SSA42 GIAI NHÂN HAY HỔ DỮ ?
Frank Richard Stockton
Xưa thật là xưa có một vị vua bán khai, người mà tư tưởng tuy đã có phần trở nên tinh tế và sắc bén nhờ sự tiến bộ của các nước láng giềng Latin xa xôi ảnh hưởng đến, nhưng đó vẫn là một đầu óc phóng túng, bóng bẩy vì nửa con người ông là nguyên chất bán khai. Nhà vua có một trí tưởng tượng mãnh liệt, thêm vào đó là một quyền uy đến mức không thể cưỡng lại được, nếu muốn ông có thể biến trò chơi thay đổi khôn lường của trí tưởng tượng vốn rất dồi dào nơi ông thành hiện thực. Nhưng ông lại có khả năng tuyệt vời trong việc phân tích các hành động của mình, và một khi đã thuyết phục được bản thân thì không có gì ngăn ông khỏi việc thực hiện hành động đến cùng. Nếu mọi thành viên trong các hệ thống chính trị và quốc nội của ông vận hành theo đúng quỹ đạo đã vạch thì ông là người ôn tồn và vui vẻ; nhưng hễ có một trục trặc nhỏ và một vài hành tinh của ông đi lạc quỹ đạo thì ông lại càng ôn tồn và tốt bụng hơn. Bởi vì không có gì làm ông hài lòng bằng được thể hiện khả năng uốn thẳng những chỗ cong, san phẳng những chỗ gồ ghề của ông.
Trong số các ý niệm vay mượn làm tính man rợ của ông bớt đi một nửa là ý niệm dựng lên một vũ đài công cộng cho người và thú quyết đấu, qua đó nhằm thuần thục và tinh luyện tâm hồn của các thần dân.
Nhưng chính tại đó trí tưởng tượng dồi dào và đầy man rợ lại tự khẳng định mạnh nhất. Vũ đài của nhà vua được thiết lập không phải để cho nhân dân có cơ hội nghe thấy những sự biểu lộ nhiệt tình của các đấu sĩ đang giãy chết, cũng không phải để họ tận mắt thấy cái kết thúc tất yếu của sự xung đột giữa các quan điểm tôn giáo và những cái miệng đói khát, mà nhằm mục đích tốt đẹp hơn là mở rộng và phát triển năng lượng trí tuệ của nhân dân. Đấu trường rộng lớn với những hành lang bao quanh, những hầm ngầm bí ẩn, những lối đi không ai nhìn thấy, là nơi thưởng phạt công minh, ở đó tội ác bị trừng phạt hoặc đức hạnh được ban thưởng theo các sắc lệnh của một cơ may không thiên vị và liêm khiết.
Khi một thần dân nào đấy bị kết án phạm vào một trọng tội đủ khiến nhà vua quan tâm thì một bố cáo sẽ được phát ra rằng vào ngày đã định số phận của kẻ có tội sẽ được quyết định tại đấu trường của nhà vua, một công trình kiến trúc rất xứng với tên gọi này, bởi vì dù cho hình thức và thiết kế của nó là vay mượn từ phương xa, nhưng mục đích của nó hoàn toàn là từ đầu óc của con người này mà ra. Ông ta không coi trọng một truyền thống nào lớn hơn trí tưởng tượng của mình và đã đem lắp ghép sự phát triển phong phú của chủ nghĩa lý tưởng bán khai của mình vào mọi hình thức tư duy và hành động của con người.
Khi mọi người đã tụ tập trong các hành lang và đức vua được các triều thần hộ tống đã ngồi vào ngai vàng của triều đình, ông bèn ra hiệu, một cánh cửa phía dưới chỗ ông ngồi mở ra, kẻ bị kết tội bước ra vũ đài. Đối diện thẳng với hắn, ở phía bên kia của khoảng không gian khép kín, là hai cánh cửa giống hệt nhau nằm sát cạnh nhau. Chính bổn phận và đặc ân của người bị xét xử là phải đi đến chỗ hai cánh cửa đó và mở ra một cánh. Hắn có thể mở một trong hai cửa mà hắn muốn; hắn không phải chịu sự chỉ đạo hay tác động nào mà phụ thuộc vào cơ hội vô tư và liêm khiết đã nói trên. Nếu hắn mở một cửa, từ đấy một con hổ đói hung dữ và độc ác nhất trần đời sẽ lập tức nhào ra, nhảy bổ vào hắn, xé xác hắn ra làm trăm mảnh để trừng phạt tội lỗi của hắn. Khi số phận của kẻ tội phạm đã được kết liễu như vậy xong, những quả chuông sắt sẽ kêu rền rĩ, những tiếng than khóc từ những người khóc mướn ngồi ở rìa phía ngoài vũ đài vang lên, còn đám đông người xem thì cúi đầu buồn bã chậm chạp lê bước về nhà, lòng đầy xót thương cho một người trai trẻ hay một trưởng lão tôn kính đã chẳng may phải chịu một số phận thảm khốc đến thế.
Nhưng nếu kẻ tử tội mở cánh cửa kia thì từ đó sẽ bước ra một cô nương mà xét về tuổi tác và địa vị xã hội thì là người xứng đôi vừa lứa với hắn nhất so với tất cả phụ nữ mà quốc vương có thể lựa chọn, và với cô gái như một phần thưởng cho sự vô tội đó, người ta lập tức làm lễ cưới cho hắn. Dù hắn đã có vợ con hay đã đem lòng thương nhớ ai cũng mặc: đức vua không cho phép những chuyện lặt vặt như thế xen ngang vào kế hoạch thưởng phạt uy nghiêm mà ông ta đã vạch ra. Cũng như trong trường hợp kia, mọi chuyện lúc này tức khắc được thực hiện trên vũ đài. Dưới ngai vàng của đức vua lại có một cánh cửa nữa được mở ra, thầy tế lễ bước ra cùng dàn đồng ca và các thiếu nữ, do một vũ sư dẫn đầu, nhảy múa trong tiếng nhạc vang lừng của đội kèn vàng; tất cả những người này cùng bước đến chỗ đôi tân lang tân nương đang kề vai sát cánh bên nhau và nghi lễ đám cưới diễn ra nhanh chóng và tưng bừng. Khi đó những tiếng chuông vui vẻ thong thả ngân vang, dân chúng hân hoan tung hô lời chào mừng, kẻ vô tội dẫn cô dâu về nhà mình, đi trước là một đám trẻ rắc hoa đầy đường.
Đây là phương thức nửa văn minh nửa man rợ của nhà vua để thực thi công lý. Sự công bằng hoàn hảo ở đây là hiển nhiên. Kẻ tử tội không thể biết ở cửa nào cô dâu sẽ bước ra: hắn tùy ý mở một cửa mà không mảy may hình dung được là, trong giây lát, mình sẽ bị xé xác hay được làm lễ cưới. Đôi khi con hổ bước ra từ cửa này, đôi khi từ cửa khác. Các quyết định của pháp đình này không những công bằng mà còn có tính xác định tích cực: nếu kẻ bị buộc tội xác định là mình có tội thì tức khắc sẽ bị trừng phạt; còn nếu chứng tỏ mình vô tội thì anh ta được ban thưởng ngay tại chỗ, dù hắn có thích phần thưởng đó hay không. Không có cách gì tránh được phán quyết của vũ đài nhà vua.
Định chế này hết sức được ưa chuộng. Khi dân chúng tụ tập về một trong những ngày xử án trọng đại, không một ai biết sẽ được chứng kiến một cảnh tượng đổ máu rùng rợn hay một đám cưới vui nhộn. Yếu tố không chắc chắn này làm cho nghi lễ thêm phần hấp dẫn, điều không có được trong trường hợp ngược lại. Như vậy, dân chúng thì được vui thích và dễ chịu, còn thành phần có học thức của cộng đồng thì không thể buộc tội định chế đó là bất công được, bởi vì chẳng phải là kẻ tội phạm nắm toàn bộ vận mệnh mình trong tay đó sao?
Nhà vua bán khai này có một cô con gái với vẻ đẹp như bông hoa đang nở rực rỡ như đầu óc tưởng tượng muôn màu của ông, với một tâm hồn nhiệt thành và quyền uy như chính ông. Giống như trong mọi trường hợp thế này, nhà vua yêu quý cô như con ngươi của mắt mình, và yêu thương say đắm con mình hơn mọi thứ trên đời. Trong số các cận thần của ông có một chàng trai mà dòng máu thanh cao và địa vị thấp hèn đã coi ngang hàng với những vị anh hùng lãng mạn truyền thống, người mà đã đem lòng yêu con gái nhà vua. Nàng công chúa hoàn toàn bằng lòng với người yêu của mình, bởi vẻ đẹp trai và lòng dũng cảm của chàng vượt hơn tất cả những người khác trong vương quốc, nàng yêu chàng hừng hực, với tất cả sự nóng bỏng và mạnh mẽ nàng có được nhờ dòng máu bán khai mang trong mình. Mối tình hạnh phúc của họ kéo dài nhiều tháng cho đến một ngày tình cờ nhà vua phát hiện ra sự tồn tại của nó. Ông không chần chừ, cũng không nao núng trước việc phải làm trong dinh cơ. Chàng trai lập tức bị tống giam vào ngục; ngày xét xử chàng trên đấu trường được ấn định. Tất nhiên đây là một trường hợp đặt biệt quan trọng, nên cả nhà vua và toàn thể dân chúng đều náo nức quan tâm theo dõi những hoạt động và diễn biến của phiên toà này. Trước giờ chưa từng có chuyện như vậy xảy ra cả; hàng bao đời nay chưa hề có một thần dân nào lại dám cả gan yêu con gái vua. Về sau này những chuyện như thế trở thành bình thường, nhưng thời đó nó là chuyện không hề nhẹ, mới lạ và đáng kinh ngạc.
Người ta lục soát khắp các chuồng thú của cả vương quốc để tìm kiếm những con thú man dại, độc ác nhất, từ đó chọn ra một con thích hợp nhất cho đấu trường; và hàng ngũ của những cô thục nữ trẻ đẹp trên khắp đất nước cũng được lục tìm cẩn thận và các thẩm phán có thẩm quyền phán quyết để anh, chàng trai trẻ đó được nhận cô dâu xứng đáng nếu như số phận mỉm cười với chàng. Dĩ nhiên ai cũng biết rằng chàng trai bị buộc tội là không oan. Chàng đã yêu công chúa, và cả chàng cả nàng hay một ai đó khác cũng không có ý chối bỏ sự thật đó, nhưng nhà vua cũng không nghĩ đến việc cho phép bất cứ một sự kiện nào thuộc loại này can thiệp vào tiến trình xử phạt vốn làm ông thỏa mãn và thích thú cao độ. Dù kết cục là thế nào chăng nữa, chàng trai vẫn phải lên vũ đài, còn nhà vua thì sẽ rất thích thú khi ngồi theo dõi diễn biến quá trình xác định xem liệu chàng trai có phạm tội hay không trong việc tự ý yêu công chúa.
Ngày xét xử đã đến. Mọi người xa gần nô nức kéo đến, ngồi chật các hành lang vũ đài, còn đám đông không chen vào được thì tụ tập quanh các bức tường phía ngoài. Đức vua và các triều thần ngồi vào các chỗ của mình, đối diện với hai cánh cửa đôi, hai cánh cổng định mệnh, giống hệt nhau khủng khiếp.
Tất cả đã sẵn sàng. Hiệu lệnh được ban ra. Một cánh cửa phía dưới chỗ nhà vua ngồi mở rộng, và người yêu của công chúa bước ra vũ đài. Chàng trai cao lớn, điển trai, tóc vàng nhạt. Sự xuất hiện của chàng được chào đón bằng những tiếng hò la đầy thán phục lẫn lo âu. Một nửa số khán giả không biết sống giữa họ lại có một chàng trai hào hoa đến vậy. Thảo nào công chúa yêu chàng.. Thật là một điều khủng khiếp cho chàng khi phải đứng ở đây!
Khi tiến vào vũ đài, theo tục lệ, chàng trai quay người lại cúi chào nhà vua, nhưng chàng không nghĩ chút nào đến đấng chí tôn đó. Cặp mắt chàng nhìn xoáy vào nàng công chúa đang ngồi bên phải vua cha. Nếu như không phải bản tính còn mang nửa phần man rợ thì có lẽ nàng đã không đến đây; nhưng tâm hồn đam mê, cháy bỏng không cho phép nàng bỏ qua sự kiện khiến nàng rất đỗi quan tâm này. Ngay từ lúc biết rằng sắc lệnh của vua cha tuyên phạt người yêu của nàng trên đấu trường, suốt đêm ngày nàng không nghĩ gì khác ngoài sự kiện trọng đại đó và nhiều vấn đề khác nhau liên quan đến nó. Vốn sở hữu một quyền lực to lớn, một uy tín rộng rãi, một tính cách mạnh mẽ hơn bất kỳ ai khác trước đây từng quan tâm đến một vụ án như thế, nàng đã làm được một điều mà không ai làm được: nàng sở hữu cho mình bí mật các cánh cửa. Nàng biết trong phòng nào của hai phòng nằm phía sau cửa nào là chuồng hổ, còn phía sau cửa nào là cô dâu. Hai tấm cửa dày, bên trong lại phủ kín bằng những bộ da lông thú, không để cho một âm thanh, tín hiệu nào lọt được ra ngoài, vang được đến tai người đang bước tới gần nâng chốt cửa lên. Nhưng vàng bạc và sức mạnh của ý chí phụ nữ đã mang điều bí mật đó đến với công chúa.
Và nàng không những chỉ biết cánh cửa nào che giấu cô dâu ửng hồng tươi tắn sẵn sàng bước ra ngoài khi cửa được mở mà nàng còn biết cô gái đó là ai. Để ban thưởng cho kẻ tử tội, nếu chàng chứng tỏ được mình vô tội, người ta đã chọn một trong những cô gái xinh đẹp và quyến rũ nhất trong triều, và nàng căm ghét cô ta. Nàng nhận thấy, hay tưởng tượng rằng mình đã nhận thấy, cô gái xinh xắn đó ném ánh nhìn đầy ngưỡng mộ về người tình của nàng, đôi khi nàng phải cam chịu thừa nhận là dường như những cái nhìn đó không phải không được đáp lại. Thi thoảng nàng thấy họ có trò chuyện với nhau dù chỉ là thoáng chốc, nhưng trong một khoảng thời gian ngắn ngủi cũng có thể nói được nhiều điều; có thể đó là những điều không mấy quan trọng, nhưng làm sao nàng biết được? Cô gái trông là một tuyệt thế giai nhân, nhưng cô ta đã dám ngước mắt nhìn người tình của công chúa; và, với toàn bộ dòng máu hoang dại truyền thừa từ nhiều đời các tổ tiên thời còn mông muội, công chúa căm tức người con gái giờ đây đang run rẩy và ửng hồng ở phía sau cánh cửa đóng chặt im lìm.
Khi người yêu của nàng quay lại nhìn nàng, bốn mắt nhìn nhau khi nàng đang ngồi nhợt nhạt tái xanh hơn ai hết giữa cả biển người hồi hộp căng thẳng,, và chàng thấy – bằng một trực giác nhanh như chớp loé lên trong đầu óc mà chỉ những ai hòa quyện tâm hồn với nhau mới có được - nàng biết con hổ ở cửa nào, giai nhân ở cửa nào. Chàng nghĩ là nàng biết điều đó. Chàng hiểu tính cách của nàng, tâm hồn chàng tin chắc rằng công chúa sẽ không yên chừng nào chưa biết rõ điều này, cái điều mà hết thảy mọi người ngồi trên vũ đài, thậm chí nhà vua, đều không biết. Điều duy nhất chàng trai có thể hi vọng là công chúa biết được điều bí mật đó; và khi đưa mắt nhìn nàng, chàng hiểu là nàng đã biết được nó, y như trong tâm hồn mình chàng từng biết là nàng đã biết được nó.
Rồi chính cái nhìn nhanh chóng và khắc khoải của chàng đã đặt ra câu hỏi: “Cửa nào?”. Nó vọng đến chỗ nàng như thể chàng hét to lên từ chỗ chàng đang đứng. Không thể bỏ lỡ khoảnh khắc. Câu hỏi được hỏi một cách đột ngột; nó phải được đáp lại ngay lập tức.
Cánh tay phải của nàng đang đặt lên hàng lan can phủ nệm trước mặt. Nàng giơ tay, làm một cử động nhẹ rất nhanh về phía phải. Không ai ngoài người yêu của nàng thấy nàng. Mọi con mắt đều đang đổ dồn vào con người trên vũ đài.
Chàng quay lại và bằng những bước đi rắn chắc, nhanh nhẹn chàng băng qua khoảng không gian trống trải. Từng trái tim thắt lại, từng nhịp thở đều bị kìm hãm, từng ánh mắt đều dán chặt vào chàng. Không chút do dự, chàng bước lại cánh cửa bên phải và mở nó ra.
Bây giờ, mấu chốt câu truyện là đây: ai sẽ bước ra ngoài - con hổ hay cô dâu?
Bạn càng suy nghĩ về câu hỏi này càng thấy khó trả lời. Nó đòi hỏi phải nghiên cứu trái tim con người là cái luôn cuốn chúng ta vào những mê cung rắc rối của những đam mê mà không dễ tìm lối ra. Hãy suy nghĩ chuyện này đi, bạn đọc thân mến, chỉ có điều là giải pháp ở đây không tùy thuộc vào bạn, mà vào nàng công chúa bán khai hừng hực lửa tình, tâm hồn nàng đã bị nung đến cháy đỏ bởi ngọn lửa tuyệt vọng và ngọn lửa ghen tuông. Nàng đã mất chàng, nhưng ai sẽ được chàng đây?
Thường thường, lúc mơ cũng như lúc tỉnh, nàng run lên vì khủng khiếp và lấy tay che mặt mỗi khi nghĩ đến việc người tình của nàng mở cánh cửa nhốt con hổ đói dữ tợn ở trong.
Nhưng thường nàng thấy chàng ở bên cánh cửa khác nhiều hơn! Nàng nghiến răng giật tóc trong những cơn mơ cay đắng thấy chàng run lên mừng rỡ khi mở cánh cửa có cô dâu. Tâm hồn nàng xiết bao đau khổ khi thấy chàng lao đến gặp cô gái có đôi má ửng hồng, cặp mắt long lanh vui sướng vì số phận may mắn của mình; khi nàng thấy chàng dẫn cô gái bước ra, thân thể chàng tràn đầy niềm vui được sống lại; khi nàng nghe những tiếng hò reo hân hoan của đám đông, những tiếng chuông mừng rung vang cuồng nhiệt; khi nàng thấy thầy tư tế cùng đoàn hộ giá tưng bừng bước lại gần đôi trai gái tuyên bố họ là chồng là vợ ngay trước mặt nàng; và khi nàng thấy hai người sánh bước bên nhau trên con đường rải đầy hoa, trong tiếng reo hò vang dội của đám đông nhấn chìm nỗi tuyệt vọng cô đơn của nàng!
Giá như chàng chết ngay đi và đợi nàng ở những miền cực lạc của cuộc sống bán khai ở thế giới bên kia có phải tốt hơn không?
Nhưng con hổ dữ tợn, những tiếng gào rú, máu chảy xương rơi!
Để trả lời người tình nàng chỉ cần một giây, nhưng quyết định của nàng đã được đưa ra sau nhiều ngày đêm suy tính trong đau khổ. Nàng biết là nàng sẽ được hỏi, nàng đã quyết định câu trả lời cần thiết, và không mảy may do dự nàng đã khẽ cử động tay phải.
Câu hỏi về quyết định của nàng công chúa là câu hỏi không thể xem xét qua loa được, và tôi không có quyền tự nhận mình là người duy nhất có khả năng trả lời được nó. Vì thế tôi xin dành cho các bạn quyền trả lời: ai sẽ bước ra vũ đài - cô dâu hay con hổ?
Phan Thiện Trì dịch
Mar. 2022
(Tác giả của "The Lady, or the Tiger?" không tiết lộ cái nào ra khỏi cửa, người phụ nữ hay con hổ. Truyện ngắn của Frank R. Stockton thường được phân tích nhằm tìm ra manh mối về việc người phụ nữ hay con hổ bước qua cửa.
Câu cuối cùng của câu chuyện có người kể đặt câu hỏi: "Và vì vậy tôi để lại câu hỏi với tất cả các bạn: Con nào bước ra từ cánh cửa đã mở - quý bà, hay con hổ?" Nếu hổ ra khỏi cửa, người tình cũ của công chúa bị mắc kẹt sẽ bị giết ngay trước mắt hoàng gia. Nếu người phụ nữ bước ra khỏi cửa, người đàn ông sẽ sống hạnh phúc mãi mãi với người phụ nữ anh ta yêu hơn công chúa.)
(Quý bà hay con Hổ?" là một câu chuyện ngắn của Frank Stockton kể về một hình phạt bất thường được áp đặt bởi một vị vua bán man rợ, trong đó bị cáo phải lựa chọn giữa hai cánh cửa. Phía sau một cánh cửa là một thiếu nữ và phía sau cánh cửa kia là một con hổ. Nhân vật chính là người yêu của công chúa. Biết được điều gì ẩn sau cánh cửa, cô ra hiệu cho anh biết cánh cửa nào sẽ mở.
Đoạn đầu câu chuyện kể chi tiết về sự trừng phạt của nhà vua. Người đàn ông đứng trong đấu trường một mình. Nếu anh ta chọn cửa với người phụ nữ, anh ta được tuyên bố vô tội và tự do, nhưng phải lập tức kết hôn với người phụ nữ. Nếu anh ta chọn cửa có con hổ đói, anh ta ngay lập tức bị ăn thịt. Người yêu của cô biết rằng công chúa đã phát hiện ra những thứ bên trong cánh cửa, và anh ta nhìn cô để chỉ đường. Không do dự, cô chỉ ra cánh cửa mà anh ta nên mở. Nếu cô ấy chỉ cửa với người con gái, cô ấy phải nhìn người đàn ông cô ấy yêu kết hôn với một người phụ nữ mà cô ấy coi thường. Nếu cô ấy dẫn người đàn ông đến với con hổ, cô ấy phải nhìn anh ta bị xé ra từng mảnh. Cuối cùng, tác giả không giải đố mà để lại cho người đọc.
THE LADY OR THE TIGER ?
Frank Richard Stockton
IN the very olden time, there lived a semi-barbaric king, whose ideas, though somewhat polished and sharpened by the progressiveness of distant Latin neighbors, were still large, florid, and untrammelled, as became the half of him which was barbaric. He was a man of exuberant fancy, and, withal, of an authority so irresistible that, at his will, he turned his varied fancies into facts. He was greatly given to self-communing; and, when he and himself agreed upon any thing, the thing was done. When every member of his domestic and political systems moved smoothly in its appointed course, his nature was bland and genial; but whenever there was a little hitch, and some of his orbs got out of their orbits, he was blander and more genial still, for nothing pleased him so much as to make the crooked straight, and crush down uneven places.
Among the borrowed notions by which his barbarism had become semified was that of the public arena, in which, by exhibitions of manly and beastly valor, the minds of his subjects were refined and cultured.
But even here the exuberant and barbaric fancy asserted itself. The arena of the king was built, not to give the people an opportunity of hearing the rhapsodies of dying gladiators, nor to enable them to view the inevitable conclusion of a conflict between religious opinions and hungry jaws, but for purposes far better adapted to widen and develop the mental energies of the people. This vast amphitheatre, with its encircling galleries, its mysterious vaults, and its unseen passages, was an agent of poetic justice, in which crime was punished. Or virtue rewarded, by the decrees of an impartial and incorruptible chance.
When a subject was accused of a crime of sufficient importance to interest the king, public notice was given that on an appointed day the fate of tile accused person would be decided in the king's arena,--a structure which well deserved its name; for, although its form and plan were borrowed -from afar, its purpose emanated solely from the brain of this man, who, every barleycorn a king, knew no tradition to which he owed more allegiance than pleased his fancy, and who ingrafted on every adopted form of human thought and action the rich growth of his barbaric idealism.
When all the people had assembled in the galleries, and the king, surrounded by his court, sat high up on his throne of royal state on one side of the arena, he gave a signal, a door beneath him opened, and the accused subject stepped out into the amphitheatre. Directly opposite him, on the other side of the enclosed space, were two doors, exactly alike and side by side. It was the duty and the privilege of the person on trial, to walk directly to these doors and open one of them. He could open either door he pleased: he was subject to no guidance or influence but that of the aforementioned impartial and incorruptible chance. If he opened the one, there came out of it a hungry tiger, the fiercest and most cruel that could be procured, which immediately sprang upon him, and tore him to pieces, as a punishment for his guilt. The moment that the case of the criminal was thus decided, doleful iron bells were clanged, great wails went up from the hired mourners posted on the outer rim of the arena, and the vast audience, with bowed heads and downcast hearts, wended slowly their homeward way, mourning greatly that one so young and fair, or so old and respected, should have merited so dire a fate.
But, if the accused person opened the other door, there came forth from it a lady, the most suitable to his years and station that his majesty could select among his fair subjects; and to this lady he was immediately married, as a reward of his innocence. It mattered not that he might already possess a wife and family, or that his affections might be engaged upon an object of his own selection: the king allowed no such subordinate arrangements to interfere with his great scheme of retribution and reward. The exercises, as in the other instance, took place immediately, and in the arena. Another door opened beneath the king, and a priest, followed by a band of choristers' and dancing maidens blowing joyous airs on golden horns and treading an measure, advanced to where the pair stood side by side; and the wedding was promptly and cheerily solemnized. Then the gay brass bells rang forth their merry peals, the people shouted glad hurrahs, and the innocent man, preceded by children strewing flowers on his path, led his bride to his home.
This was the king's semi-barbaric method of administering justice. Its perfect fairness is obvious. The criminal could not know out of which door would come the lady: he opened either he pleased, without having the slightest idea whether, in the next instant, he was to be devoured or married. On some occasions the tiger came out of one door, and on some out of the other. The decisions of this tribunal were not only fair, they were positively determinate: the accused person was instantly punished if he found himself guilty; and, if innocent, he was rewarded on the spot, whether he liked it or not. There was no escape from the judgments or the king's arena.
The institution was a very popular one. When the people gathered together on one of the great trial days, they never knew whether they were to witness a bloody slaughter or a hilarious wedding. This element of uncertainty lent an interest to the occasion which it could not otherwise have attained. Thus, the masses were entertained and pleased, and the thinking part of the community could bring no charge of unfairness against this plan; for did not the accused person have the whole matter in his own hands?
This semi-barbaric king had a daughter as blooming as his most florid fancies, and with a soul as fervent and imperious as his own. As is usual in such cases, she was the apple of his eye, and was loved by him above all humanity. Among his courtiers was a young man of that fineness of blood and lowness of station common to the conventional heroes of romance who love royal maidens. This royal maiden was well satisfied with her lover, for he was handsome and brave to a degree unsurpassed in all this kingdom; and she loved him with an ardor that had enough of barbarism in it to make it exceedingly warm and strong. This love affair moved on happily for many months, until one day the king happened to discover its existence. He did not hesitate nor waver in regard to his duty in the premises. The youth was immediately cast into prison, and a day was appointed for his trial in the king's arena. This, of course, was an especially important occasion; and his majesty, as well as all the people, was greatly interested in the workings and development of this trial.
Never before had such a case occurred; never before had a subject dared to love the daughter of a king. In after-years such things became commonplace enough; but then they were, in no slight degree, novel and startling.
The tiger-cages of the kingdom were searched for the most savage and relentless beasts, from which the fiercest monster might be selected for the arena; and the ranks of maiden youth and beauty throughout the land were carefully surveyed by competent judges, in order that he, young man, might have a fitting bride in case fate did not determine for him a different destiny. Of course, everybody knew that the deed with which the accused was charged had been done. He had loved the princess, and neither he, she, nor any one else thought of denying the fact; but the king would not think of allowing any fact of this kind to interfere with the workings of the tribunal, in which he took such great delight and satisfaction. No matter how the affair turned out, the youth would be disposed of; and the king would take an aesthetic pleasure in watching the course of events, which would determine whether or not the young man had done wrong in allowing himself to love the princess.
The appointed day arrived. From far and near the people gathered, and thronged the great galleries of the arena; and crowds, unable to gain admittance, massed themselves against its outside walls. The king and his court were in their places, opposite the twin doors,--those fateful portals, so terrible in their similarity.
All was ready. The signal was given. A door beneath the royal party opened, and the lover of the princess walked into the arena. Tall, beautiful, fair, his appearance was greeted with a low hum of admiration and anxiety. Half the audience had not known so grand a youth had lived among them. No wonder the princess loved him! What a terrible thing for him to be there!
As the youth advanced into the arena, he turned, as the custom was, to bow to the king: but he did not think at all of that royal personage; his eyes were fixed upon the princess, who sat to the right of her father. Had it not been for the moiety of barbarism in her nature, it is probable that lady would not have been there; but her intense and fervid soul would not allow her to be absent on an occasion in which she was so terribly interested. From the moment that the decree had gone forth, that her lover should decide his fate in the king's arena, she had thought of nothing, night or day, but this great event and the various subjects connected with it. Possessed of more power, influence, and force of character than any one who had ever before been interested in such a case, she had done what no other person had done, - she had possessed herself of the secret of the doors. She knew in which of the two rooms, that lay behind those doors, stood the cage of the tiger, with its open front, and in which waited the lady. Through these thick doors, heavily curtained with skins on the inside, it was impossible that any noise or suggestion should come from within to the person who should approach to raise the latch of one of them; but gold, and the power of a woman's will, had brought the secret to the princess.
How often, in her waking hours and in her dreams, had she started in wild horror, and covered her face with her hands, as she thought of her lover opening the door on the other side of which waited the cruel fangs of the tiger!
But how much oftener had she seen him at the other door! How in her grievous reveries had she gnashed her teeth, and torn her hair, when she saw his start of rapturous delight as he opened the door of the lady! How her soul had burned in agony when she had seen him rush to meet that woman, with her flushing cheek and sparkling eye of triumph; when she had seen him lead her forth, his whole frame kindled with the joy of recovered life; when she had heard the glad shouts from the multitude, and the wild ringing of the happy bells; when she had seen the priest, with his joyous followers, advance to the couple, and make them man and wife before her very eyes; and when she had seen them walk away together upon their path of flowers, followed by the tremendous shouts of the hilarious multitude, in which her one despairing shriek was lost and drowned!
Would it not be better for him to die at once, and go to wait for her in the blessed regions of semi-barbaric futurity?
And yet, that awful tiger, those shrieks, that blood!
Her decision had been indicated in an instant, but it had been made after days and nights of anguished deliberation. She had known she would be asked, she had decided what she would answer, and, without the slightest hesitation, she had moved her hand to the right.
The question of her decision is one not to be lightly considered, and it is not for me to presume to set myself up as the one person able to answer it. And so I leave it with all of you: Which came out of the opened door, - the lady, or the tiger?