học toàn trường, sao ông ta phải đến và ngồi ngay đây.

Đồ ngốc. Mặc dầu Heintje thích cái cách mà ông ta trông có vẻ, cô nhìn sang mái tóc đen đang thả lưng chừng xuống vai. Ông đang đeo một chiếc băng tay bằng da thục với viên đá quí màu xanh lam đính trên nền bạc. Ông đang đứng khoanh đôi cánh tay màu nâu trước ngực. 

“Tôi có thể hỏi cô một điều gì đó được không?” Giọng nói của ông rất dịu dàng.

“Tất nhiên,” cô nhìn ông. Đôi mắt ông màu nâu đậm.

“Cô có biết Ahoy ở đâu không?”

“Ông phải đáp xe điện ngầm đến Zuidplein. Có một trạm dừng ở đằng kia nơi ông có thể lên tàu.

“Trên Ahoyweg có chỉ đủ các hướng.”

“Từ trạm xe điện ngầm Zuidplein ông chỉ cần theo các biển chỉ dẫn.

 

Một chiếc ly Coca trống đang trôi bềnh bồng ngang qua bờ nước. Đàn vịt rúc mỏ vào đống rác. Một chiếc xe điện chạy ngang qua phía bên kia của kênh đào. Cô chú ý thấy trên một trong những căn nhà cũ to lớn có biển ”Trung Tâm Mariners” và trên toà nhà kế bên là một biển tên “Stop Sufferings”.  

“Ra khỏi ga để đến một phòng hoà nhạc?” cô hỏi.

“Không, tôi phải đi làm việc. Tôi đã bị trễ. Tôi muốn đi bộ đến đó  nhưng thành phố này lớn hơn tôi đã nghĩ.”

“Ông phải đi một đoạn đường dài đó. Nó ở bên kia sông.”

 

Một cặp trai gái người Nhật Bản đến đứng trước tượng Rodin. Cậu con trai hỏi liệu họ có vui lòng chụp cho một tấm hình. Cậu đã sử dụng keo xịt tóc để làm cho tóc dựng đứng.

“Tốt hơn là không nên bắt tôi làm việc đó,” cô nói. “Tôi chụp hình mờ lắm.”

Người Da Đỏ cầm máy ảnh. 

Cậu con trai và cô gái choàng tay nhau. Đứng kế bên chân tượng người đi bộ chúng trông giống như một cặp người lùn. 

“Ông chỉ phải bấm máy thôi.” Cậu bé người Nhật tỏ ra nôn nóng. Nụ cười của cậu ta có vẻ giả tạo.

Người Da Đỏ mất thời gian, thay đổi vị trí, vặn ông kính, đẩy một hoặc hai nút bấm. Cậu con trai rõ ràng là đang cố gắng kháng cự lại việc đổi chỗ và chụp hình chính mình.

Khi cặp trai gái đó đã đi, họ cười với nhau. Rồi có sự yên lặng, vài phút. Mặt trời chiếu sáng dọc theo chiếc băng dài. Những kỳ nghỉ trong quá khứ, ý niệm về sự vượt thời gian mà bạn cảm nhận trong lúc đi về nhà từ bãi biển.

“Tôi phải đi,” người Da Đỏ nói. Từ chiếc đồng hồ trên trụ đèn cô thấy đã năm giờ. Nhà trẻ ở bên kia thành phố, có một quầy bán rau quả để bạn chọn, họ đã bán hết khăn giấy. 

“Tôi cũng vậy,” cô nói. “Nếu ông muốn tôi có thể đi bộ với ông một đoạn đến trạm xe điện ngầm. Tôi sẽ chỉ cho ông trạm dừng.”

“Vâng, rất vinh hạnh,” ông nói.

Họ đi với nhau dọc theo các đường phố mua bán, qua mặt những người mang kính râm, với những túi xách đầy hàng, vượt qua những chiếc xe đẩy phát ra những tiếng the thé của trẻ. Phố xá thật nhộn nhịp; thời tiết đẹp đã thôi thúc người ta ra khỏi nhà. 

Trạm xe điện ngầm là một miệng hầm tối om dưới mặt đất. Đến đầu các bậc tam cấp họ dừng lại.”Ông cần đi xuống đó.”

Ông hỏi cô có cây bút không.

Cô tìm một cây viết trong túi xách nhét đầy các thứ.

Ông xé một góc trống của tờ báo, viết một thứ gì đó rồi trao cho cô. Rồi ông sửa cổ áo  khoác của cô. Trong chớp nhoáng các đầu ngón tay ông chạm vào cổ họng của cô. Trước khi cô nhận ra điều này thì ông ta đã biến mất vào dưới mặt đất. Hơi bối rối, cô đọc bức thư ngắn ông đã trao cho cô.

 

Cô ta phóng như tên bay vào nhà trẻ, thở hổn hển. Lũ trẻ có vẻ không để ý nhiều về việc cô đến trễ. Cô mặc áo khoác cho chúng. Heintje kéo lê chiếc ba lô của nó dọc theo vỉa hè. Đến chỗ một con vịt đang bập bênh, nó đứng lại và cố gắng tự mình kéo qua nó. Hãy tiếp tục đi, con yêu của mẹ.” Cô nắm chặt tay Nora sang một bên, tay kia cô cầm tờ giấy ghi số máy của ông ta. Ông có tên là Justin . Một cái tên!  Mã khu vực có vẻ không quen thuộc. Có phải ông ta sống ở một trong vùng ngoại ô hẻo lánh ngoài kia? Ông ta không có điện thoại di động sao? Tại các cửa kính vào khối nhà chung cư cô vò nát tờ giấy và vứt vào thùng rác. Trong chốc lát cô như bị thôi thúc để trở lại, thọc tay vào và lôi số phôn của ông ta ra khỏi những bao giấy gói bánh qui và giấy bóng gói kem.

Thang máy lướt lên trên. Hơn nửa tiếng đòng hồ họ ngồi bên nhau trên chiếc băng dài. Đôi mắt ông ta. Cảm giác nhẹ nhỏm trước việc vứt bỏ lá thư nhắn đã không đến với cô. Lũ trẻ  khóc nhè. Heintje muốn bấm tất cả các nút thang máy; Nora đòi tháo bông tai.

Bên trong, Heintje chạy thẳng tới tủ lạnh. “Kem, kem.” Nó giật mạnh ngăn đá. Em gái nó bò theo sau nó. 

“Chúng ta sắp ăn cơm.” Cô thở dài và đưa mỗi đứa một cây kem.

Thật ngột ngạc trong căn hộ. Cô đẩy cánh cửa mở ra ban-công. Chậu hoa păng-xê cô trồng bên cửa sổ tuần rồi cần được tưới nước. 

Cô cho lũ trẻ ăn cơm tối, rồi chất các thứ vào máy rửa bát đĩa. Hugo đã trễ. Dạo này anh thường bàn về chuyện sinh đứa thứ ba. Khi bạn có hai đứa rồi thì điều đó cũng chẳng tạo ra nhiều khác biệt, anh nói.

Mãi đến khi họ ăn tráng miệng xong thì Hugo mới về đến nhà. Anh đã đi chơi một ván bóng quần với Carel sau giờ làm việc. Carel đã gặp một nhà tư vấn về khoản tiền hưu dưỡng của anh ta, Hugo bảo với cô khi anh rót ra một ly rượu. “Hắn nghĩ là chúng ta nên đầu tư vào ngành bất động sản. Bạn trả tất cả mọi chi phí ngoài tiền thu nhập do cho thuê nhà. Bạn cứ cân nhắc xem bạn đã thiết lập được bao nhiêu qua mười năm.

“Em nghĩ tốt hơn hết là chỉ bỏ một số nào đó vào tài khoản tiết kiệm,” cô nói.

“Nói tiếp. Lãi suất hai phần trăm, trợ cấp rất tốt cho ngân hàng. “

Lắc đầu, anh rót thêm một ly rượu nữa và chẳng nói gì thêm.

Cuối cùng, lúc tám giờ ba mươi lũ trẻ con đã đi ngủ. Hugo vẫn còn ngồi trước truyền hình. Anh trông có vẻ mệt mỏi, mắt anh đờ đẫn, màu da xám xịt. Gần đây anh chỉ phản ứng lại những gì cô nói. 

Cô ngồi xuống với máy laptop trên đùi và tìm trang web Ahoy. Hội Chợ  Miền Tây đang bắt đầu, với những màn khiêu vũ của những người Da Đỏ và những cuộc biểu diễn đua tài của những người chăn bò miền Tây.

Bỗng cô cảm thấy có bàn tay của Hugo đặt lên vai cô.

“Đang cần một chút phiêu lưu?” anh cười thầm.

Cô vội vã kích chuột để thoát trang web đó và mở tài khoản thư điện tử của trường Đại Học.

Khi anh ngồi lại trước TV, cô trở lại trang web Hội Chợ Miền Tây. Những tấm hình của những người đàn ông với mũ cao bồi và đàn ghi-ta, của những người phụ nữ tóc màu bạch kim da ửng đỏ đang khiêu vũ thành hàng dài lưng đối lưng nhau.

Một sân khấu gắn lá cờ Hoa Kỳ trên phông nền, lớn gấp sáu lần cờ Hà Lan. Có hai tấm hình của những người thổ dân Da Đỏ. Một của nhóm khiêu vũ, và một của một chiến binh với khăn trùm đầu được trang trí bằng lông chim. Anh ta không có vẻ hơi giống Justin đó sao? Khuôn mặt của họ được sơn bằng những sọc đen trắng. Cô nghi ngờ về tính chân thật của lớp màu nâu bên dưới.

Cô kích chuột vào Lễ khai mạc. Hội chợ bắt đầu vào lúc chín giờ ba mươi sáng hôm sau và kéo dài hai ngày. Cái hẹn đầu tiên của cô ở Phân khoa của trường mãi đến mười một giờ. Cô có thể có mặt ở Nhà ga Trung tâm lúc chín giờ, tại cửa ra phía trước, nơi tất cả hành khách ra ga. 

 

Thật mát mẻ trong phòng ngủ. Hugo đã đi ngủ, anh để máy điều hoà đang chạy. Cô không bật đèn, anh không thích mở đèn. Cô lướt nhẹ qua phía anh. “Lò nung nhỏ ! Em đây.” Mắt nhắm, anh kéo cô về phía anh và hôn cô. Cô quay mặt ra phía cô. Sáng mai cô có thể làm công việc nghiên cứu khoảng hai tiếng, thay vì gần đây cô không có làm nhiều nghiên cứu. So sánh với kết quả của những cuộc điều nghiên mà cô bảo sinh viên thực hiện sau đợt hè.

Cô không ngủ được. Mỗi lần cô nhắm mắt cô thấy Justin, đôi mắt anh ta, màu da của đôi cánh tay, những đầu ngón tay anh chạm vào xương đòn gánh ở cổ cô trước khi anh biến mất vào mê cung của trạm xe điện ngầm.

Hugo ngáy vang nhà, cô bước ra khỏi giường và lấy một viên thuốc ngủ thuộc phép vi lượng đồng căn trong buồng tắm. Loại này không hại sức khoẻ. Cô nằm xuống trở lại. Trước khi cô biết tác dụng của nó, cô thấy mình đang đứng trước một thảo nguyên mênh mông, mùa hè làm cho lớp da quanh mũi cô có nhiều tàn nhang, tóc cột kiểu đuôi ngựa. Trời nóng như thiêu như đốt. Bầu trời trong xanh. Một ai đó đang chạy về phía cô ra khỏi khoảng cách cằn khô, len qua những bụi cây đầy gai.

 

Khoảng mười lăm phút đến giờ cô đã đang đứng trước máy bán vé. Cô nhặt một tờ báo. Kết hợp đám đông với mắt của cô, cô giả vờ đọc báo. Đồng hồ nhà ga chỉ chín giờ mười – vẫn còn ít hơn hai mươi bốn tiếng kể từ khi cô gặp ông ta trên chiếc băng dài bên bờ kênh đào. Phải chăng nó là chứng ảo giác. Cô sẽ đứng chờ bao lâu nữa? Trời bắt đầu nóng. Đôi săng-đan màu trắng bạc của cô làm đau chân, Cô thả lỏng quai dép ra một chút và lắc bàn chân cho bớt mỏi.Cô tự hỏi sẽ nấu món gì cho tối nay, có lẽ mì sợi Ý và mì ống với đậu và thịt băm. 

Đằng sau hai người trong bộ côm- lê, anh ta xuất hiện từ đường hầm dành cho người đi bộ. Justin. Mái tóc dài của anh được buộc kiểu tóc đuôi ngựa. Anh đi thẳng về phía cô. Anh không vội lắm.

“Đây cô đây rồi.” Anh chạm vào cổ tay cô.

“Tôi thấy ông đang làm việc tại Hội chợ,” cô nói lắp bắp.

“Vâng,” anh nói. Tôi có một gian hàng bán đồ công mỹ nghệ ở đó. Chúng tôi thiết lập nó đêm rồi.

Có lẽ anh có thể nói là cô rất lo lắng. Anh tiếp tục nói một cách bình thản, cho phép cô ổn định tư tưởng, quen với giọng nói của anh, với sự kiện anh có mặt ở đó. “Tôi bán thảm thêu và lọ thuỷ tinh, nhưng không nhiều lắm. Việc vận chuyển đòi hỏi phải tinh tế. Đồ kim hoàn thì tốt hơn, nhưng không cồng kềnh, không nặng, luôn luôn tốt. Phụ nữ Hà Lan rát mê đá quý màu xanh lam. Anh giơ cánh tay lên một chút để chỉ cho cô thấy chiếc băng cổ tay bằng da thục của anh với viên đá màu xanh biển đính trên lớp bạc.

“Có phải chúng đến từ Mỹ không?”

“Đài Loan đã làm cô trìu mến đến mức nào?” Anh cười.

“Có phải ông cũng ở trong nhóm khiêu vũ trình diễn chiều nay không?”

“Tôi rất thất vọng với việc khiêu vũ,” ông phóng nhanh hơn một chút khiến những hành khách khác vội ngước lên nhìn. Trong một lúc cô không tin là anh không thể nhảy. 

“Đi nào. Cô chiêu đãi của tôi.” Anh chìa tay ra. Cô nắm lấy nó. Chuyện này không thể xảy ra, cô nghĩ, đang giữ chặt tay anh. 

Giữa những người ngoại ô đi làm việc trong thành phố đang hối hả, họ đi về phía trung tâm thành phố. Dưới chân một trong những toà nhà cao nhất thành phố anh hỏi tên cô.

“Maidie,” cô nói.

“Vậy là cô sẽ chẳng bao giờ già (vì tên cô có nghĩa là thục nữ). ông nói.

Họ đi bộ dọc theo kênh đào, qua khỏi tượng Rodin, gần nơi họ gặp lần đầu trước đó, người đàn ông với đôi chân đang bước là chủ yếu. Anh đứng lại, “đẹp lắm.” Bàn tay anh lướt qua chỗ mắt cá chân bằng đồng. Trạm xe điện ngầm hiện ra trước mắt. “Tôi thực sự muốn chào tạm biệt anh. Tôi phải đến trường đại học.”

“Lúc nào rỗi việc nhớ gọi cho tôi.?”

“Tôi mất số máy ông rồi,” Trong sọt rác, chính xác là trong thùng rác. Tờ ghi chép của ông có lẽ đã bị cuốn vào xe hốt rác rồi. Cô đỏ mặt. 

Anh hỏi cô liệu sớm có thời gian không. Sau đó.

 

Hugo đã đón lũ trẻ từ nhà trẻ về vào hôm nay. Chỉ đối với lần này cô có thể trở về nhà trễ một chút, khoảng hai tiếng đồng hồ. Thường thì anh hay gọi điện về nhà nói rằng anh sẽ không về ăn tối. Và vẫn còn có những ngón tay cá trong ngăn đong lạnh. Buổi họp đột xuất, cô thường nói. Không, cô sắp đi xem hát vói một đồng nghiệp, một cách bất ngờ. Họ sẽ ăn một chút gì đó trong thành phố trước đã. Thật không đáng phải về nhà liền. “Em có thể hẹn gặp lúc năm giờ,” cô nói.

 

Phần còn lại của ngày là cả một thảm hoạ. Cô quên cái hẹn với một sinh viên, bị xoá mất một phần của bản thảo, và máy phô-tô- cóp-pi bị kẹt giấy trầm trọng đến nỗi họ phải gọi đến nhà sản xuất. Lúc ba giờ, bài giảng “Sự cai trị trong khu vực công cộng”, một giáo trình mà cô giảng lần đầu. “Thế giới trong đó những nhà làm chính sách nổ lực để thực hiện những thay đổi thì thường phức tạp hơn họ mong đợi.” Cô đặt một tờ giấy khác lên đèn chiếu. Có một sự yên lặng hoàn toàn. “Xin lỗi, nhưng hoặc là cô bị nhầm chỗ hay là chúng em,” một sinh viên hô to. Cả giảng đường cười lớn. Trên màn hình lớn phía sau cô xuất hiện, “ Phương Pháp và Kỹ thuật của sự Nghiên cứu Định tính”. Đỏ mặt, cô lục tìm tờ đúng. 

Lúc bốn giờ rưỡi, cô tóm thâu các thứ và vội vã ra trạm xe điện ngầm. Bên dưới mặt đất, cô sử dụng cửa sổ như gương soi mặt. Cô thả bung tóc ra, cột nó thành búi tóc đuôi ngựa, rồi cô thả nó ra lại. 

Đúng chấm số năm trên đồng hồ cô đến chỗ họ chia tay hồi sáng. Cô mang kính râm và rảo mắt xung quanh một cách bồn chồn. Phố xá đông người; cả thành phố đang trôi giạt. Miễn là không một ai cô quen biết đi ngang qua. Đồng nghiệp của Justin, cô muốn nói. Có vẻ không được tốt lắm. Cô không biết bất cứ ai trong đội ngũ giảng viên của trường đại học  mặc quần dài bằng da thục có ren tua. Một người bạn từ Mỹ, có vẻ tốt hơn. 

Cô chọn một chỗ ở góc phố, nơi có tiệm photocopy mở cửa hai mươi bốn trên hai mươi bốn. Rồi cô bước tới đứng trên lề đường cao hơn đường phố một chút. Mắt cô rảo quanh chiếc đồng hồ bên trên quầy hàng. 

Lúc năm giờ ba mươi anh ta vẫn chưa đến.

Cô sắp bỏ đi thì anh chạy đến chỗ cô. “Xin lỗi, tôi đang đóng gói các thứ lại thì một nhóm đông các phụ nữ bỗng xuất hiện trước quầy hàng của tôi. Cả buổi chiều chả thấy một bóng ma nào, nhưng sắp cuối ngày tôi bán một số hàng trị giá khoảng ba trăm euro. Kiềng đeo cổ, bông tai, găng tay.”Công việc trước, vui chơi sau.” Cô nói. Nghe có vẻ xuẩn ngốc biết bao. Cô cố nháy mắt khi cô nói điều đó, chắc chắn giống như một chứng co giật thần kinh.

Họ đến chỗ người Surinamese, nơi cô thường được mời đến mỗi khi ra ngoài vào ban đêm.

Một căn tầng hầm chung tường, bên trong rất nóng và ẩm. Âm vang Fiery Caibbean vang đến từ loa phóng thanh. Anh dùng hai cuốn chả thịt lợn quay và một bát soto. Anh ăn vội vã với sự tập trung cao. Cô thử món cơm và đậu và không thể nuốt trôi một miệng đầy. Ở mọi ý nghĩa, anh không giống như những người đàn ông mà cô biết. Một cái nhìn điềm tĩnh. Làn da mặt, đôi cánh tay có vẻ như chiếu sáng. 

Sáu giờ mười phút. Giờ này Hugo đang đưa mấy bé ra xe. Cô vừa gửi một tin nhắn trên hộp thư thoại của anh, nói là một đồng nghiệp có dư một vé xem hát. Một vở kịch rất dài. “Còn một ít cá ngón tay trong ngăn lạnh. Em xin lỗi, nhưng điện thoại em hết pin”. Rồi cô tắt điện thoại di động của cô.

Những đĩa thức ăn, những tô bự bịt bằng giấy bạc được đẩy xuyên qua một cái lỗ trong tường. Đằng sau cánh cửa sập, những người nhập cư bất hợp pháp làm việc ở đây. Hugo có lần đã bảo với cô. Lần vừa rồi họ đi ăn bên ngoài anh đã nói thêm rằng tất cả các quán rượu ở trung tâm thành phố đều bị khủng bố bởi Mafia Thổ Nhĩ Kỳ. Anh thích kể cho cô nghe những thứ như thế ngay trước lúc bắt đầu vào đêm. Cô thường không thể gạt chúng ra khỏi đầu óc cô và thường gọi ngẫu nhiên một thứ rượu đặc biệt nào đó hay một món gì khác.

“Ngon tuyệt.” Justin lau miệng. Cô đâm thêm một ít đậu. Một ít đã dùng hết kế bên đĩa của cô.

Ông ta nhìn cô, rồi nói: “Chúng ta hãy ra ngoài?”

Họ đi bộ trong sự yên lặng về phía dòng sông. Một cơn gió nhẹ thổi lên khi họ đứng bên bờ nước . Một xà lang chở hàng chạy ngang qua. Cái lồng trên nóc của khoang chứa hàng có một nhà chơi, với một ván trượt bên trong. Họ đi bộ dọc theo bờ kè. Justin hát một bài hát với những ca từ cô không biết.

Cô thường đến đây với những cậu con trai từ lớp của cô. Những người yêu đầu tiên sau giờ học ở trường. Ông ngoại của cô cũng thường đứng ở đây nữa. Anh của ông rời đi Hoa Kỳ từ toà nhà ở phía bờ sông xa. Một thời gian rất lâu sau đó, ông ấy trở về và đến chỗ này để coi người ta xây cầu. Ít ngày trước khi thông cầu thì ông chết. Một tháng sau, trong một cơn bão cấp sáu, toàn bộ công trình bắt đầu đu đưa. Hệ thống dây cáp không đủ sức chống cự. 

 

Trên boong một chiếc du thuyền một cặp vợ chồng đứng tuổi đang đứng. Người đàn bà vẫy khăn tay, Justin vẫy lại. Mặt trời đêm toả ánh sáng trên toà cao ốc chung cư và những kho hàng phía bên kia sông. Những toà nhà in rõ hình lên bầu trời màu hồng.  

Bỗng cô cảm thấy tay anh lướt nhẹ qua cổ tay cô, qua khỏi khuỷu tay cô. Hơi thở cô dồn dập. Cô xoay người lại để đối mặt với anh. Cô hôn anh, ôm chặt lấy áo da của anh.

Sự vụng về của cô. 

Tay anh ta ôm sau lưng cô.

Một chiếc xe bóp còi. Họ đang đứng trên mép của một chỗ đậu xe.

“Đi nào.” Justin kéo cô theo sau anh trên lối đi trải đá cuội. Mặt trời đã khuất, những toà nhà bên bờ đối diện đã mờ dần. Anh dìu cô ta theo với anh, vào một đại lộ. Như thể cô không còn có thể tự mình bước đi được. Một dãy nhà di tích lịch sử đang được khôi phục lại.

Tấm vải mịn màu xanh lá cây đang phấp phới bay từ một giàn giáo trống vắng. Một cây đậu tía nhô ra được áp sát vào một bức tường phía trước bằng dây thép gai rỉ sét.  Mùi thơm dịu như thể thoát ra từ một cái chai.

Đến một ngã ba đường, họ dừng lại. Anh chỉ tay về phía một khách sạn bên kia đường. Cô gật đầu. 

Tại tiền sảnh một bể nuôi cá được xây vào trong một bức tường bằng sơn mài. Những con cá kiểng, xanh, vàng, cá vàng đuôi rộng đang làm xoáy nước. Bầy cá tiến về phía họ, và rồi bơi đi.

Họ lấy một phòng. Phòng số 304. “Cảnh quang rất đẹp,” nhân viên lễ tân nói. Cô trả tiền. Khi họ đang bước lên phòng thì cô nhận ra rằng thẻ tín dụng mà cô vừa sử dụng là từ tài khoản chung của cô. “Xin lỗi,”  Cô chạy xuống lại. Tôi có thể huỷ khoản tiền thanh toán vừa rồi không?” Nhân viên lễ tân lắc đầu. Cô quay lại và từ từ lên lầu.

Anh đang ngồi thẳng người, trần truồng giữa những tấm ra trắng, hai chân dang ra. Đôi chân mà cô cảm thấy đã vòng quanh cô. Cô tựa vào tường. Những lọn tóc đen tuột giữa các ngón tay cô. Cô túm mái tóc anh lại thành một bím tóc dày, rồi tháo nó ra trở lại. Từ hành lang bên ngoài, họ nghe giọng nói của những khách của khách sạn. Cửa mở ra ban-công để hở ra một vết nứt. Trời đang tối,  nhưng chim chóc vẫn còn đang hót trên những cây dương dọc theo đường phố.

“Anh sống ở đâu?” Cô hỏi.

“Ở Emmen,” anh nói.

Cô cười lớn. “Một người Da Đỏ từ Emmen.”  Cô luồn các đầu ngón tay cô dọc theo xương sống anh từ dưới lên.

Các cơ bắp của vai anh chắc nịch. “Cứ câm mồm về những người Da Đỏ.

“Xin lỗi.” Cô rút tay lại.

“Maidie, cô gái nhỏ … Cô không nên nói điều đầu tiên ăn sâu vào đầu cô.”  anh cười. Có chút gì chán nản trong nó.

“Bố tôi là một người Mỹ. Vào năm 1954 ông đến đây với lực lượng không quân. Ông đồn trú   ở Soesterberg và ông mang chúng tôi theo với ông, cả gia đình ông. Hồi nhỏ tôi thường chơi trên vùng đất hoang mọc đầy thạch nam ở đó. Tôi biết tất cả các lối đi và các hang thỏ.” 

Cô đặt hai tay lên cột xương sống anh và ấn nhẹ.

Anh nói nhanh. “Bố tôi sinh ra ở Navajo, nhưng ông không lớn lên ở đó. Chương trình của chính phủ trả tiền cho ông vào học ở một trường nội trú, nơi có mục tiêu đào tạo người Navajo trở thành những công dân tốt. Năm lên mười bảy tuổi ông gia nhập bộ đội.

Anh nhìn sang một bên, nơi quần áo anh đang mắc trên một chiếc ghế.

“Bố tôi muốn bay, để nhìn ra khắp thế giới cho biết người ta đã hình thành nó như thế nào.”

Bầu trời đêm đang trở nên xám xịt với nhũng vệt màu hồng và trăng lưỡi liềm vàng vọt. Anh quay sang và kéo vai cô. Anh lật cô nằm ngửa lên và nhanh chóng nằm lên người cô. Sự xúc chạm không còn có tính cách thăm dò nữa. Anh ấn mạnh chính anh vào bên trong cô ta, anh giao cấu với cô một hồi lâu, năm phút, mười phút. Cô ngất ngây, cảm thấy ra nệm trên giường chuyển động, cô nắm chặt thành giường . Anh tiếp tục như thế cho đến khi cô không thể nghĩ đến bất cứ thứ gì nữa, chỉ còn biết ôm chặt hai cánh tay phía trên của anh. Đó là tất cả.

Sau đó anh nằm bất động bên cô, giống như con thú bị kiệt sức. Bên ngoài trời đã tối đen như mực. Cô đẩy anh ra và phủ chăn quanh người cô, che kín lớp da lòng thòng ở bụng mà trẻ con đã để lại.

Anh đứng dậy, mở cánh cửa bước ra ban-công để không khí mát mẻ ban đêm có thể tràn vào bên trong. Thân hình săn chắt và ấm áp của anh. Cô muốn kéo anh trở lại giường để cảm thấy anh ta phản đối cô, nhưng cô đã không làm như vậy. Với người lạ, bạn không có quyền đối với sự thân mật.

Anh đi vào phòng tắm.

Cô lục trong túi xách tìm điện thoai của cô và mở ra lại. Không có tin nhắn, ngay cả tin nhắn từ Hugo. Có phải anh ta đã tin lời xin lỗi của cô? Hugo không dễ dàng lo lắng. Thái độ của anh là rằng bạn không nên kiểm tra lẫn nhau. Nhận thấy đã gần mười hai giờ, cô nhặt quần áo từ tấm thảm kế bên giường. Cô cài nút áo khoác, có thể ngửi thấy mùi mồ hôi của chính mình, mùi thơm của sự khêu gợi.

“Em đi sao.” Anh đứng tựa vào khung cửa. 

“Justin,” cô nói. “Em xin lỗi … Vâng, em phải đi. Còn anh?”

“Đừng lo cho anh.”

“Hãy ở lại. Em đã thanh toán tiền cả đêm rồi. Ngày mai là ngày cuối cùng của anh ở đây rồi.”

Trên trang web cô đọc thấy Hội chợ Miền Tây sẽ dời đến Ermelo vào tuần tới. Như một sự thu hút phụ thêm, một cuộc đua tài sẽ được thêm vào chương trình ở đó.

Không nói năng gì, anh mặc quần áo và mở cửa cho cô.

Khi cô đi sau anh xuống cầu thang, cô hình dung lũ trẻ đang nằm trên chiếc giường nhỏ của chúng, Nora nằm ngửa, duỗi thẳng chân, chăn mền bị hất tung; Heintje thì cùng với Mag và Rag. 

Ở vỉa hè bên ngoài họ đứng đối mặt nhau. “Em trông hoàn hảo quá,” anh nói, khi cô đẩy mái tóc rối tung của cô ra phía sau mép tai. Lần đầu tiên, ngày hôm kia, cái cách anh vuốt thẳng cổ áo cô, mảnh giấy nhỏ xé từ tờ báo ghi số máy anh, mẫu thư ngắn giờ đã nằm dưới lớp tro, những hạt bồ hóng trong bầu trời bên trên thành phố. Ngày mai cô còn phải coi thi ba môn. Thi vấn đáp.

Những nụ hôn thoáng qua. Hai. Anh quay mặt và bước đi theo hướng của dòng sông. Chắc chắn anh sẽ không ngủ trên chiếc băng dài ở bờ kè? Anh không nhìn lại, băng qua đường, như một bóng ma giữa hàng cây cao.

Cô đang đứng ngay bên dưới những ngọn đèn chiếu sáng vỉa hè trước khách sạn. Cô do dự, không thể nghĩ một cách rõ ràng. Bước thêm ít bước ra khỏi vùng sáng. Cô phải di chuyển.

 

Mưa trút nước xuống các cửa sổ. Phía bên phải cô, chiếc giường để trống. Suỵt !  lũ trẻ, chúng cần cháo lúa mạch, mặc quần áo cho chúng, đưa chúng đi nhà trẻ. Gần bảy giờ rưỡi, đồng hồ báo thức reo. Hugo để cô ta ngủ.

Cô bật dậy, nhảy ra khỏi giường, đi xuống nhà bếp. Anh đang ngồi tại bàn trong nhà bếp trong chiếc áo choàng tắm, đang đọc báo. Lũ trẻ đang chơi dưới chân anh. Chúng còn mặc đồ ngủ. Có vẻ như chúng chưa ăn uống gì cả.

“Mummy!” Nora gọi mẹ một cách sốt sắng. Nó dụi đầu gối một lúc rồi bò dưới ghế của nó. Heintje vội ngước nhìn lên, có vẻ như nhìn thấu vào tim đen cô, rồi tiếp tục chơi. Nó bắt con voi bằng nhựa của nó nhảy lên bàn đạp của thùng đựng rác để nắp thùng kêu lạch cạch.

Hugo ngước nhìn lên từ tờ báo. “Chào cục xương lười.”

Cô bước lại bàn trong nhà bếp, ngồi vào bàn, đang cần tìm năng lượng từ một chỗ nào đó để mở các tủ trong nhà bếp, hâm nóng sữa, khiến toàn bộ chương trình diễn ra.

“Buổi trình diễn thế nào?”

“Khá hay.”

“Thời tiết bẩn quá, hả?” Hugo gật đầu, nhìn ra cửa sổ. Bầu trời là một dải bao la cùng một màu xám. Cơn mưa đổ xuống mặt kính cửa sổ như thể không bao giờ ngớt. “ Một sự tương phản hoàn toàn với đêm rồi. Chúng tôi có hoàng hôn đầy lãng mạn ở đây, thực sự ngoạn mục.” Hugo nhất máy ảnh lên khỏi bàn và quay nó trong không trung. “Anh đã chụp được một vài tấm ảnh không thể nào tin nổi.”

“Em biết, em đã xem nó rồi.” Cô nói trước khi anh kịp đẩy chiếc máy ảnh đến dưới mũi cô.

“Em đã ở trong nhà hát, có phải không?

Đó là một hiệu suất cụ thể của trang web.” Cô nhặt tờ báo và chăm chú nghiên cứu kỹ một sự cung ứng đặc biệt cho những người đăng ký mới.

Hugo không còn lắng nghe. Anh đang nhìn vào những tấm ảnh của lúc hoàng hôn anh chụp được từ ban-công. Bầu trời hào nhoáng màu đỏ hồng.

“Thiên nhiên đó có những màu như thế trong nó,” anh nói.

“Đôi lúc em cũng thấy chúng trên các bưu thiếp từ những khu nghỉ dưỡng ở bờ biển.” cô nói.

Anh nhướng mày lên. “Này, có chuyện khác,” anh nói.

“Rob Beers vừa mời anh tham gia một dự án ở Croatia. Chúng tôi sẽ huấn luyện các sĩ quan trong nhà tù, để chỉ họ phải làm những gì ở đây, làm thế nào để xử lý những bạn chung trong tù. Đó là một tu viện cũ. Khi bạn đến đó, bạn tự hỏi mình đã đáp xuống từ đâu trên trái đất này. Rob nói, nhưng đó là một nơi thực sự tốt đẹp, với tất cả mọi tiện nghi hiện đại, ngay cả là một trung tâm chăm sóc sức khoẻ. Nó bắt đầu vào ngày 28 tháng 6 và kéo dài trong hai tuần lễ.”

Anh trao cho cô một cái nhìn gạn hỏi.

“Với em anh nên làm việc đó,” cô nói.

“Tuyệt, tuyệt lắm!” Anh lấp bấp trong sự ngạc nhiên. “Anh phải xem ngay ngày hôm nay liệu có thể nộp đơn không. Có lẽ anh đã đang mong đợi những sự phàn nàn, một nhận xét đầy chỉ trích, sau đó dẫu sao anh cũng sẽ đi. “Có lẽ mẹ em có thể đến,”

“Vâng, có lẽ.” Cô đứng dậy và đi tắm.

Khi cô đi ngang qua anh tóm lấy vai cô và hôn cô nơi miệng. “Viên mật ngọt của tôi,” anh nói.

Cô tiếp tục đi vào phòng tắm. Cô mở vòi gương sen, tốt và nóng. Cô duỗi thẳng hai chân, kỳ cọ dưới nách, nước chảy xuống hai bên hông, trên bụng, giữa hai chân. Những dấu tay của Justin – chúng ở khắp nơi trên người cô. Từ phía xa bên ngoài cô có thể nghe Hugo đang giục lũ trẻ nhanh lên. Cô nhắm mắt. Mười lăm năm nữa và cô sẽ đi du lịch, một thời gian dài, một mình.

“Ba lô của chúng đâu?” Giọng của Hugo vang lên inh ỏi xuyên qua phòng tắm. Anh ta là người đã đón các con về chiều hôm qua.

“Trong phòng khách, ở đâu đó gần ghế sô pha, em nghĩ.”

Tường của phòng tắm được khảm bằng đá ốp lát miếng nhỏ xíu, tất cả giống nhau, lớn bằng ngón tay út, lần lượt dán vào tường. Tại sao cô thấy chúng đẹp cách đây hai năm?

“Anh không thể tìm thấy chúng.” Giọng nói của Hugo giờ đã xa rồi.

“Em ra ngay.” Cô tắt vòi nước, và vói lấy khăn tắm. Trời đã tạnh mưa. Những tia nắng phản chiếu lên mặt kính của cao ốc chung cư đối diện.

Heintje cười lớn, rồi đến tiếng thét lên đầy hân hoan từ Nora. Chúng đang làm một cái gì đó nửa chừng, có lẽ một cái gì đó làm hư hại các bức tường hay quần áo của chúng.

“Họ sẽ bị trễ mất, tất cả sẽ bị trễ”. 

Bỗng Hugo lò đầu vào góc của phòng tắm. “Tìm thấy rồi! Em thư giãn đi . Anh đưa lũ trẻ một mình.”

“Vâng, cô gật đầu trong sự ngạc nhiên. Một lát sau đó cô đứng vẫy tay cả ba người họ gần cửa thang máy. Cô trở vô nhà, ngồi trên ghế sô pha trong bộ đồ tắm. Hai chân gác lên bàn.  Trên bàn uống cà phê là cái gạt tàn mà họ đã mua về năm năm trước từ Andalucia trước khi họ có conNó được sơn màu ô liu. Nó thích hợp một cách hoàn hảo trong bàn tay cô.

 

                                                        

                                            Phan Thiện Trì chuyển ngữ

                                                        August, 2021

 

                                     

                                                                  

 

 

 

MUA RAO  - Hwang sun Won (uo) https://gtvh51.blogspot.com/2024/10/rao-sun-won-han-quoc-ngay-khi-cau-be.html