Thứ Ba, 15 tháng 3, 2022

 SSA42 GIAI NHÂN HAY HỔ DỮ ?

 

                                                                                      Frank Richard Stockton

 

Xưa thật là xưa có một vị vua bán khai, người mà tư tưởng tuy đã có phần trở nên tinh tế và sắc bén nhờ sự tiến bộ của các nước láng giềng Latin xa xôi ảnh hưởng đến, nhưng đó vẫn là một đầu óc phóng túng, bóng bẩy vì nửa con người ông là nguyên chất bán khai. Nhà vua có một trí tưởng tượng mãnh liệt, thêm vào đó là một quyền uy đến mức không thể cưỡng lại được, nếu muốn ông có thể biến trò chơi thay đổi khôn lường của trí tưởng tượng vốn rất dồi dào nơi ông thành hiện thực. Nhưng ông lại có khả năng tuyệt vời trong việc phân tích các hành động của mình, và một khi đã thuyết phục được bản thân thì không có gì ngăn ông khỏi việc thực hiện hành động đến cùng. Nếu mọi thành viên trong các hệ thống chính trị và quốc nội của ông vận hành theo đúng quỹ đạo đã vạch thì ông là người ôn tồn và vui vẻ; nhưng hễ có một trục trặc nhỏ và một vài hành tinh của ông đi lạc quỹ đạo thì ông lại càng ôn tồn và tốt bụng hơn. Bởi vì không có gì làm ông hài lòng bằng được thể hiện khả năng uốn thẳng những chỗ cong, san phẳng những chỗ gồ ghề của ông.

Trong số các ý niệm vay mượn làm tính man rợ của ông bớt đi một nửa là ý niệm dựng lên một vũ đài công cộng cho người và thú quyết đấu, qua đó nhằm thuần thục và tinh luyện tâm hồn của các thần dân.

Nhưng chính tại đó trí tưởng tượng dồi dào và đầy man rợ lại tự khẳng định mạnh nhất. Vũ đài của nhà vua được thiết lập không phải để cho nhân dân có cơ hội nghe thấy những sự biểu lộ nhiệt tình của các đấu sĩ đang giãy chết, cũng không phải để họ tận mắt thấy cái kết thúc tất yếu của sự xung đột giữa các quan điểm tôn giáo và những cái miệng đói khát, mà nhằm mục đích tốt đẹp hơn là mở rộng và phát triển năng lượng trí tuệ của nhân dân. Đấu trường rộng lớn với những hành lang bao quanh, những hầm ngầm bí ẩn, những lối đi không ai nhìn thấy, là nơi thưởng phạt công minh, ở đó tội ác bị trừng phạt hoặc đức hạnh được ban thưởng theo các sắc lệnh của một cơ may không thiên vị và liêm khiết.

Khi một thần dân nào đấy bị kết án phạm vào một trọng tội đủ khiến nhà vua quan tâm  thì một bố cáo sẽ được phát ra rằng vào ngày đã định số phận của kẻ có tội sẽ được quyết định tại đấu trường của nhà vua, một công trình kiến trúc rất xứng với tên gọi này, bởi vì dù cho hình thức và thiết kế của nó là vay mượn từ phương xa, nhưng mục đích của nó hoàn toàn là từ đầu óc của con người này mà ra. Ông ta không coi trọng một truyền thống nào lớn hơn trí tưởng tượng của mình và đã đem lắp ghép sự phát triển phong phú của chủ nghĩa  lý tưởng bán khai của mình vào mọi hình thức tư duy và hành động của con người.

Khi mọi người đã tụ tập trong các hành lang và đức vua được các triều thần hộ tống đã ngồi vào ngai vàng của triều đình, ông bèn ra hiệu, một cánh cửa phía dưới chỗ ông ngồi mở ra, kẻ bị kết tội bước ra vũ đài. Đối diện thẳng với hắn, ở phía bên kia của khoảng không gian khép kín, là hai cánh cửa giống hệt nhau nằm sát cạnh nhau. Chính bổn phận và đặc ân của người bị xét xử  là phải đi đến chỗ hai cánh cửa đó và mở ra một cánh. Hắn có thể mở một trong hai cửa mà hắn muốn; hắn không phải chịu sự chỉ đạo hay tác động nào mà phụ thuộc vào cơ hội vô tư và liêm khiết đã nói trên. Nếu hắn mở một cửa, từ đấy một con hổ đói hung dữ và độc ác nhất trần đời sẽ lập tức nhào ra, nhảy bổ vào hắn, xé xác hắn ra làm trăm mảnh để trừng phạt tội lỗi của hắn. Khi số phận của kẻ tội phạm đã được kết liễu như vậy xong, những quả chuông sắt sẽ kêu rền rĩ, những tiếng than khóc từ những người khóc mướn ngồi ở rìa phía ngoài vũ đài vang lên, còn đám đông người xem thì cúi đầu buồn bã chậm chạp lê bước về nhà, lòng đầy xót thương cho một người trai trẻ hay một trưởng lão tôn kính đã chẳng may phải chịu một số phận thảm khốc đến thế.

Nhưng nếu kẻ tử tội mở cánh cửa kia thì từ đó sẽ bước ra một cô nương mà xét về tuổi tác và địa vị xã hội thì là người xứng đôi vừa lứa với hắn nhất so với tất cả phụ nữ mà quốc vương có thể lựa chọn, và với cô gái như một phần thưởng cho sự vô tội đó, người ta lập tức làm lễ cưới cho hắn. Dù hắn đã có vợ con hay đã đem lòng thương nhớ ai cũng mặc: đức vua không cho phép những chuyện lặt vặt như thế xen ngang vào kế hoạch thưởng phạt uy nghiêm mà ông ta đã vạch ra. Cũng như trong trường hợp kia, mọi chuyện lúc này tức khắc được thực hiện trên vũ đài. Dưới ngai vàng của đức vua lại có một cánh cửa nữa được mở ra, thầy tế lễ bước ra cùng dàn đồng ca và các thiếu nữ, do một vũ sư dẫn đầu, nhảy múa trong tiếng nhạc vang lừng của đội kèn vàng; tất cả những người này cùng bước đến chỗ đôi tân lang tân nương đang kề vai sát cánh bên nhau và nghi lễ đám cưới diễn ra nhanh chóng và tưng bừng. Khi đó những tiếng chuông vui vẻ thong thả ngân vang, dân chúng hân hoan tung hô lời chào mừng, kẻ vô tội dẫn cô dâu về nhà mình, đi trước là một đám trẻ rắc hoa đầy đường.

Đây là phương thức nửa văn minh nửa man rợ của nhà vua để thực thi công lý. Sự công bằng hoàn hảo ở đây là hiển nhiên. Kẻ tử tội không thể biết ở cửa nào cô dâu sẽ bước ra: hắn tùy ý mở một cửa mà không mảy may hình dung được là, trong giây lát, mình sẽ bị xé xác hay được làm lễ cưới. Đôi khi con hổ bước ra từ cửa này, đôi khi từ cửa khác. Các quyết định của pháp đình này không những công bằng mà còn có tính xác định tích cực: nếu kẻ bị buộc tội xác định là mình có tội thì tức khắc sẽ bị trừng phạt; còn nếu chứng tỏ mình vô tội thì anh ta được ban thưởng ngay tại chỗ,  dù hắn có thích phần thưởng đó hay không. Không có cách gì tránh được phán quyết của vũ đài nhà vua.

Định chế này hết sức được ưa chuộng. Khi dân chúng tụ tập về một trong những  ngày xử án trọng đại, không một ai biết sẽ được chứng kiến một cảnh tượng đổ máu rùng rợn hay một đám cưới vui nhộn. Yếu tố không chắc chắn này làm cho nghi lễ thêm phần hấp dẫn, điều không có được trong trường hợp ngược lại. Như vậy, dân chúng thì được vui thích và dễ chịu, còn thành phần có học thức của cộng đồng thì không thể buộc tội định chế đó là bất công được, bởi vì chẳng phải là kẻ tội phạm nắm toàn bộ vận mệnh mình trong tay đó sao?

Nhà vua bán khai này có một cô con gái với vẻ đẹp như bông hoa đang nở rực rỡ như đầu óc tưởng tượng muôn màu của ông, với một tâm hồn nhiệt thành và quyền uy như chính ông. Giống như trong mọi trường hợp thế này, nhà vua yêu quý cô như con ngươi của mắt mình, và yêu thương say đắm con mình hơn mọi thứ trên đời. Trong số các cận thần của ông có một chàng trai mà dòng máu thanh cao và địa vị thấp hèn đã coi ngang hàng với những vị anh hùng lãng mạn truyền thống, người mà đã đem lòng yêu con gái nhà vua. Nàng công chúa hoàn toàn bằng lòng với người yêu của mình, bởi vẻ đẹp trai và lòng dũng cảm của chàng vượt hơn tất cả những người khác trong vương quốc, nàng yêu chàng hừng hực, với tất cả sự nóng bỏng và mạnh mẽ nàng có được nhờ dòng máu bán khai mang trong mình. Mối tình hạnh phúc của họ kéo dài nhiều tháng cho đến một ngày tình cờ nhà vua phát hiện ra sự tồn tại của nó. Ông không chần chừ, cũng không nao núng trước việc phải làm trong dinh cơ. Chàng trai lập tức bị  tống giam vào ngục; ngày xét xử chàng trên đấu trường được ấn định. Tất nhiên đây là một trường hợp đặt biệt quan trọng, nên cả nhà vua và toàn thể dân chúng đều náo nức quan tâm theo dõi những hoạt động và diễn biến của phiên toà này.  Trước giờ chưa từng có chuyện như vậy xảy ra cả; hàng bao đời nay chưa hề có một thần dân nào lại dám cả gan yêu con gái vua. Về sau này những chuyện như thế trở thành bình thường, nhưng thời đó nó là chuyện không hề nhẹ, mới lạ và đáng kinh ngạc.

Người ta lục soát khắp các chuồng thú của cả vương quốc để tìm kiếm những con thú man dại, độc ác nhất, từ đó chọn ra một con thích hợp nhất cho đấu trường; và hàng ngũ của những cô thục nữ trẻ đẹp  trên khắp đất nước cũng được lục tìm cẩn thận và các thẩm phán có thẩm quyền phán quyết để  anh, chàng trai trẻ đó được nhận cô dâu xứng đáng nếu như số phận mỉm cười với chàng. Dĩ nhiên ai cũng  biết rằng chàng trai bị buộc tội là không oan. Chàng đã yêu công chúa, và cả chàng cả nàng hay một ai đó khác cũng không có ý chối bỏ sự thật đó, nhưng nhà vua cũng không nghĩ đến việc cho phép bất cứ một sự kiện nào thuộc loại này  can thiệp vào tiến trình xử phạt vốn làm ông thỏa mãn và thích thú cao độ. Dù kết cục là thế nào chăng nữa, chàng trai vẫn phải lên vũ đài, còn nhà vua thì sẽ rất thích thú khi ngồi theo dõi diễn biến quá trình xác định xem liệu chàng trai có phạm tội hay không trong việc tự ý yêu công chúa.

Ngày xét xử đã đến. Mọi người xa gần nô nức kéo đến, ngồi chật các hành lang vũ đài, còn đám đông không chen vào được thì tụ tập quanh các bức tường phía ngoài. Đức vua và các triều thần ngồi vào các chỗ của mình, đối diện với hai cánh cửa đôi, hai cánh cổng định mệnh, giống hệt nhau khủng khiếp. 

Tất cả đã sẵn sàng. Hiệu lệnh được ban ra. Một cánh cửa phía dưới chỗ nhà vua ngồi mở rộng, và người yêu của công chúa bước ra vũ đài. Chàng trai cao lớn, điển trai, tóc vàng nhạt. Sự xuất hiện của chàng được chào đón bằng những tiếng hò la đầy thán phục lẫn lo âu. Một nửa số khán giả không biết sống giữa họ lại có một chàng trai hào hoa đến vậy. Thảo nào công chúa yêu chàng.. Thật là một điều khủng khiếp cho chàng khi phải đứng ở đây!

Khi tiến vào vũ đài, theo tục lệ, chàng trai quay người lại cúi chào nhà vua, nhưng chàng không nghĩ chút nào đến đấng chí tôn đó. Cặp mắt chàng nhìn xoáy vào nàng công chúa đang ngồi bên phải vua cha. Nếu như không phải bản tính còn mang nửa phần man rợ thì có lẽ nàng đã không đến đây; nhưng tâm hồn đam mê, cháy bỏng không cho phép nàng bỏ qua sự kiện khiến nàng rất đỗi quan tâm này. Ngay từ lúc biết rằng sắc lệnh của vua cha tuyên phạt người yêu của nàng trên đấu trường, suốt đêm ngày nàng không nghĩ gì khác ngoài sự kiện trọng đại đó và nhiều vấn đề khác nhau liên quan đến nó. Vốn sở hữu một quyền lực to lớn, một uy tín rộng rãi, một tính cách mạnh mẽ hơn bất kỳ ai khác trước đây từng quan tâm đến một vụ án như thế, nàng đã làm được một điều mà không ai làm được: nàng sở hữu cho mình bí mật các cánh cửa. Nàng biết trong phòng nào của hai phòng nằm phía sau cửa nào là chuồng hổ, còn phía sau cửa nào là cô dâu. Hai tấm cửa dày, bên trong lại phủ kín bằng những bộ da lông thú, không để cho một âm thanh, tín hiệu nào lọt được ra ngoài, vang được đến tai người đang bước tới gần nâng chốt cửa lên. Nhưng vàng bạc và sức mạnh của ý chí phụ nữ đã mang điều bí mật đó đến với công chúa.

 

Và nàng không những chỉ biết cánh cửa nào che giấu cô dâu ửng hồng tươi tắn sẵn sàng bước ra ngoài khi cửa được mở mà nàng còn biết cô gái đó là ai. Để ban thưởng cho kẻ tử tội, nếu chàng chứng tỏ được mình vô tội, người ta đã chọn một trong những cô gái xinh đẹp và quyến rũ nhất trong triều, và nàng căm ghét cô ta. Nàng nhận thấy, hay tưởng tượng rằng mình đã nhận thấy, cô gái xinh xắn đó ném ánh nhìn đầy ngưỡng mộ về người tình của nàng, đôi khi nàng phải cam chịu thừa nhận là dường như những cái nhìn đó không phải không được đáp lại. Thi thoảng nàng thấy họ có trò chuyện với nhau dù chỉ là thoáng chốc, nhưng trong một khoảng thời gian ngắn ngủi cũng có thể nói được nhiều điều;  có thể đó là những điều không mấy quan trọng,  nhưng làm sao nàng biết được? Cô gái trông là một tuyệt thế giai nhân, nhưng cô ta đã dám ngước mắt nhìn người tình của công chúa; và, với toàn bộ dòng máu hoang dại truyền thừa từ nhiều đời các tổ tiên thời còn mông muội, công chúa căm tức người con gái giờ đây đang run rẩy và ửng hồng ở phía sau cánh cửa đóng chặt im lìm.

Khi người yêu của nàng quay lại nhìn nàng, bốn mắt nhìn nhau khi nàng đang ngồi nhợt nhạt tái xanh hơn ai hết giữa cả biển người hồi hộp căng thẳng,, và chàng thấy – bằng một trực giác nhanh như chớp loé lên trong đầu óc mà chỉ những ai hòa quyện tâm hồn với nhau mới có được - nàng biết con hổ ở cửa nào, giai nhân ở cửa nào. Chàng nghĩ là nàng biết điều đó. Chàng hiểu tính cách của nàng, tâm hồn chàng tin chắc rằng công chúa sẽ không yên chừng nào chưa biết rõ điều này, cái điều mà hết thảy mọi người ngồi trên vũ đài, thậm chí nhà vua, đều không biết. Điều duy nhất chàng trai có thể hi vọng là công chúa biết được điều bí mật đó; và khi đưa mắt nhìn nàng, chàng hiểu là nàng đã biết được nó, y như trong tâm hồn mình chàng từng biết là nàng đã biết được nó.

Rồi chính cái nhìn nhanh chóng và khắc khoải của chàng đã đặt ra câu hỏi: “Cửa nào?”. Nó vọng đến chỗ nàng như thể chàng hét to lên từ chỗ chàng đang đứng. Không thể bỏ lỡ khoảnh khắc. Câu hỏi được hỏi một cách đột ngột; nó phải được đáp lại ngay lập tức.

Cánh tay phải của nàng đang đặt lên hàng lan can phủ nệm trước mặt. Nàng giơ tay, làm một cử động nhẹ rất nhanh về phía phải. Không ai ngoài người yêu của nàng thấy nàng. Mọi con mắt đều đang đổ dồn vào con người trên vũ đài.

Chàng quay lại và bằng những bước đi rắn chắc, nhanh nhẹn chàng băng qua khoảng không gian trống trải. Từng trái tim thắt lại, từng nhịp thở đều bị kìm hãm, từng ánh mắt đều dán chặt vào chàng. Không chút do dự, chàng bước lại cánh cửa bên phải và mở nó ra.

Bây giờ, mấu chốt câu truyện là đây: ai sẽ bước ra ngoài - con hổ hay cô dâu?

Bạn càng suy nghĩ về câu hỏi này càng thấy khó trả lời. Nó đòi hỏi phải nghiên cứu trái tim con người là cái luôn cuốn chúng ta vào những mê cung rắc rối của những đam mê mà không dễ tìm lối ra. Hãy suy nghĩ chuyện này đi, bạn đọc thân mến, chỉ có điều là giải pháp ở đây không tùy thuộc vào bạn, mà vào nàng công chúa bán khai hừng hực lửa tình, tâm hồn nàng đã bị nung đến cháy đỏ bởi ngọn lửa tuyệt vọng và ngọn lửa ghen tuông. Nàng đã mất chàng, nhưng ai sẽ được chàng đây?

Thường thường, lúc mơ cũng như lúc tỉnh, nàng run lên vì khủng khiếp và lấy tay che mặt mỗi khi nghĩ đến việc người tình của nàng mở cánh cửa nhốt con hổ đói dữ tợn ở trong.

Nhưng thường nàng thấy chàng ở bên cánh cửa khác nhiều hơn! Nàng nghiến răng giật tóc trong những cơn mơ cay đắng thấy chàng run lên mừng rỡ khi mở cánh cửa có cô dâu. Tâm hồn nàng xiết bao đau khổ khi thấy chàng lao đến gặp cô gái có đôi má ửng hồng, cặp mắt long lanh vui sướng vì số phận may mắn của mình; khi nàng thấy chàng dẫn cô gái bước ra, thân thể chàng tràn đầy niềm vui được sống lại; khi nàng nghe những tiếng hò reo hân hoan của đám đông, những tiếng chuông mừng rung vang cuồng nhiệt; khi nàng thấy thầy tư tế cùng đoàn hộ giá tưng bừng bước lại gần đôi trai gái tuyên bố họ là chồng là vợ ngay trước mặt nàng; và khi nàng thấy hai người sánh bước bên nhau trên con đường rải đầy hoa, trong tiếng reo hò vang dội của đám đông nhấn chìm nỗi tuyệt vọng cô đơn của nàng!

Giá như chàng chết ngay đi và đợi nàng ở những miền cực lạc của cuộc sống bán khai ở thế giới bên kia có phải tốt hơn không?

Nhưng con hổ dữ tợn, những tiếng gào rú, máu chảy xương rơi!

Để trả lời người tình nàng chỉ cần một giây, nhưng quyết định của nàng đã được đưa ra sau nhiều ngày đêm suy tính trong đau khổ. Nàng biết là nàng sẽ được hỏi, nàng đã quyết định câu trả lời cần thiết, và không mảy may do dự nàng đã khẽ cử động tay phải.

Câu hỏi về quyết định của nàng công chúa là câu hỏi không thể xem xét qua loa được, và tôi không có quyền tự nhận mình là người duy nhất có khả năng trả lời được nó. Vì thế tôi xin dành cho các bạn quyền trả lời: ai sẽ bước ra vũ đài - cô dâu hay con hổ?

                                                   Phan Thiện Trì dịch

                                                            Mar. 2022

(Tác giả của "The Lady, or the Tiger?" không tiết lộ cái nào ra khỏi cửa, người phụ nữ hay con hổ. Truyện ngắn của Frank R. Stockton thường được phân tích nhằm tìm ra manh mối về việc người phụ nữ hay con hổ bước qua cửa. 

Câu cuối cùng của câu chuyện có người kể đặt câu hỏi: "Và vì vậy tôi để lại câu hỏi với tất cả các bạn: Con nào bước ra từ cánh cửa đã mở - quý bà, hay con hổ?" Nếu hổ ra khỏi cửa, người tình cũ của công chúa bị mắc kẹt sẽ bị giết ngay trước mắt hoàng gia. Nếu người phụ nữ bước ra khỏi cửa, người đàn ông sẽ sống hạnh phúc mãi mãi với người phụ nữ anh ta yêu hơn công chúa.)

(Quý bà hay con Hổ?" là một câu chuyện ngắn của Frank Stockton kể về một hình phạt bất thường được áp đặt bởi một vị vua bán man rợ, trong đó bị cáo phải lựa chọn giữa hai cánh cửa. Phía sau một cánh cửa là một thiếu nữ và phía sau cánh cửa kia là một con hổ. Nhân vật chính là người yêu của công chúa. Biết được điều gì ẩn sau cánh cửa, cô ra hiệu cho anh biết cánh cửa nào sẽ mở. 

Đoạn đầu câu chuyện kể chi tiết về sự trừng phạt của nhà vua. Người đàn ông đứng trong đấu trường một mình. Nếu anh ta chọn cửa với người phụ nữ, anh ta được tuyên bố vô tội và tự do, nhưng phải lập tức kết hôn với người phụ nữ. Nếu anh ta chọn cửa có con hổ đói, anh ta ngay lập tức bị ăn thịt. Người yêu của cô biết rằng công chúa đã phát hiện ra những thứ bên trong cánh cửa, và anh ta nhìn cô để chỉ đường. Không do dự, cô chỉ ra cánh cửa mà anh ta nên mở. Nếu cô ấy chỉ cửa với người con gái, cô ấy phải nhìn người đàn ông cô ấy yêu kết hôn với một người phụ nữ mà cô ấy coi thường. Nếu cô ấy dẫn người đàn ông đến với con hổ, cô ấy phải nhìn anh ta bị xé ra từng mảnh. Cuối cùng, tác giả không giải đố mà để lại cho người đọc. 

 

THE LADY OR THE TIGER ?

                                                                                   Frank Richard Stockton

IN the very olden time, there lived a semi-barbaric king, whose ideas, though somewhat polished and sharpened by the progressiveness of distant Latin neighbors, were still large, florid, and untrammelled, as became the half of him which was barbaric. He was a man of exuberant fancy, and, withal, of an authority so irresistible that, at his will, he turned his varied fancies into facts. He was greatly given to self-communing; and, when he and himself agreed upon any thing, the thing was done. When every member of his domestic and political systems moved smoothly in its appointed course, his nature was bland and genial; but whenever there was a little hitch, and some of his orbs got out of their orbits, he was blander and more genial still, for nothing pleased him so much as to make the crooked straight, and crush down uneven places.

Among the borrowed notions by which his barbarism had become semified was that of the public arena, in which, by exhibitions of manly and beastly valor, the minds of his subjects were refined and cultured.

But even here the exuberant and barbaric fancy asserted itself. The arena of the king was built, not to give the people an opportunity of hearing the rhapsodies of dying gladiators, nor to enable them to view the inevitable conclusion of a conflict between religious opinions and hungry jaws, but for purposes far better adapted to widen and develop the mental energies of the people. This vast amphitheatre, with its encircling galleries, its mysterious vaults, and its unseen passages, was an agent of poetic justice, in which crime was punished. Or virtue rewarded, by the decrees of an impartial and incorruptible chance.

When a subject was accused of a crime of sufficient importance to interest the king, public notice was given that on an appointed day the fate of tile accused person would be decided in the king's arena,--a structure which well deserved its name; for, although its form and plan were borrowed -from afar, its purpose emanated solely from the brain of this man, who, every barleycorn a king, knew no tradition to which he owed more allegiance than pleased his fancy, and who ingrafted on every adopted form of human thought and action the rich growth of his barbaric idealism.

When all the people had assembled in the galleries, and the king, surrounded by his court, sat high up on his throne of royal state on one side of the arena, he gave a signal, a door beneath him opened, and the accused subject stepped out into the amphitheatre. Directly opposite him, on the other side of the enclosed space, were two doors, exactly alike and side by side. It was the duty and the privilege of the person on trial, to walk directly to these doors and open one of them. He could open either door he pleased: he was subject to no guidance or influence but that of the aforementioned impartial and incorruptible chance. If he opened the one, there came out of it a hungry tiger, the fiercest and most cruel that could be procured, which immediately sprang upon him, and tore him to pieces, as a punishment for his guilt. The moment that the case of the criminal was thus decided, doleful iron bells were clanged, great wails went up from the hired mourners posted on the outer rim of the arena, and the vast audience, with bowed heads and downcast hearts, wended slowly their homeward way, mourning greatly that one so young and fair, or so old and respected, should have merited so dire a fate.

But, if the accused person opened the other door, there came forth from it a lady, the most suitable to his years and station that his majesty could select among his fair subjects; and to this lady he was immediately married, as a reward of his innocence. It mattered not that he might already possess a wife and family, or that his affections might be engaged upon an object of his own selection: the king allowed no such subordinate arrangements to interfere with his great scheme of retribution and reward. The exercises, as in the other instance, took place immediately, and in the arena. Another door opened beneath the king, and a priest, followed by a band of choristers' and dancing maidens blowing joyous airs on golden horns and treading an measure, advanced to where the pair stood side by side; and the wedding was promptly and cheerily solemnized. Then the gay brass bells rang forth their merry peals, the people shouted glad hurrahs, and the innocent man, preceded by children strewing flowers on his path, led his bride to his home.

This was the king's semi-barbaric method of administering justice. Its perfect fairness is obvious. The criminal could not know out of which door would come the lady: he opened either he pleased, without having the slightest idea whether, in the next instant, he was to be devoured or married. On some occasions the tiger came out of one door, and on some out of the other. The decisions of this tribunal were not only fair, they were positively determinate: the accused person was instantly punished if he found himself guilty; and, if innocent, he was rewarded on the spot, whether he liked it or not. There was no escape from the judgments or the king's arena.

The institution was a very popular one. When the people gathered together on one of the great trial days, they never knew whether they were to witness a bloody slaughter or a hilarious wedding. This element of uncertainty lent an interest to the occasion which it could not otherwise have attained. Thus, the masses were entertained and pleased, and the thinking part of the community could bring no charge of unfairness against this plan; for did not the accused person have the whole matter in his own hands?

This semi-barbaric king had a daughter as blooming as his most florid fancies, and with a soul as fervent and imperious as his own. As is usual in such cases, she was the apple of his eye, and was loved by him above all humanity. Among his courtiers was a young man of that fineness of blood and lowness of station common to the conventional heroes of romance who love royal maidens. This royal maiden was well satisfied with her lover, for he was handsome and brave to a degree unsurpassed in all this kingdom; and she loved him with an ardor that had enough of barbarism in it to make it exceedingly warm and strong. This love affair moved on happily for many months, until one day the king happened to discover its existence. He did not hesitate nor waver in regard to his duty in the premises. The youth was immediately cast into prison, and a day was appointed for his trial in the king's arena. This, of course, was an especially important occasion; and his majesty, as well as all the people, was greatly interested in the workings and development of this trial.

Never before had such a case occurred; never before had a subject dared to love the daughter of a king. In after-years such things became commonplace enough; but then they were, in no slight degree, novel and startling.

The tiger-cages of the kingdom were searched for the most savage and relentless beasts, from which the fiercest monster might be selected for the arena; and the ranks of maiden youth and beauty throughout the land were carefully surveyed by competent judges, in order that he, young man, might have a fitting bride in case fate did not determine for him a different destiny. Of course, everybody knew that the deed with which the accused was charged had been done. He had loved the princess, and neither he, she, nor any one else thought of denying the fact; but the king would not think of allowing any fact of this kind to interfere with the workings of the tribunal, in which he took such great delight and satisfaction. No matter how the affair turned out, the youth would be disposed of; and the king would take an aesthetic pleasure in watching the course of events, which would determine whether or not the young man had done wrong in allowing himself to love the princess.

The appointed day arrived. From far and near the people gathered, and thronged the great galleries of the arena; and crowds, unable to gain admittance, massed themselves against its outside walls. The king and his court were in their places, opposite the twin doors,--those fateful portals, so terrible in their similarity.

All was ready. The signal was given. A door beneath the royal party opened, and the lover of the princess walked into the arena. Tall, beautiful, fair, his appearance was greeted with a low hum of admiration and anxiety. Half the audience had not known so grand a youth had lived among them. No wonder the princess loved him! What a terrible thing for him to be there!

As the youth advanced into the arena, he turned, as the custom was, to bow to the king: but he did not think at all of that royal personage; his eyes were fixed upon the princess, who sat to the right of her father. Had it not been for the moiety of barbarism in her nature, it is probable that lady would not have been there; but her intense and fervid soul would not allow her to be absent on an occasion in which she was so terribly interested. From the moment that the decree had gone forth, that her lover should decide his fate in the king's arena, she had thought of nothing, night or day, but this great event and the various subjects connected with it. Possessed of more power, influence, and force of character than any one who had ever before been interested in such a case, she had done what no other person had done, - she had possessed herself of the secret of the doors. She knew in which of the two rooms, that lay behind those doors, stood the cage of the tiger, with its open front, and in which waited the lady. Through these thick doors, heavily curtained with skins on the inside, it was impossible that any noise or suggestion should come from within to the person who should approach to raise the latch of one of them; but gold, and the power of a woman's will, had brought the secret to the princess.

How often, in her waking hours and in her dreams, had she started in wild horror, and covered her face with her hands, as she thought of her lover opening the door on the other side of which waited the cruel fangs of the tiger!

But how much oftener had she seen him at the other door! How in her grievous reveries had she gnashed her teeth, and torn her hair, when she saw his start of rapturous delight as he opened the door of the lady! How her soul had burned in agony when she had seen him rush to meet that woman, with her flushing cheek and sparkling eye of triumph; when she had seen him lead her forth, his whole frame kindled with the joy of recovered life; when she had heard the glad shouts from the multitude, and the wild ringing of the happy bells; when she had seen the priest, with his joyous followers, advance to the couple, and make them man and wife before her very eyes; and when she had seen them walk away together upon their path of flowers, followed by the tremendous shouts of the hilarious multitude, in which her one despairing shriek was lost and drowned!

Would it not be better for him to die at once, and go to wait for her in the blessed regions of semi-barbaric futurity?

And yet, that awful tiger, those shrieks, that blood!

Her decision had been indicated in an instant, but it had been made after days and nights of anguished deliberation. She had known she would be asked, she had decided what she would answer, and, without the slightest hesitation, she had moved her hand to the right.

The question of her decision is one not to be lightly considered, and it is not for me to presume to set myself up as the one person able to answer it. And so I leave it with all of you: Which came out of the opened door, - the lady, or the tiger?

 

 

 

                 

Thứ Bảy, 12 tháng 3, 2022

 SSA41 THIÊN THẦN CẢI DẠNG

                                                                       

                                                                                T.S. Arthur

 

Sự ăn không ngồi rồi, thói hư tật xấu và lối sống rượu chè be bét đã hoàn thành phần việc khó khăn của chúng, và người mẹ đã chết nằm bất động, lạnh lẽo giữa những đứa con tội nghiệp của bà. Bà ta đã ngã quỵ ngay bậc cửa trong một cơn say và ra đi ngay trước những khuôn mặt hãi hùng của những đứa con bé bỏng. 

 

Cái chết đã chạm đến lòng trắc ẩn của con người. Người đàn bà đã từng bị khinh miệt, dè bỉu và lên án gay gắt bởi hầu hết đàn ông, đàn bà và trẻ nít ở trong làng; nhưng giờ đây, khi sự thật về cái chết của bà ta được truyền miệng từ người này sang người khác với giọng điệu nghẹn ngào, thương cảm đã thay thế cho sự phẫn nộ, xót xa đã thế chỗ cho sự lên án. Hàng xóm láng giềng vội vã đi vào túp lều dột nát, nơi không chỉ để tránh cái nóng mùa hè mà còn tránh những cơn gió đông lạnh lẽo đối với bà: một số khác còn mang theo vải liệm để chuẩn bị cho sự thành phục được tươm tất, một số khác mang theo thức ăn cho đám trẻ sắp chết đói, số trẻ gồm ba đứa. Trong đó, John, đứa lớn, 12 tuổi, một cậu bé khỏe mạnh, đã có thể kiếm sống bằng cách giúp việc cho bất cứ nông gia nào. Kate, khoảng mười, mười một tuổi, thông minh, nhanh nhẹn, sẽ là một cô bé khéo tay nếu gặp được người tốt, được dạy bảo đến nơi đến chốn; nhưng còn Maggie tội nghiệp, cô em út, thì lại mắc bệnh hiểm nghèo. Hai năm trước, cú ngã từ cửa sổ đã làm tổn thương xương sống của cô bé và khiến cô không thể rời khỏi giường kể từ đó, ngoại trừ những lúc được bà mẹ ẵm bồng.

 

“Phải tính sao đây với đám trẻ?”. Đó là câu hỏi chính yếu lúc này. Người mẹ sẽ được chôn cất và không còn là mối bận tâm của dân làng nữa. Nhưng không thể bỏ mặc bọn trẻ chết đói được. Sau khi cân nhắc kỹ lưỡng vấn đề, rồi bàn bạc với vợ mình, nông gia Jones tuyên bố ông sẽ nhận nuôi John và hứa đối xử tốt với nó, vì từ bấy giờ mẹ nó đã qua đời; và Ellis, bà này hiện đang tìm một người ở gái, kết luận rằng bà đã rất độ lượng khi chọn Kate mặc dù cô bé còn quá nhỏ để làm việc trong vòng vài năm tới.

 

 “Tôi có thể làm nhiều hơn nữa, tôi biết chứ”, bà nói, “nhưng vì chẳng ai muốn nhận con bé nên tôi phải đảm đương trách nhiệm với đứa trẻ rắc rối này, vì nó là đứa vô kỷ luật, thường có cách riêng của nó”.

 

Nhưng không một ai ngõ ý muốn nói, “Tôi sẽ nuôi Maggie”. Những cái nhìn  thương hại thoáng qua trên thân hình xanh xao và tàn phế của nó, và những ý nghĩ rằng sẽ chuốc lấy phiền muộn khi cân nhắc về em. Các bà mẹ lấy ra những bộ đồ cũ, lột hết đống quần áo bẩn thỉu và rách rưới của em, và mặc cho em bộ đồ sạch sẽ hơn. Đôi mắt đượm buồn và gương mặt kiên nghị của em gái nhỏ đã làm nhiều trái tim thổn thức, và thậm chí còn gõ cửa trái tim để xin vào trong. Nhưng chẳng ai chịu mở lòng với em. Ai lại muốn nuôi không một đứa trẻ nằm liệt giường chứ?

 

“Hãy đưa nó đến nhà tế bần,” một người đàn ông thô lỗ nói, đó cũng chính là người đặt ra câu hỏi: “Phải làm gì với Maggie?”  “Sẽ không có ai phải bận tâm với con bé cả”.

 

“Nhà tế bần là một nơi tuyệt vọng dành cho một đứa bé bệnh tật và không nơi nương tựa,” ai đó trả lời.

 

“Cho con chị hay con tôi”, một người khác nhẹ nhàng nói tiếp, “nhưng đối với nó thì có lẽ lại là một sự may mắn, nó sẽ được tắm rửa, có đồ ăn tử tế và được chăm sóc y tế, thế đã tốt hơn trước đây nhiều rồi”.

 

Điều đó rất có lý, nhưng vẫn chưa thỏa đáng. Một ngày sau cái chết đó, người ta tiến hành mai táng. Vài ba nhà hàng xóm đến dự lễ trong căn nhà nhỏ tồi tàn nhưng không ai đi theo chiếc xe chở thi thể bị miệt thị ra phần mộ sơ sài của nó. Bác nông gia Jones, sau khi cỗ quan tài được mang đi, liền đặt John lên xe và đánh ngựa đi, hài lòng vì đã làm xong phần việc của mình. Bà Ellis thì vội vàng bảo Kate “Chào tạm biệt em mày đi”, rồi lôi kéo những đứa trẻ đang đầm đìa nước mắt rời nhau ra chỉ vừa khi hai đứa trẻ kịp chạm môi hôn vĩnh biệt trong thổn thức.. Những người khác cũng nhanh chóng rời khỏi, một vài người có liếc mắt nhìn Maggie, nhưng số khác thì kiên quyết không, cho đến khi tất cả đã đi hết. Cô bé chỉ còn lại một mình! Bên ngoài cửa, Joe Thompson, người thợ sửa xe, dừng lại và bảo với mụ vợ lão thợ rèn, người cũng đang vội vã đi ra.

 

“Thật tàn nhẫn khi bỏ mặc con bé như vậy”.

 

“Thế thì đem quách nó vào nhà tế bần đi, nó sẽ phải vào đó thôi”, mụ vợ lão thợ rèn trả lời, rồi quay đi, bỏ lại Joe phía sau.

 

Người đàn ông lúng túng trong giây lát, rồi ông quay lại, bước vào trong túp lều lần nữa. Maggie, với nỗ lực đau đớn, đang ngồi thẳng trên giường, hướng mắt ra phía cửa nơi mọi người đều đã bỏ đi. Một nỗi sợ hãi mơ hồ hiện lên trên khuôn mặt gầy gò trắng bệch của cô bé.

 

“Ôi, bác Thompson!”. Cô bé la lên, trong hơi thở đứt quãng, “Đừng để cháu lại đây một mình!”.

 

Dù bề ngoài trông thô lỗ, Joe Thompson, bác thợ sửa xe, vẫn có một trái tim, và  ở một số chỗ là một trái tim nhân hậu. Ông thích trẻ con, và rất vui mỗi khi chúng đến cửa hàng của ông, nơi đóng mới những chiếc trượt hay sửa chữa những chiếc xe ngựa cho các chàng trai trong làng mà không hề uổng phí một xu nào của chủ nhân.

 

 

“Không đâu, cháu yêu”, ông trả lời với giọng trìu mến, tiến về phía chiếc giường, và cúi xuống nhìn đứa bé, “cháu sẽ không bị bỏ lại một mình đâu”. Rồi ông choàng lên người cô bé, bằng một động tác nhẹ nhàng như của một người phụ nữ, chiếc khăn trải giường mà mấy người hàng xóm mang đến và nâng cô bé lên bằng đôi tay chắc khỏe, bế cô ra ngoài, băng qua cánh đồng nằm giữa nhà ông và túp lều dột nát.

 

 

Giờ thì, vợ của Joe Thompson, một người đàn bà tình cờ là vô sinh, không phải là một tâm hồn cao thượng, cũng không hề muốn hi sinh bản thân cho lợi ích của bất kỳ ai khác, và Joe hoàn toàn có cơ sở khi nghi ngờ về cách đón chào mà ông sắp nhận được khi về nhà. Bà Thompson đã quan sát ông qua cửa sổ và giận dữ nhìn chồng ở cách lối vào vài bước chân khi ông mở cổng bước vào. Ông đã mang về một gánh nặng quý hóa, ông cảm thấy như vậy. Khi cánh tay ông ôm chặt đứa bé đau yếu vào ngực mình, cảm giác dịu dàng tỏa ra từ người nó lan đi khắp người ông. Một sợi dây liên kết vô hình như cột chặt hai người lại với nhau, và tình thương trỗi dậy.

 

 “Ông đang ôm cái gì đấy?”. Bà Thompson hỏi sắc lịm.

 

Joe nhận thấy đứa bé trên tay giật mình và thu người lại. Ông không trả lời ngoài cái nhìn van nài và cảnh báo, tỏ ý nói rằng, “Đợi một chút để được giải thích và hãy tử tế”; và bước tiếp, mang Maggie vào căn phòng nhỏ trên tầng một và đặt cô bé xuống giường. Sau đó, ông đi ra, đóng cửa lại và đứng đối mặt với người vợ tính tình nóng nảy ở ngoài hành lang.

 

“Anh không mang về nhà cái thứ tật nguyền ấy chứ!”. Giọng nói của bà Joe Thompson đầy tức giận và kinh ngạc, khuôn mặt bà như đang bốc lửa.

“Anh nghĩ trái tim đàn bà đôi khi cứng như sắt đá vậy”. Joe nói. Bình thường Joe Thompson hoặc lãng tránh khỏi vợ, hoặc chỉ im lặng và không tranh cãi bất cứ điều gì mỗi khi bà khơi mào bất cứ vấn đề gì; vì vậy, bà thoáng ngạc nhiên khi bắt gặp vẻ mặt nghiêm nghị và đôi mắt cương quyết.

 

“Trái tim đàn bà dù cứng nhưng chưa bằng phân nửa trái tim của đàn ông!”.

 

Joe, bằng trực giác nhanh nhạy, nhận thấy thái độ cương quyết của ông đã gây ấn tượng với vợ, và ông trả lời lại ngay với sự phẩn nộ thực sự, “Cứ cho là thế đi, tất cả đàn bà trong đám tang đều dửng dưng nhìn con bé, và vội vã bỏ đi khi xe tang rời đi cùng với cỗ quan tài, để lại nó một mình trong túp lều, với mặt trời trên bầu trời chỉ trong chưa đầy một tiếng đồng hồ”.

 

“Còn John và Kate đâu?” Bà Thompson hỏi.

 

“Lão nông dân Jones đẩy John lên xe ngựa và phóng đi. Kate thì về nhà mụ Ellis, nhưng không ai muốn đứa trẻ bệnh tật đáng thương này cả. “Mang nó đến trại tế bần”, họ la lên như thế!”.

 

“Vậy sao anh còn chưa mang nó đi. Anh đem nó về đây làm gì?”.

 

“Con bé đâu thể đi bộ tới nhà tế bần,” Joe nói, “Phải có ai đó bồng nó trên tay và tay anh thì đủ khỏe cho chuyện đó”.

 

“Thế sao anh không tiếp tục mang nó đi? Sao phải dừng lại ở đây?”. Người vợ gạn hỏi.

 

“Bởi vì anh không muốn làm những việc vặt vãnh của một kẻ ngốc. Đầu tiên phải gặp người giám hộ đã, rồi mới xin giấy phép”.

 

Không có lời đáp lại.

 

“Khi nào thì anh đến gặp người giám hộ?”.

 

“Ngày mai”.

 

“Tại sao phải chờ đến ngày mai? Hãy đi lấy giấy phép ngay bây giờ và phủi tay hết tất cả trong tối nay”.

 

“Jane”, người thợ sửa xe nói, giọng đầy uy lực khiến vợ ông phải khuất phục, “Anh đã từng đọc trong Kinh thánh và thấy nhiều điều nói về những đứa trẻ. Về Chúa đã trách móc các môn đệ của mình thế nào khi họ không chịu đón nhận chúng; về Ngài đã ôm chúng trên tay và ban phước lành cho chúng như thế nào; và Ngài đã dạy rằng “Bất cứ ai đưa cho chúng dù chỉ một cốc nước lạnh thôi đều nên được ban thưởng”. Bây giờ, chúng ta chỉ có một việc nhỏ nhặt là cho đứa bé côi cút đáng thương này ở lại một đêm; chỉ một đêm yên ấm duy nhất trong đời nó thôi”.

 

Giọng của người đàn ông lực lưỡng, thô kệch bắt đầu run và ông phải quay mặt đi để giấu những giọt nước nơi khóe mắt. Bà Thompson không trả lời, nhưng bên trong bà đã trở nên mềm lòng.

 

“Hãy nhìn nó thật trìu mến, Jane ạ; nói với nó một cách thật dịu dàng,” Joe nói. “Hãy nghĩ tới bà mẹ đã khuất, và nỗi đau, nỗi cô đơn, nỗi bất hạnh trong cuộc đời sắp tới của con bé”. Lòng thương cảm đã khiến đôi môi ông thốt ra những lời nói đầy thuyết phục đến không ngờ.

 

Bà Thompson vẫn không nói năng gì, nhưng quay sang căn phòng nhỏ mà chồng bà đã đặt Maggie vào; và bà đẩy cửa, lặng lẽ bước vào. Joe không đi theo vợ, ông đã thấy, thái độ của bà đã thay đổi, ông nghĩ tốt nhất nên để bà ở lại một mình với đứa trẻ. Vì vậy ông ra lại cửa hàng, nó nằm gần nhà ông, và làm việc mãi đến khi màn đêm xuống giải phóng ông khỏi công việc. Ánh sáng hắt ra từ ô cửa sổ nhỏ của căn phòng là điều đầu tiên thu hút sự chú ý của Joe khi về đến nhà: đó là một điềm lành. Đường về nhà chạy ngang qua khung cửa sổ, và khi đối diện, ông không thể không dừng lại để ngó vào trong. Bên ngoài đã đủ tối để giúp ông bí mật quan sát. Maggie hơi nhổm dậy và dựa vào chiếc gối, khuôn mặt cô bé được cây đèn chiếu sáng. Bà Thompson thì đang ngồi cạnh giường, trò chuyện với đứa bé; bà quay lưng về phía cửa sổ nên không thể thấy mặt. Vì vậy, Joe phải suy đoán về cuộc trò chuyện của họ qua biểu cảm của Maggie. Ông thấy cô bé nhìn vợ ông rất chăm chú; thỉnh thoảng môi bé lại mấp máy như thể đang trả lời gì đó; khuôn mặt cô bé hiện lên vẻ buồn bã và tủi thân; nhưng tuyệt nhiên không có dấu hiệu của đau đớn và xót xa. Một tiếng thở phào nhẹ nhõm, hình như ông vừa trút được một gánh nặng trong tim.

 

Về đến nhà, Joe không đi ngay vào căn phòng nhỏ. Tiếng bước chân nặng nề trong bếp của ông khiến người vợ vội vã đi ra khỏi phòng nơi bà đã ở với Maggie. Joe nghĩ tốt nhất không nên nhắc đến cô bé hay bất cứ sự quan tâm nào có liên quan đến cô.

 

“Chừng nào mới có bữa tối thế?” Ông hỏi.

 

“Có ngay,” bà Thompson đáp và bắt đầu lăng xăng. Giọng bà không còn khó chịu nữa.

 

Sau khi đã rửa sạch bụi và đất đá trên mặt và hai tay, Joe ra khỏi bếp, đi vào căn phòng ngủ nhỏ. Đôi mắt sáng ngời ngước nhìn ông từ trên chiếc giường trắng tinh; ánh mắt trìu mến, biết ơn, van nài. Trái tim ông như muốn nhảy khỏi lồng ngực! Với tiếng tim đập rộn ràng và chuyển động nhanh hơn biết bao!! Joe ngồi xuống, giờ đây, lần đầu tiên, được nhìn kĩ hình hài nhỏ bé đó dưới ánh sáng ngọn đèn, ông thấy một khuôn mặt đáng yêu, vô cùng ngây thơ trong sáng mà không khổ đau nào xóa nhòa đi được.

 

“Cháu tên là Maggie?” Ông hỏi, vừa ngồi xuống vừa nắm lấy bàn tay mềm mại của cô bé.

 

“Vâng, thưa ông”. Tiếng cô bé vang lên du dương như một điệu nhạc.

 

“Cháu bị bệnh lâu chưa?”.

 

“Lâu rồi, thưa ông”. Giọng từ tốn của cô mới thật là dễ thương!

 

“Bác sĩ có đến khám cho cháu không?”.

 

“Ông ấy từng đến ạ”.

 

“Gần đây thì không ư?”.

 

“Không, thưa ông”.

 

“Cháu có đau không?”.

 

“Thỉnh thoảng ạ, nhưng giờ thì không”.

 

“Khi nào thì đau?”.

 

“Sáng nay hông cháu nhói và lưng cháu đau khi ông bế cháu”.

 

“Cháu đau mỗi khi được nhấc lên hoặc bị mang đi phải không?”.

 

“Vâng, thưa ông”.

 

“Hông cháu giờ không còn đau nhói chứ?”.

 

“Không, thưa ông”.

 

“Có đau nhiều lắm không?”.

 

“Có, thưa ông; nhưng nó không còn đau nữa từ khi cháu nằm trên chiếc giường êm ái này”.

 

“Chiếc giường êm ái này tuyệt lắm”.

 

“Ồ, vâng, thưa ông - rất tuyệt!”. Giọng cô bé không giấu sự hài lòng xen lẫn với lòng biết ơn!

 

“Bữa tối sẵn sàng rồi,” bà Thompson vừa nói vừa nhìn vào trong phòng một lúc sau đó.

 

 

Joe liếc nhìn từ khuôn mặt vợ mình sang khuôn mặt Maggie; bà hiểu ý, trả lời: “Con bé có thể chờ đến khi ta ăn xong, sau đó em sẽ mang cho nó cái gì đó”. Bà cố giữ giọng lãnh đạm, nhưng ông chồng đã thấy tất cả qua cửa sổ, nên ông hiểu rằng vẻ lạnh nhạt chỉ là cái vỏ bọc. Joe chờ đợi, sau khi họ ngồi vào bàn, cho đến khi vợ ông bắt đầu chủ đề mà cả hai đang nghĩ đến, nhưng bà vẫn im lặng, trong rất nhiều phút, ngược lại ông cũng thế. Cuối cùng, bà lên tiếng, rất đột ngột:

 

“Anh tính sao với đứa trẻ ấy?”.

 

“Anh tưởng là em đã hiểu con bé phải đến nhà tế bần rồi”, Joe đáp, như thể rất ngạc nhiên trước câu hỏi của vợ.

 

Bà Thompson ném về phía chồng một cái nhìn lạ lẫm rất nhanh, rồi lại cúi xuống. Câu chuyện đó không được nhắc lại nữa trong suốt bữa ăn. Sau bữa tối, bà Thompson nướng một khoanh bánh mì, làm mềm nó với bơ và sữa, kèm theo một tách trà, bà mang lên phòng cho Maggie, và cầm chiếc mâm nhỏ đặt thức ăn trên đó. đứng nhìn đứa trẻ ăn ngấu nghiến trong niềm sung sướng.

 

“Có ngon không?”. Bà Thompson hỏi khi thấy món ăn rất được ưa thích.

 

Cô bé dừng lại với tách trà trên tay, và trả lời bà bằng cái nhìn đầy lòng biết ơn sâu sắc như đánh thức lòng nhân hậu đã ngủ quên trong bà suốt chục năm qua.

 

“Chúng ta nên để con bé lại thêm một hai ngày nữa; nó quá yếu và bất lực,” bà Thompson nói, đáp lại lời nhắc của chồng vào bữa ăn sáng hôm sau, khi ông phải đi gặp người giám hộ của trại tế bần về việc của Maggie.

 

“Con bé sẽ làm phiền em nhiều lắm,” Joe đáp.

 

“Một hai ngày thì sẽ không phiền lắm đâu. Thật tội nghiệp!”.

 

Và Joe không hề đi gặp người giám hộ ngày hôm đó, và cả hôm sau hay bất cứ ngày nào sau đó. Thật vậy, ông không bao giờ đi nói chuyện với họ về Maggie nữa, vì chưa đầy một tuần sau bà Thompson đã bỏ ngay cái ý định mang con bé đến đó cũng nhanh như khi bà đòi ông phải mang Maggie đi vậy.

 

Đứa bé ốm yếu và bơ vơ ấy quả thật đã mang đến ánh sáng và phước lành cho gia đình Joe Thompson, người thợ sửa xe nghèo khó! Nơi đó đã từng rất tối tăm, lạnh lẽo và đầy khổ đau trong một thời gian dài chỉ vì vợ ông không có ai để yêu thương và quan tâm ngoại trừ bản thân bà, và vì thế người đàn bà ấy đã trở nên cao ngạo, khó chịu, gắt gỏng và tự giày vò mình trong cuộc sống quạnh hiu của chính bà. Giờ đây vẻ đáng yêu của cô bé, nhìn bà bằng tình yêu, kiên nhẫn và lòng biết ơn, như một thứ mật ngọt đổ vào tâm hồn bà, và bà mang hình ảnh cô bé trong tim cẩn thận như khi bồng cô trên tay, một thứ gánh nặng quý giá. Còn với Joe Thompson, không ông bạn hàng xóm nào được uống mỗi ngày thứ rượu quý nhất đời như ông. Một thiên thần đã hạ cố xuống mái ấm của ông, cải dạng như một em bé đau ốm bất hạnh và khổ đau, rồi sau đó lấp đầy ngôi nhà u ám của họ với ánh sáng của tình yêu thương.

 

                                           Phan Thiện Trì  dịch

                                                    Mar. 2022

 

An Angel in Disguise

                                                                               by T.S. Arthur

An Angel in Disguise (1851) was featured in Arthur's collection, After a Shadow and Other Stories. "The sweetness of that sick child, looking ever to her in love, patience, and gratitude, was as honey to her soul, and she carried her in her heart as well as in her arms, a precious burden."

Idleness, vice, and intemperance had done their miserable work, and the dead mother lay cold and still amid her wretched children. She had fallen upon the threshold of her own door in a drunken fit, and died in the presence of her frightened little ones.

Death touches the spring of our common humanity. This woman had been despised, scoffed at, and angrily denounced by nearly every man, woman, and child in the village; but now, as the fact of her death was passed from lip to lip, in subdued tones, pity took the place of anger, and sorrow of denunciation. Neighbors went hastily to the old tumble-down hut, in which she had secured little more than a place of shelter from summer heats and winter cold: some with grave-clothes for a decent interment of the body; and some with food for the half-starving children, three in number. Of these, John, the oldest, a boy of twelve, was a stout lad, able to earn his living with any farmer. Kate, between ten and eleven, was bright, active girl, out of whom something clever might be made, if in good hands; but poor little Maggie, the youngest, was hopelessly diseased. Two years before a fall from a window had injured her spine, and she had not been able to leave her bed since, except when lifted in the arms of her mother.

"What is to be done with the children?" That was the chief question now. The dead mother would go underground, and be forever beyond all care or concern of the villagers. But the children must not be left to starve. After considering the matter, and talking it over with his wife, farmer Jones said that he would take John, and do well by him, now that his mother was out of the way; and Mrs. Ellis, who had been looking out for a bound girl, concluded that it would be charitable in her to make choice of Katy, even though she was too young to be of much use for several years.

"I could do much better, I know," said Mrs. Ellis; "but as no one seems inclined to take her, I must act from a sense of duty expect to have trouble with the child; for she's an undisciplined thing--used to having her own way."

But no one said "I'll take Maggie." Pitying glances were cast on her wan and wasted form and thoughts were troubled on her account. Mothers brought cast-off garments and, removing her soiled and ragged clothes, dressed her in clean attire. The sad eyes and patient face of the little one touched many hearts, and even knocked at them for entrance. But none opened to take her in. Who wanted a bed-ridden child?

"Take her to the poorhouse," said a rough man, of whom the question "What's to be done with Maggie?" was asked. "Nobody's going to be bothered with her."

"The poorhouse is a sad place for a sick and helpless child," answered one.

"For your child or mine," said the other, lightly speaking; "but for tis brat it will prove a blessed change, she will be kept clean, have healthy food, and be doctored, which is more than can be said of her past condition."

There was reason in that, but still it didn't satisfy. The day following the day of death was made the day of burial. A few neighbors were at the miserable hovel, but none followed dead cart as it bore the unhonored remains to its pauper grave. Farmer Jones, after the coffin was taken out, placed John in his wagon and drove away, satisfied that he had done his part. Mrs. Ellis spoke to Kate with a hurried air, "Bid your sister good by," and drew the tearful children apart ere scarcely their lips had touched in a sobbing farewell. Hastily others went out, some glancing at Maggie, and some resolutely refraining from a look, until all had gone. She was alone! Just beyond the threshold Joe Thompson, the wheelwright, paused, and said to the blacksmith's wife, who was hastening off with the rest,--

"It's a cruel thing to leave her so."

"Then take her to the poorhouse: she'll have to go there," answered the blacksmith's wife, springing away, and leaving Joe behind.

For a little while the man stood with a puzzled air; then he turned back, and went into the hovel again. Maggie with painful effort, had raised herself to an upright position and was sitting on the bed, straining her eyes upon the door out of which all had just departed, A vague terror had come into her thin white face.

"O, Mr. Thompson!" she cried out, catching her suspended breath, "don't leave me here all alone!"

Though rough in exterior, Joe Thompson, the wheelwright, had a heart, and it was very tender in some places. He liked children, and was pleased to have them come to his shop, where sleds and wagons were made or mended for the village lads without a draft on their hoarded sixpences.

"No, dear," he answered, in a kind voice, going to the bed, and stooping down over the child, "You sha'n't be left here alone." Then he wrapped her with the gentleness almost of a woman, in the clean bedclothes which some neighbor had brought; and, lifting her in his strong arms, bore her out into the air and across the field that lay between the hovel and his home.

Now, Joe Thompson's wife, who happened to be childless, was not a woman of saintly temper, nor much given to self-denial for others' good, and Joe had well-grounded doubts touching the manner of greeting he should receive on his arrival. Mrs. Thompson saw him approaching from the window, and with ruffling feathers met him a few paces from the door, as he opened the garden gate, and came in. He bore a precious burden, and he felt it to be so. As his arms held the sick child to his breast, a sphere of tenderness went out from her, and penetrated his feelings. A bond had already corded itself around them both, and love was springing into life.

"What have you there?" sharply questioned Mrs. Thompson.

Joe, felt the child start and shrink against him. He did not reply, except by a look that was pleading and cautionary, that said, "Wait a moment for explanations, and be gentle;" and, passing in, carried Maggie to the small chamber on the first floor, and laid her on a bed. Then, stepping back, he shut the door, and stood face to face with his vinegar-tempered wife in the passage-way outside.

"You haven't brought home that sick brat!" Anger and astonishment were in the tones of Mrs. Joe Thompson; her face was in a flame.

"I think women's hearts are sometimes very hard," said Joe. Usually Joe Thompson got out of his wife's way, or kept rigidly silent and non-combative when she fired up on any subject; it was with some surprise, therefore, that she now encountered a firmly-set countenance and a resolute pair of eyes.

"Women's hearts are not half so hard as men's!"

Joe saw, by a quick intuition, that his resolute bearing had impressed his wife and he answered quickly, and with real indignation, "Be that as it may, every woman at the funeral turned her eyes steadily from the sick child's face, and when the cart went off with her dead mother, hurried away, and left her alone in that old hut, with the sun not an hour in the sky."

"Where were John and Kate?" asked Mrs. Thompson.

"Farmer Jones tossed John into his wagon, and drove off. Katie went home with Mrs. Ellis; but nobody wanted the poor sick one. 'Send her to the poorhouse,' was the cry."

"Why didn't you let her go, then. What did you bring her here for?"

"She can't walk to the poorhouse," said Joe; "somebody's arms must carry her, and mine are strong enough for that task."

"Then why didn't you keep on? Why did you stop here?" demanded the wife.

"Because I'm not apt to go on fools' errands. The Guardians must first be seen, and a permit obtained."

There was no gainsaying this.

"When will you see the Guardians?" was asked, with irrepressible impatience.

"To-morrow."

"Why put it off till to-morrow? Go at once for the permit, and get the whole thing off of your hands to-night."

"Jane," said the wheelwright, with an impressiveness of tone that greatly subdued his wife, "I read in the Bible sometimes, and find much said about little children. How the Savior rebuked the disciples who would not receive them; how he took them up in his arms, and blessed them; and how he said that 'whosoever gave them even a cup of cold water should not go unrewarded.' Now, it is a small thing for us to keep this poor motherless little one for a single night; to be kind to her for a single night; to make her life comfortable for a single night."

The voice of the strong, rough man shook, and he turned his head away, so that the moisture in his eyes might not be seen. Mrs. Thompson did not answer, but a soft feeling crept into her heart.

"Look at her kindly, Jane; speak to her kindly," said Joe. "Think of her dead mother, and the loneliness, the pain, the sorrow that must be on all her coming life." The softness of his heart gave unwonted eloquence to his lips.

Mrs. Thompson did not reply, but presently turned towards the little chamber where her husband had deposited Maggie; and, pushing open the door, went quietly in. Joe did not follow; he saw that, her state had changed, and felt that it would be best to leave her alone with the child. So he went to his shop, which stood near the house, and worked until dusky evening released him from labor. A light shining through the little chamber windows was the first object that attracted Joe's attention on turning towards the house: it was a good omen. The path led him by this windows and, when opposite, he could not help pausing to look in. It was now dark enough outside to screen him from observation. Maggie lay, a little raised on the pillow with the lamp shining full upon her face. Mrs. Thompson was sitting by the bed, talking to the child; but her back was towards the window, so that her countenance was not seen. From Maggie's face, therefore, Joe must read the character of their intercourse. He saw that her eyes were intently fixed upon his wife; that now and then a few words came, as if in answers from her lips; that her expression was sad and tender; but he saw nothing of bitterness or pain. A deep-drawn breath was followed by one of relief, as a weight lifted itself from his heart.

On entering, Joe did not go immediately to the little chamber. His heavy tread about the kitchen brought his wife somewhat hurriedly from the room where she had been with Maggie. Joe thought it best not to refer to the child, nor to manifest any concern in regard to her.

"How soon will supper be ready?" he asked.

"Right soon," answered Mrs. Thompson, beginning to bustle about. There was no asperity in her voice.

After washing from his hands and face the dust and soil of work, Joe left the kitchen, and went to the little bedroom. A pair of large bright eyes looked up at him from the snowy bed; looked at him tenderly, gratefully, pleadingly. How his heart swelled in his bosom! With what a quicker motion came the heart-beats! Joe sat down, and now, for the first time, examining the thin frame carefully under the lamp light, saw that it was an attractive face, and full of a childish sweetness which suffering had not been able to obliterate.

"Your name is Maggie?" he said, as he sat down and took her soft little hand in his.

"Yes, sir." Her voice struck a chord that quivered in a low strain of music.

"Have you been sick long?"

"Yes, sir." What a sweet patience was in her tone!

"Has the doctor been to see you?"

"He used to come."

"But not lately?"

"No, sir."

"Have you any pain?"

"Sometimes, but not now."

"When had you pain?"

"This morning my side ached, and my back hurt when you carried me."

"It hurts you to be lifted or moved about?"

"Yes, sir."

"Your side doesn't ache now?"

"No, sir."

"Does it ache a great deal?"

"Yes, sir; but it hasn't ached any since I've been on this soft bed."

"The soft bed feels good."

"O, yes, sir--so good!" What a satisfaction, mingled with gratitude, was in her voice!

"Supper is ready," said Mrs. Thompson, looking into the room a little while afterwards.

Joe glanced from his wife's face to that of Maggie; she understood him, and answered,--

"She can wait until we are done; then I will bring her somethings to eat." There was an effort at indifference on the part of Mrs. Thompson, but her husband had seen her through the window, and understood that the coldness was assumed. Joe waited, after sitting down to the table, for his wife to introduce the subject uppermost in both of their thoughts; but she kept silent on that theme, for many minutes, and he maintained a like reserve. At last she said, abruptly,--

"What are you going to do with that child?"

"I thought you understood me that she was to go to the poorhouse," replied Joe, as if surprised at her question.

Mrs. Thompson looked rather strangely at her husband for sonic moments, and then dropped her eyes. The subject was not again referred to during the meal. At its close, Mrs. Thompson toasted a slice of bread, and softened, it with milk and butter; adding to this a cup of tea, she took them into Maggie, and held the small waiter, on which she had placed them, while the hungry child ate with every sign of pleasure.

"Is it good?" asked Mrs. Thompson, seeing with what a keen relish the food was taken.

The child paused with the cup in her hand, and answered with a look of gratitude that awoke to new life old human feelings which had been slumbering in her heart for half a score of years.

"We'll keep her a day or two longer; she is so weak and helpless," said Mrs. Joe Thompson, in answer to her husband's remark, at breakfast-time on the next morning, that he must step down and see the Guardians of the Poor about Maggie.

"She'll be so much in your way," said Joe.

"I sha'n't mind that for a day or two. Poor thing!"

Joe did not see the Guardians of the Poor on that day, on the next, nor on the day following. In fact, he never saw them at all on Maggie's account, for in less than a week Mrs. Joe Thompson would as soon leave thought of taking up her own abode in the almshouse as sending Maggie there.

What light and blessing did that sick and helpless child bring to the home of Joe Thompson, the poor wheelwright! It had been dark, and cold, and miserable there for a long time just because his wife had nothing to love and care for out of herself, and so became sore, irritable, ill-tempered, and self-afflicting in the desolation of her woman's nature. Now the sweetness of that sick child, looking ever to her in love, patience, and gratitude, was as honey to her soul, and she carried her in her heart as well as in her arms, a precious burden. As for Joe Thompson, there was not a man in all the neighborhood who drank daily of a more precious wine of life than he. An angel had come into his house, disguised as a sick, helpless, and miserable child, and filled all its dreary chambers with the sunshine of love.

 

 

 

MUA RAO  - Hwang sun Won (uo) https://gtvh51.blogspot.com/2024/10/rao-sun-won-han-quoc-ngay-khi-cau-be.html