Thứ Tư, 31 tháng 3, 2021

 Ỏ   D Ạ I

                       Xuân Quỳnh

Cỏ dại quen nắng mưa
Làm sao mà giết được
Tới mùa nước dâng
Cỏ thường ngập trước
Sau ngày nước rút
Cỏ mọc đầu tiên”

Câu thơ nào trong ý nghĩ vụt lên
Khi tôi bước giữa một rừng cỏ dại
Không nhà cửa. không bóng cây. Tim lối
Cứ cường hào rẽ cỏ mà đi.

Người dân quân tì súng lắng nghe
Bài hát nói về khu vườn đầy trái
Anh bỗng nghĩ đến một vùng cỏ dại
Nỗi nhớ đầu anh nhớ quê anh

Mảnh đạn bom và chất lân tinh
Đã phá sạch không còn chi nữa
Chỉ có sắt chỉ còn có lửa
Và cuối cùng còn có đất mà thôi

Thù trong lòng và cây súng trên vai
Cùng đồng đội anh trở về làng cũ
Anh nhận thấy trước tiên là cỏ
Sự sống đầu anh gặp ở quê hương

Có một lần anh tìm đến bà con
Khi xúm xít quanh anh thăm hỏi
Giữa câu chuyện có điều này đau nhói:
- Đất quê mình cỏ đã mọc lên chưa?

Trong cuộc đời bình yên tựa nghìn xưa
Gần gũi nhất vẫn là cây lúa
Trưa nắng khát ước về vườn quả
Lúc xa nhà nhớ một dáng mây
Một dòng sông, ngọn núi, rừng cây
Một làn khói, một mùi hương trong gió...

Có mấy ai nhớ về ngọn cỏ
Mọc vô tình trên lối ta đi
Dẫu nhỏ nhoi không đáng nhớ làm chi
Không nghĩ đến nhưng mà vẫn có.

 

W I L D   G R A S S

Xuan Quynh

“Wild grass child of sun and rain

How to be rid of you, indestructible !

In the season of flood waters

We think the grass is drowned,

But when the days come for waters to retreat

Grass, wild grass is the first to spring again.”

 

What lyric rhythms fill my thoughts

When my way lies through prairie lands

No habitation there, no shade of trees, to find the way

Make your own path, go forward.

The partisan leaning on his gun listens,

It is a song about a garden full of fruit

But suddenly he’s dreaming of the prairie of wild grass

And sick for home his thoughts turn to his village

There, there is shattering and blaze of bombs

By phosphorus and fire laid waste and all destroyed.

Nothing is left but fire and twisted iron

And earth …but that is all

A savage anger at his heart, gun on his shoulder

He goes back with his comrades, back to his old village

And what he sees there first is grass, 

Alone, life is  one trace in his erstwhile home

 

He is gone to search for people of his village

They come round him circling full of questions

And when all is said, there’s one thing poignant and clear:

From the earth … our earth is the grass there growing yet ?

 

Life in its simplest many a thousand year

Its close companion always was the rice

In the blaze of midsummer noons, one dreams of green orchards cool

Faraway from home, some dream of mountain clouds,

Of a river, a hill, a forest, some see a plume of smoke

Or scent home in the wind.

There are few whose dreams are of a blade of grass

Growing by chance beside some well known path

So much too insignificant, unrecognized, forgotten

It features in no dreams … but it survives.

                                                                 Translated by Tri Phan

 

 

 

 

 

 

Thứ Bảy, 27 tháng 3, 2021

 Thạch Lam, “Hàng nước cô Dần”




Cô Dần là một thiếu nữ hãy còn trẻ, cứ nghe tên cô thì đủ biết (cái lối đặt tên của cổ nhân ta nghĩ cũng thẳng thắn và thực thà: mang cái tuổi trong tên mình, không cần giấu giếm). Tuy vậy cô là một thiếu nữ đảm đang lắm. Một mình cô trông nom cái cửa hàng nước ở trước chợ Đồng Xuân, bên cạnh bà cụ bán hàng xôi, và cũng như bà, cô bán hàng từ chín mười giờ tối, suốt đêm cho tới sáng...

Cửa hàng của cô cũng không có gì: một vài miếng trầu, một vài phong thuốc lào, một bao thuốc lá bán lẻ, vài cái bát uống nước (...) đặt úp xuống mặt chõng. Nhưng hàng cô Dần có một chút đặt biệt hơn: cô không bán nước vối hay nước chè tươi. Cô bán nước chè (...) một thứ chè cũng dễ uống (...) bao giờ cũng nóng sôi dù trời rét hay trời nóng, mùa đông hay mùa hạ. Ấm chè bọc một cái áo gài rất cẩn thận, để bên một hỏa lò than lúc nào cũng hồng, trên đặt một ấm nước lúc nào cũng đang reo sôi.

(...) hàng cô Dần đông khách lắm, có khi cô trở tay không kịp. Kẻ đứng, người ngồi xúm vòng quanh - nhưng ngồi xổm mà thôi, vì hàng nước ấy lại còn có cái đặc biệt khác nữa là không có ghế ngồi. Những bác phu xe đặt nón, lần túi lấy thuốc lào, vài thầy đội xếp uống chè từng ngụm nhỏ trên xe đạp gác ở hè, với vài khách hàng áo ngắn, còn trẻ tuổi, hay điểm thêm vào vị nước một vài câu bông đùa nhè nhẹ đối với cô hàng. Thỉnh thỏang, một bác phu già, rụt rè thầm khẽ bên tai cô hàng nước, hoặc trả tạm một vài xu ở món nợ còn lại, hoặc nằn nì xin chịu nữa. Cô hàng nhíu đôi lông mày nhỏ lại một chút, nhưng cô dễ tính, rồi cũng bằng lòng.

*

Một hàng nước đắt hàng vì các thức quà bán đã đành, nhưng đôi khi cũng đắt khách vì cả cô hàng. Cô hàng nước (...) dù ở dưới bóng đa, bên ruộng lúa, hay ở dưới mái hiên trong thành phố, ở đâu cũng vậy, miệng tươi của cô là dây liên lạc khắp cả mọi người (...) 

Ồ, nhưng mà chúng ta hãy trở lại cô hàng nước của ba mươi sáu phố phường. Cô nhũn nhặn lắm: mặc giản dị một cái áo tứ thân nâu cũ (...) Trong mấy ngày Tết, người ta mới thấy cô khoác cái áo mới hơn một chút, vấn vành khăn tròn trặn và chặt chẽ hơn. Và dưới mái tóc đen, lúc đó mới lấp lánh mặt đá của đôi hoa vàng, bà cụ đánh cho cô năm vàng còn rẻ, làm cái vốn riêng, chắc thế.

Cô không đẹp, chỉ xinh thôi, và tính (...) còn trẻ con lắm. Thấy khách hàng nói một câu bông đùa, cô đã tưởng người ta chòng ghẹo, nên nhíu đôi lông mày lại, ngoe nguẩy cái mình. Khách trông thấy chỉ cười. Nhưng cô cũng không giận ai lâu: chỉ một lát cô lại vui ngay.

Một hai năm nữa, lớn lên đi lấy chồng, ai là người thay cô trông nom ngôi hàng nước của “Hà Nội là động tiên sa”? 

- Cô bé em cô, hẳn vậy, sẽ ngồi bán hàng thay chị, lại que diêm, điếu thuốc, miếng trầu - để kéo dài mãi mãi cái phong vị bình dân và mộc mạc của các cô hàng nước cùng với các cô hàng xén kĩu kịt đi chợ Đông, chợ Đoài, là cái tinh hoa thuần túy của người Việt Nam từ xửa xưa đến giờ.


(Trong 
Hà Nội băm sáu phố phường)


T H E   L I T T L E   T E A   S E L L E R     /   H À N G   N Ư Ớ C   C Ô   D Ầ N


Dan is very young -  her name of course gives away her age ( this tradition honoured by our ancestors of naming children according to the year in which they were born dates them irrevocably, everyone bearing their name and age in one syllable, quite simply.). So we know without doubt that she is quite young and also very diligent, like all sellers, she  manages her little business  quite alone in front of  Dong Xuan market market. Two paces away from her tiny stall, one of her aunts sells sticky rice cakes, and side by side they ply their trade from dusk to dawn, starting from nine or ten in the evening. Her stock in trade is not very big. A handful of betel-chews, Some packets of tobacco for water pipes, some cigarettes, little. bowls for the tea arranged carefully on the minute bamboo counter, just like every other little refreshment stall in Vietnam.

Dan’s little shop is different only in one respect. She does not go in for making the tea called “Voi”, a brew of leaves of wild plants picked in the forests and which tastes very bitter, nor for green tea, though both these are very popular. She sells only tea, real tea. I don’t know whether it is dried tea in leaves or in tips, all I know is that it is a very good drink and to make it even better, there is sugar to go with it, as you would expect in a city of such refined culture.

Moreover her teapot is always really hot, winter and summer alike, kept imbedded in a pot nest, padded with hemp, placed beside a charcoal brazier where a pot of water is always on the boil. For those who like their tea sugared it is one sou the cup. First she puts a couple of spoonfuls of sugar in the cup (it costs a little more, but she is not stingy with the sugar), then she tilts the teapot to fill the cup to the brim,, accompanying this gesture with a lively glance, like a young animal, from her bright black eyes.

After a good meal or a drink or two with a friend who could refuse the pleasure of a good hot cup of sweet tea ?

So there is no need to ask how the place come to be so popular. To such an extent sometimes that the little proprietress does not quite know whom to serve first. Some stand, some squat on their heels, all drink just as they are, for I forgot to mention the fact that the shop is not possessed of any little stools. Pedicab drivers lay their conical hats on the ground, searching their pockets for a roll of tobacco. A policeman or two propped astride their bicycles parked against the curb drink in appreciative sips. Some young clients in tight jackets accompany their tea-drinking with a little light banter for the benefit of the pretty tea-seller.

Sometimes a pedicab driver rather timidly will whisper a few words in her ear, leaving her with a dud coin or a request for credit. A slight frown is perceptible between her slender eyebrows, but as she has a kind heart she accepts with good grace.

In these little tea shops one gets a cup of tea of course, but sometimes also the additional pleasure of a moment’s conversation with a pretty tea-seller.

In Vietnam, such teasellers are very typical. They are sometimes to be found among the roots of the banyan trees, sometimes on the raised paths between ricefields or under little awnings in the busy streets. Wherever it may be their smiles are like a ribbon linking the lives of their customers.

The little woman teaseller from long times past has held an important place in the tradition and literature of Vietnam. Many are the romances that begin or finish beside the little counter of the way-side tea shop.

But to return to our little tea seller of the thirty-six streets of Ha Noi. She is a girl of simple modesty, wearing a plain brown tunic sewn in four panels. She is unassuming and hard working like all the girls of Vietnam. Only at the Tet Festival will you see her in a rather less patched tunic and then she will do her hair up in a special little turban, and upon that great day you can see glittering through the locks of her hair a pair of gold earings. Probably her entire dowry is there, collected by her mother at a time when gold still be found. 

No, she is not beautiful, she is charming. Her character, consistent with her age, is still that of a child. When a customer flirts with her, she soon begins to suspect him of  making advances. She turns away, frowning slightly. The client, who only wants to laugh, watches her frown soon give way to smiles.

An instant later she is all gaiety. 

In some years she will marry. Then who will take her place at the little tea-counter in the fair city of Hanoi ? Why, without doubt it will be her young sister.

She will be there in her place, selling matches, cigarettes, betel and tea, to continue indefinitely the succession of simple, popular pleasures that give the streets of Hanoi their magic .

The tea sellers and the little street merchants of  haberdashery have long been the purest native flowers of Vietnam.             (From Hanoi of the Thirty-Six Streets and Guilders)



1




Cô Dần là một thiếu nữ hãy còn trẻ, cứ nghe tên cô thì đủ biết (cái lối đặt tên của cổ nhân ta nghĩ cũng thẳng thắn và thực thà: mang cái tuổi trong tên mình, không cần giấu giếm). Tuy vậy cô là một thiếu nữ đảm đang lắm. Một mình cô trông nom cái cửa hàng nước ở trước chợ Đồng Xuân, bên cạnh bà cụ bán hàng xôi, và cũng như bà, cô bán hàng từ chín mười giờ tối, suốt đêm cho tới sáng...

Cửa hàng của cô cũng không có gì: một vài miếng trầu, một vài phong thuốc lào, một bao thuốc lá bán lẻ, vài cái bát uống nước (...) đặt úp xuống mặt chõng. Nhưng hàng cô Dần có một chút đặt biệt hơn: cô không bán nước vối hay nước chè tươi. Cô bán nước chè (...) một thứ chè cũng dễ uống (...) bao giờ cũng nóng sôi dù trời rét hay trời nóng, mùa đông hay mùa hạ. Ấm chè bọc một cái áo gài rất cẩn thận, để bên một hỏa lò than lúc nào cũng hồng, trên đặt một ấm nước lúc nào cũng đang reo sôi.

(...) hàng cô Dần đông khách lắm, có khi cô trở tay không kịp. Kẻ đứng, người ngồi xúm vòng quanh - nhưng ngồi xổm mà thôi, vì hàng nước ấy lại còn có cái đặc biệt khác nữa là không có ghế ngồi. Những bác phu xe đặt nón, lần túi lấy thuốc lào, vài thầy đội xếp uống chè từng ngụm nhỏ trên xe đạp gác ở hè, với vài khách hàng áo ngắn, còn trẻ tuổi, hay điểm thêm vào vị nước một vài câu bông đùa nhè nhẹ đối với cô hàng. Thỉnh thỏang, một bác phu già, rụt rè thầm khẽ bên tai cô hàng nước, hoặc trả tạm một vài xu ở món nợ còn lại, hoặc nằn nì xin chịu nữa. Cô hàng nhíu đôi lông mày nhỏ lại một chút, nhưng cô dễ tính, rồi cũng bằng lòng.

*

Một hàng nước đắt hàng vì các thức quà bán đã đành, nhưng đôi khi cũng đắt khách vì cả cô hàng. Cô hàng nước (...) dù ở dưới bóng đa, bên ruộng lúa, hay ở dưới mái hiên trong thành phố, ở đâu cũng vậy, miệng tươi của cô là dây liên lạc khắp cả mọi người (...) 

Ồ, nhưng mà chúng ta hãy trở lại cô hàng nước của ba mươi sáu phố phường. Cô nhũn nhặn lắm: mặc giản dị một cái áo tứ thân nâu cũ (...) Trong mấy ngày Tết, người ta mới thấy cô khoác cái áo mới hơn một chút, vấn vành khăn tròn trặn và chặt chẽ hơn. Và dưới mái tóc đen, lúc đó mới lấp lánh mặt đá của đôi hoa vàng, bà cụ đánh cho cô năm vàng còn rẻ, làm cái vốn riêng, chắc thế.

Cô không đẹp, chỉ xinh thôi, và tính (...) còn trẻ con lắm. Thấy khách hàng nói một câu bông đùa, cô đã tưởng người ta chòng ghẹo, nên nhíu đôi lông mày lại, ngoe nguẩy cái mình. Khách trông thấy chỉ cười. Nhưng cô cũng không giận ai lâu: chỉ một lát cô lại vui ngay.

Một hai năm nữa, lớn lên đi lấy chồng, ai là người thay cô trông nom ngôi hàng nước của “Hà Nội là động tiên sa”? 

- Cô bé em cô, hẳn vậy, sẽ ngồi bán hàng thay chị, lại que diêm, điếu thuốc, miếng trầu - để kéo dài mãi mãi cái phong vị bình dân và mộc mạc của các cô hàng nước cùng với các cô hàng xén kĩu kịt đi chợ Đông, chợ Đoài, là cái tinh hoa thuần túy của người Việt Nam từ xửa xưa đến giờ.


(Trong 
Hà Nội băm sáu phố phường)




 


Chủ Nhật, 21 tháng 3, 2021

E M   Đ I   C H Ù A   H Ư Ơ N G

Thơ Nguyễn Nhược Pháp (poem by Nguyen Nhuoc Phap)

Tri Phan dịch sang Tiếng Anh (translated into English by Tri Phan)

Minh hoạ: Cung Huỳnh (illustrated by Cung Huynh)

CHÙA HƯƠNG ( Nguyễn Nhược Pháp)

Hôm nay đi chùa Hương
Hoa cỏ mờ hơi sương
Cùng thầy me em dậy
Em vấn đầu soi gương.

This is the day for the Perfume Pagoda

Still swimming in mist is the flowery grass

We rise to the morning, Father, Mother and me

Before the glass I comb and I twist my hair.

Khăn nhỏ, đuôi gà cao
Em đeo dải yếm đào 
Quần lĩnh, áo the mới
Tay cầm nón quai thao.

Crowned with a little turban, the hanging tail still high,

This morning I have a bodice (áo lót) as pink as peach blossom.

Satin pantaloon,  mantel of gauze

And in my hand the round leaf hat.

Me cười: "Thầy nó trông! 
Chân đi đôi dép cong 
Con tôi xinh xinh quá! 
Bao giờ cô lấy chồng ?"

My mother smiles: “Look, father, look !

At the little girl feet, the pretty curved sandal tips

She is beautiful, our little girl beautiful

And when will she be wed ?”.

- Em tuy mới mười lăm 
Mà đã lắm người thăm 
Nhờ mối mai đưa tiếng 
Khen tươi như trăng rằm

-I count barely fifteen Springs

Already many lads turn longing eyes

And go to seek comfort from the marriage dealer,

Praising the full moon brightness of my face.

Nhưng em chưa lấy ai 
Vì thầy bảo người mai 
Rằng em còn bé lắm 
Ý đợi người tài trai

But no one yet has been bespoke

“She is yet too small and young”

Papa says, “The man for her

We’ve yet to find … someone of a talent rare.”

 

Em đi cùng với me 
Me em ngồi cáng tre. 
Thầy theo sau cưỡi ngựa 
Thắt lưng dài đỏ hoe.

I go with Mother in a palanquin,

Of bamboo, for the way is long,

Father mounted on his horse,

Belted his bright vermilion sash

Flows out behind the pacing steed. (Chiến mã)

Thầy me ra đi đò 
Thuyền mấp mênh bên bờ. 
Em nhìn sông nước chảy 
Đưa cánh buồm lô nhô.

Father and Mother to the ferry come

Level by the bank the sampan glides.

I  watch the water where the waves run smooth,

And at the wind’s will  the sails draw out.

Mơ xa lại nghĩ gần. 
Đời mấy kẻ tri âm? 
Thuyền nan vừa lẹ bước 
Em thấy một văn nhân.

Turn about come to me far dreams and thoughts of now,

This is my life. And who knows my heart’s song ?

Well, hardly the sampan, wowen of bamboo, skims from the shore.

But there I spy one ……. graceful , cultured, young,


Người đâu thanh lạ nhường! 
Tướng mạo trông phi thường.
 Lưng cao dài, trán rộng. 
Hỏi ai nhìn không thương?


A youth with some special charm of looks,

He seems to shine with distinction rare

Tall, with long back, wide and smooth of brow

Now, how could not care ?

 

Chàng ngồi bên me em. 
Me hỏi chuyện làm quen: 
"Thưa thầy đi chùa ạ? 
Thuyền đông giời ôi chen!"

He sits down beside my Mother

Who makes hold to remark “Good Sir”

“No doubt you go to the Perfume Pagoda”

“What a crowd we have here on the boat! What a crowd !”

Chàng thưa vâng thuyền đông 
Rồi ngắm giời mênh mông 
Xa xa mờ núi biếc 
Phơn phớt áng mây hồng.

With respect he replies “Indeed Ma’am ….a crowd”

And returns his eyes to the measureless sky,

Where in far mists the azure heights

Of the mountains in rosy clouds are dreaming.

Dòng sông nước đục lờ. 
Ngâm nga chàng đọc thơ 
Thầy khen hay, hay quá 
Em nghe rồi ngẩn ngơ.

To the rhythm of the running waves I hear

His gentle voice intoning lyrical verse.

Father nods and is praising the beautiful words,

I listen and dream ….

Thuyền đi, bến Đục qua 
Mỗi lúc gặp người ra 
Thẹn thùng em không nói:
 "Nam mô A-di-đà!"

The  sampan rocks, touching in at the quay,

Of the foaming waters of Duc.

As we pass those returning they greet us,

But I am too shy to reply, as I should

“Hail to Buddha, compassionate one”.

Réo rắt suối đưa quanh 
Ven bờ ngọn núi xanh 
Dịp cầu xa nho nhỏ: 
Cảnh đẹp gần như tranh.

Sweet murmur of springs running down,

To the shore of the marsh, the blue heights,

And small in the distance the arch of the bridge

So fair the scene …. Like a picture it seems.

............

Ôi! Chùa trong đây rồi! 

Động thẳm bóng xanh ngời. 

Gấm thêu trần thạch nhũ 

Ngọc nhuốm hương trầm rơi.

….Ah … already we are there ! the Pagoda …

So deep the great cavern. Dark blue the vast  shades 

Brocaded with hangings of stone.

Stalactites draped like carved jade

With sandal perfumed …

 

Mẹ vui mừng hả hê: 
"Tặc! Con đường mà ghê!" 
Thầy kêu mau lên nhé 
Chiều hôm nay ta về.

Mother, unawed, simply says 

“What a terrible road … !”

And father , “we must hasten

This evening we’ve still to get home,”

Em nghe bỗng rụng rời! 
Nhìn ai luống nghẹn lời! 
Giờ vui đời có vậy 
Thoảng ngày vui qua rồi!

And sudden my heart  goes wild,

Looking round I pant for breath,

This is all then …The crown of the day’s

Hour of joy … Already the happy moment gone ?

Làn gió thổi hây hây. 
Em nghe tà áo bay 
Em tìm hơi chàng thở! 
Chàng ôi, chàng có hay?

Soft, so soft the air moves

Close the sibilant  swish of his gown

I feel the soft touch of his breath

“Oh Thou… dost thou understand ?”

Đường đây kia lên giời. 
Ta bước tựa vai cười 
Yêu nhau, yêu nhau mãi! 
Đi, ta đi, chàng ôi?

That road there leads to Heaven

Laughing,  shoulder to shoulder we’ll go

We love … and forever are bound in our love

Come … it is our road … please come.

Ngun ngút khói hương vàng 
Say trong giấc mơ màng 
Em cầu xin Giời Phật 
Sao cho em lấy chàng.

Dense is the smoke from the burning of  incense  and gold

Drugging with the strange dreams … a strange sleep

I pray Heaven … and Lord Buddha I pray

That we two may be married  some day.

(Thiên ký sự đến đây là hết. Tôi tin rồi hai người lấy nhau, vì không lấy được nhau thì cô bé còn viết nhiều. Lấy nhau rồi là hết chuyện).

Here is the diary ends. It is my belief that they must have got married for otherwise the young woman would not have stopped writing: when one marries, the story ends.

 

 

Thứ Tư, 17 tháng 3, 2021

NHỚ RỪNG

 Lời Con Hổ Nhở Rừng   Thế Lữ

NHỚ RỪNG (translation)

Gặm một khối căm hờn trong cũi sắt 

Ta nằm dài trông ngày tháng dần qua,

Khinh lũ người kia ngạo mạn ngẩn ngơ.

Giương mắt bé diễu oai linh rừng thẳm 

Nay ta sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm 

Để làm trò lạ lạ mắt, thứ đồ chơi 

Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi 

Với cặp báo chuồn bên vô tư lự 

 

Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ 

Thủa tung hoành hống hách những ngày xưa

Nhớ cảnh Sơn Lâm bóng cả cây già 

Với  tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi

Với khi thét khúc trường ca dữ dội

Ta  bước chân lên dõng dạc đường hoàng

Lượn  tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng

Vờn bóng âm thầm lá gai cỏ sắc

Trong hang tối mắt thần khi đã quắc

Là khiến cho mọi vật đều im hơi 


Ta biết ta chúa tể cả muôn loài 

Giữa chốn thảo hoa không tên không tuổi

Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối

Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan ?

Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn,

Ta  lặng ngắm giang sơn ta đổi mới ? 


Đâu những bình minh cây xanh nắng gội, 

Tiếng chim ca giấc ngủ ta từng bừng ? 

Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng 

Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt.

Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật ?

Than ôi thời oanh liệt, nay còn đâu? 


Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu

Ghét những cảnh không đời nào thay đổi,

Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng

Dải nước đen giả suối chẳng thông dòng

Len dưới nách những mô gò thấp kém

Dăm vừng lá hiền lành không bí hiểm

Cũng học đòi bắt chước vẻ hoang vu

Của chốn ngàn  năm cao cả âm u 

Hỡi oai linh cảnh nước non hùng vĩ 

Là nơi giống hùm thiêng ta ngự trị 

Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa 

Nơi ta không còn được thấy bao giờ

Có biết chăng trọng  những ngày ngao ngán

Ta đương theo giấc mộng ngàn to lớn

Để hồn ta phảng phất được gần ngươi

Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi !

 

 A LONGING FOR THE WILD – NHỚ RỪNG (Thế Lữ)

                  (Words of a Tiger in Hanoi Zoo).    


Gặm một khối căm hờn trong cũi sắt 

Ta nằm dài trông ngày tháng dần qua,

In the iron cage, gnawing a hunk of sombre fury

I lie stretched out , I watch days pass and months,


Khinh lũ người kia ngạo mạn ngẩn ngơ.

Giương mắt bé diễu oai linh rừng thẳm 

Despising those humans, insolent and stupid,

Who gawp with little goggling eyes, mocking

The majesty of the great dark forests.


Nay ta sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm 

Để làm trò lạ lạ mắt, thứ đồ chơi 

Now reduced here to ashamed imprisonment

Become a curious object, like a toy,


Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi 

Với cặp báo chuồn bên vô tư lự 

Like those gross bears, rather ridiculous

And those light-wit leopards in the neighboring cage.


Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ 

Thủa tung hoành hống hách những ngày xưa

I live always with nostalgia and regret

For times past.... my splendour and my power.


Nhớ cảnh Sơn Lâm bóng cả cây già 

Với  tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi

I see always the forests of great shadows ancient trees.

Hear wind roaring in the tree tops, torrents bursting from mountains.


Với khi thét khúc trường ca dữ dội

Ta  bước chân lên dõng dạc đường hoàng

And those times when I thundered forth

The great and terrible poetry of my voice.

I trod with steps that were stately and slow!


Lượn  tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng

Vờn bóng âm thầm lá gai cỏ sắc.

I moved like a wave rolling smoothly, with power

Laughing among the deep shades, the spiked leaves

Grass like the blades of long knives.


Trong hang tối mắt thần khi đã quắc

Là khiến cho mọi vật đều im hơi 

In my shadowy den when I opened my eyes’ sacred fire

All life stopped, no breathing thing dared.


Ta biết ta chúa tể cả muôn loài 

Giữa chốn thảo hoa không tên không tuổi

I knew it was I who was king of a thousand tribes

In that world of vegetation, nameless and ageless.


Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối

Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan ? 

Where are now the golden nights by the mountain springs

Drunk from the kill, drinking the light of the moon ?


Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn,

Ta  lặng ngắm giang sơn ta đổi mới ? 


Where are the days of great rain

Tearing down the four quarters of the jungle ?

In silence I meditate my kingdom gone.


Đâu những bình minh cây xanh nắng gội, 

Tiếng chim ca giấc ngủ ta từng bừng ? 

Where are now the dawns bursting green through the leaves,

A sun fountain, birds singing the dignity of my sleep ?


Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng 

Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt.

Where are those dusks of  dread, blood darkening under the trees

After my waiting to sink the sun’s dazzling disk.


Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật ?

Than ôi thời oanh liệt, nay còn đâu? 

For my hour of possession, the mystery of my world ?

Alas! Where is it now .... the time of my majesty ?


Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu

Ghét những cảnh không đời nào thay đổi,

Still I hold to me close my ancient rage,

Loathing the dull unchanging scene.

The ordered, the vulgar pretentious show.


Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng

Dải nước đen giả suối chẳng thông dòng

Ranks of flowers, clipped grass, pathways, tame trees

Imitation waters - a black ditch that never runs.


Len dưới nách những mô gò thấp kém

Dăm vừng lá hiền lành không bí hiểm

Cũng học đòi bắt chước vẻ hoang vu

Của chốn ngàn  năm cao cả âm u 

But rots in the crotch of some petty hump of stones

A clump of inoffensive shrubs which pretend

To contain some ghost of the Wild

Of that untamed and glorious eternal Wild .


Hỡi oai linh cảnh nước non hùng vĩ 

Là nơi giống hùm thiêng ta ngự trị 

Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa 

Nơi ta không còn được thấy bao giờ.

Ah godlike Wild, heroic mountains and waters !

Land where I ranged freely once

Which I cannot hope to see again.


Có biết chăng trọng  những ngày ngao ngán

Ta đương theo giấc mộng ngàn to lớn

Know it that here in this half-life

My true life is always in dreams.


Để hồn ta phảng phất được gần ngươi

Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi !

Of the high forests, and my soul is one with yours

Oh great forest, my forest, far and proud !


Translated by Tri Phan

Illustrated by Cung Huynh








MUA RAO  - Hwang sun Won (uo) https://gtvh51.blogspot.com/2024/10/rao-sun-won-han-quoc-ngay-khi-cau-be.html