Thứ Hai, 7 tháng 3, 2022

 SSD02 AMSTERDAM STORIES : NHÀ THƠ NHỎ -Nescio

NHÀ THƠ NHỎ                                                                                                                                                 

                                                                                                   

                                                         Nescio

 

Hai lần Thượng Đế của Hà Lan lắc chiếc đầu đáng tôn kính và hai lần mái tóc kiểu sườn cừu chẻ đôi dài cắt tỉa tỉ mỉ đáng kính lướt qua lướt lại trên áo vest của ông. Thật không đáng tin lắm. Chắc có sự nhầm lẫn nào đây. Một nhà thơ không có tóc, điều đó thật kỳ lạ. Vị Thượng Đế Hà Lan này đã không quan tâm nhiều đến các nhà thơ khác trong ba mươi năm qua. Bạn không còn biết phải nói gì về họ. Đáng tôn kính hay không xứng đáng để tôn kính đây? Không thể nói được. 

“Ông nói ông đã được lắp đầy với tôi. Điều đó đã từng được mặc định trước”.

Thượng Đế Hà Lan thở dài. Người sẽ phải thảo luận việc đó với một nhà thơ thực thụ vào ngày mai. Có lẽ với thi sĩ Potgieter. Những ngày này ông không có gì ngoại trừ những lo lắng trong đầu.

 

Một cô gái đang đi dọc theo đường Leisestraat. Thượng Đế nhìn xuống cô với sự hài lòng của một người cha. Cô gái ấy giống như hằng trăm cô gái khác vào mùa hè năm đó, tất cả các cô gái đều mặc toàn màu trắng, áo lụa váy ngắn dệt kim, và tất trắng, mắt cá chân nhỏ thanh tú, giày đế bằng màu trắng, cô có đôi mắt đáng yêu như hàng trăm cô gái khác ở Amsterdam. Đôi mắt có vẻ như biết điều gì đó rất đặc biệt. Họ không thích điều đặc biệt đó. Thượng đế kính yêu của chúng ta chưa bao giờ nghĩ về điều đó trước đây. Nhưng bây giờ nó đã làm phiền anh. Nó bắt đầu bằng một câu thơ về “đôi mắt hiểu biết”, và rồi một trong số họ nói rằng tất cả chỉ là một mánh khoé, một mánh khoé ngoan đạo của Thượng Đế. Rằng họ không biết bất cứ điều gì, họ chỉ làm ra vẻ họ biết, họ không thể làm gì khác hơn được. Chúa chưa bao giờ nghĩ về điều đó trước đây.

Bây giờ họ đã khiến cho anh ta phải suy nghĩ về mọi thứ. Và điều quan trọng là phải giữ tập trung. Chính Kaiser đã nói lại điều đó, chỉ mới gần đây: “Der Tuchtigkeit ist die Welt”./Thế giới là của Hoạt động”.

Nhưng một khi bạn bắt đầu phân vân về một điều gì đó, bạn sẽ không dễ dàng dừng lại. Vì lúc bấy giờ khi anh ta chú ý, anh thấy hàng trăm, hàng ngàn cô gái đó, mỗi người một vẻ, và mọi người đều giống nhau. Đôi khi anh ta không còn biết liệu anh ta đã thấy mười ngàn cô gái hay một cô gái mười ngàn lần. “Chúa trên Thiên đàng, có phải Người đã tạo ra tất cả những cô gái này không? Hay đó là trò lừa của quỉ dữ, tất cả những đôi mắt hiểu biết đó?”

 

Trông kìa, một nhà thơ nhỏ bé. Bạn phải thừa nhận là một thanh niên điển trai: gầy, với khuôn mặt trẻ con, râu ria được cạo sạch sẽ, thanh tú ngoại trừ đôi hoa tai hình trụ đỡ đu đưa trước hai tai, và da khá sạm nắng.

Anh chào ai đó, nghiêng chiếc mũ rơm một phần nhỏ bên trên mái tóc cắt sát của anh. Kỳ lạ - mái tóc rất ít – nhưng chắc chắn đó là một nhà thơ nhỏ bé vì Chúa không thể hình dung ra anh ta, hay Potgieter cũng vậy. Và giáo sư Volmer cũng không muốn có bất cứ thứ gì liên quan đến anh ta.

Chính anh là người đã chịu đựng khủng khiếp từ những đôi mắt hiểu biết đó nhiều hơn bất cứ những người thẳng thắn ngoan hiền nào khác. Quỉ dữ đã bắt anh ta nằm trong nanh vuốt của nó. Anh ta là một nhà thơ bé nhỏ, yếu đuối và chúng khiến anh phát điên. Anh được kính trọng vì sự yếu đuối đó. Một điều kỳ lạ khác mà Đức Chúa chưa từng nghĩ trước đây – đáng kính trọng là đáng kính trọng – chấm hết.  Nhà thơ nhỏ không biết mình nên yêu người nào. Vừa khi anh nhìn vào một cặp mắt hiểu biết thì anh thấy đôi mắt khác. Anh quá yếu đuối, yếu đuối một cách kỳ lạ. Nhưng khi anh thấy đến cô gái thứ hai mươi lăm, anh cảm thấy có một thứ gì đấy là lạ trong bộ óc của anh. Anh đã đá vào một chiếc ghế trên vỉa hè khi đi ngang qua một quán cà phê. Vì anh biết khá rõ rằng họ không biết điều gì, rằng họ bật ra những tiếng cười khúc khích đầy xuẩn ngốc mỗi khi anh ngã mũ về phía họ, hoặc chỉ nhìn chăm chăm vào anh, làm toát lên vẻ kiêu căng của các thiếu phụ trẻ thuộc giai cấp tiểu tư sản. Và anh vẫn không để yên cho họ. Sau đó, anh phải chạy trốn đến một nơi không có phụ nữ, và cũng nổi giận chống lại Chúa và quỷ dữ nữa, và anh ta nói rằng anh sẽ kết thúc như một kẻ mất trí ở mức độ này và ngồi thèm nhỏ dãi với miệng há hốc, với yếm dãi bằng da thục trên người hằng nhiều năm mà không hề nhận biết. Nhưng ngày hôm sau anh nhìn lại và nghĩ: “Mon âme prend  son elan vers l’infini” (Tâm hồn tôi lấy đà hướng về vô tận).

Potgieter nói rằng anh chàng bị điên và điều đó trở lại ngày Piet Hein ….

 

Nhà thơ nhỏ đi qua những vùng đất hoang của Amsterdam, sáng tác thi ca trên suốt nẻo đường. Không có gì ngoại trừ những người Hà Lan mà mắt thường có thể nhìn thấy. Một lần nữa, anh chào một người nào đó, một người đàn ông lịch thiệp, đội mũ chóp, áo đuôi tôm và đứng thẳng người như trong vở kịch của Eduard Verkade. Họ nói vắn tắt vài câu, ở đó trên quảng trường trước Nhà Ga Trung Tâm.

 

Ở tầng trệt, Thượng Đế Hà Lan đã đến đang đi dạo trong chiếc mũ Panama màu vàng, với chiếc gậy chống cán bạc và chiếc áo khoác mòn sờn màu nâu không thể định rõ được, khoác hờ hững trên lưng, cổ áo có gàu rớt xuống từ da đầu, quần tây quá rộng và quá dài, chụm vào mũi giày. Bạn có thể thấy bộ râu quai nón kiểu sườn cừu chẻ dài cắt tỉa công phu của anh từ phía sau, khi anh từ từ bước lên hai bậc tam cấp vào tiền sảnh nhà ga. Mặt trời buổi tối xuống thấp trong bầu trời, toả ánh sáng yếu ớt lên chiếc giày bên trái được đánh bóng của Thượng Đế Hà Lan.

“Quý ông đó là ai?” nhà thơ nhỏ hỏi. “

“Thượng Đế đó” quỷ dữ nói, những nốt ruồi nhỏ trên trán trở nên lớn hơn. Nhà thơ nhỏ không nói gì. Thượng Đế của bạn, Thượng Đế của sếp bạn, Thượng Đế  của bố vợ bạn, và Thượng Đế của kế toán của sếp bạn, và Thượng Đế của người quản lý của Nieuwe Karseboom, dì của bạn, người đã bảo bạn phải ngã mũ chào khi đi bộ ngang qua nhà của sếp bạn ở Delft, hoặc ở Oldenzaal, hoặc bất cứ nơi đâu, ngay cả khi không có ai ở đó, bởi vì bạn không bao giờ biết liệu ai đó có thể nhìn thấy hay không. Dì của bạn, người luôn bắt chị  bạn phải đan móc, thêu thùa: “một người phụ nữ nhàn rỗi là đồ chơi của quỷ”. Thượng Đế của tất cả những ai nói rằng “tôi chưa từng mong đợi bất cứ điều gì ở bạn khi bạn cố sống một chút, và người nói ‘tôi cũng nghĩ vậy,’ điều đó chắc chắn sẽ kết thúc một cách tồi tệ, khi bạn kết thúc trong ngôi nhà tồi tàn sau đó. Thượng Đế phẩn nộ khi cho rằng bạn đã có một ngày thứ Bảy nghỉ việc, Thượng Đế  của giáo sư Volmer, giảng viên ngành kế toán và kinh doanh, người đã nghĩ rằng  bạn bỏ ra quá nhiều thời gian để nhìn lên bầu trời. Thượng Đế của mọi người, người mà không có sự lựa chọn nào khác ngoài công việc hoặc sự buồn chán. Thượng Đế của đất nước và con người Hà Lan, từ trảng rừng Surhuis xuống vùng đất hoang Spekholz, người bảo trợ và là ân nhân của Liên Minh những Người đứng đầu các Đại Gia đình và Hiệp hội Cải tạo Phụ nữ sa ngã. Họ gọi là tình trạng suy thoái, và tôi cũng bị ngã nữa”.

“Đó không phải là phép ẩn dụ chính xác, bạn nói đúng,” nhà thơ nhỏ nói một cách lơ đãng”.

Từ nãy đến giờ anh vẫn nhìn vào một người phụ nữ  đang đứng đó chờ đợi. Ở những đường gân sắc cạnh trên mắt cá chân của cô ấy, ngay bên trên đôi giày đế bằng màu trắng. Tất nhiên là cô ấy mang đôi giày đế bằng màu trắng với một chiếc váy ngắn và đôi bít tất dài được dệt thưa kinh khủng để đôi chân trắng nõn nà của cô lấp lánh xuyên qua.

“Bây giờ không phải là thời điểm xấu để sa ngã,” nhà thơ nhỏ nghĩ.

“Mon âme prend  son elan vers l’infini” (Tâm hồn tôi lấy đà hướng về vô tận), tên ác quỷ nói với một nụ cười mỉa mai, như cái cách mà hắn đã giữ nụ cười muôn thuở.

Nhà thơ nhỏ sau đó lại nhìn thấy quảng trường trước nhà ga, nhìn thấy quỷ dữ, và nghe những gì hắn đã nói.

“Ác quỷ,” nhà thơ nhỏ nói, “đừng cố lừa tôi”.

Tên quỷ dữ chỉ nhún vai và nhìn đồng hồ nhà ga. Bảy giờ mười phút. Anh đưa tay che miệng và ngáp dài. 

Tính vĩnh cữu sẽ không đi đâu cả. Sự thật là anh đã biết quá nhiều về nhà thơ nhỏ. Tại sao lại phải đưa ra những bài phát biểu lớn như thế?”

Nhà thơ nhỏ lên đường trở về nhà và ngước nhìn lên bánh xe với đôi cánh nhỏ bé trên rào chắn của cây cầu đường sắt trên cao bắc ngang qua lối đi phía Tây, bánh xe trên trụ sắt nhỏ muốn tung bay mãi mà không bao giờ rời khỏi chỗ của nó và có thể được nhìn thấy từ những nơi xa xôi mà nó chưa từng tới, ngay cả ở Torensluis, nhìn lên Singel. Bầu trời xanh vẫn xa một cách vô vọng bên trên nó. Ngay cả những cột đèn ở hai đầu cầu cũng giữ những ngọn đèn vòng cung của chúng cao trên bánh xe nhỏ. Không có gì nhiều để bạn có thể làm nếu bạn trèo lên trụ sắt nhỏ trên một cây cầu đường sắt. Tốt nhất bạn có thể ngồi đó và suy ngẫm, và điều đó chẳng đưa bạn đến đâu cả. Nhà thơ nhỏ nghĩ rằng thật tốt hơn để làm một bánh xe nhỏ trên trụ cột còn hơn là làm một nhà thơ nhỏ. Bánh xe được làm bằng sắt, nhà thơ nhỏ thì không phải là thép được tôi luyện thành. Trong khi đó Thượng Đế ngồi một mình trong toa hạng nhất của chuyến tàu đến Delft, đang nhìn chăm chăm ra cửa sổ và không thấy gì cả. Anh chưa từng đi tham quan nhiều. Anh cầm một bản báo cáo trong tay và những tập tài liệu nằm cạnh anh ta trên ghế ngồi.

Thượng Đế Hà Lan nghĩ. Đây là những thời điểm kỳ lạ. Người bắt đầu đọc: “Số phận của con người là cảm thấy hối tiếc khi không đạt được mục đích và cũng cảm thấy hối tiếc khi thành công.

“Không có sự an ủi nào trong đức hạnh và không có sự an ủi nào trong tội lỗi.

“Vì vậy hãy vui vẻ từ bỏ mọi mong đợi. Hãy đặt hy vọng của bạn vào sự vĩnh cữu: không có sự tỉnh thức nào trong giấc mộng này”.

Đây là những thời điểm thực sự rất kỳ lạ. Không thể có kết cục tốt đẹp. Bây giờ Thượng Đế đã đi và nói rằng một thời đại mới đã ló dạng. Thời của chủ nghĩa Ham thích nghệ thuật châm biếm đã qua, một thời đại mới của chủ nghĩa Lạc quan Tiên phong và Sức sống Năng động đã bắt đầu. Đó là những gì anh ta đã nói lúc ra đi. Và rồi, với một tiếng thở dài, Thượng Đế đã quay lại bản thảo của một cuốn sách dày về Các Nguyên Tắc Quản lý Khoa học của Taylor và bắt đầu đọc.

Nhà thơ nhỏ chưa bao giờ gục ngã. 

Để trở thành một thi sĩ vĩ đại, rồi sau đó sụp đổ: khi nhà thơ nhỏ nghĩ về những gì anh ta thực sự muốn hơn hết là thế đó. Để làm cho thế giới kinh ngạc, chỉ một lần, và chỉ một lần có quan hệ tình cảm với một nữ thi sĩ. Anh ta nghĩ đi nghĩ lại điều này nhiều năm, anh ta quá ngây thơ.

Nhà thơ nhỏ long trọng kết hôn với một phụ nữ trẻ đáng yêu, chân thật, hoạt bát, Dĩ nhiên anh ta đã bị tiếng sét ái tình ngay khi anh bắt đầu nhìn ra thế giới. Buổi sáng anh nhìn thấy cô khi anh đi bộ đến văn phòng và cô đến trường; buổi chiều vào lúc một giờ mười lăm, trong suốt “giờ thị trường” khi thị trường chứng khoán đến phiên, và rồi anh được phép ra khỏi văn phòng và cô đang ra khỏi cửa hàng sữa, nơi cô ăn bánh mì kẹp thịt, uống một ly sữa và đôi lúc dùng bánh kem hay một miếng bánh nhân táo với kem đánh bông, bánh săng- uých của cô.

Và cô ta phát tức điên lên vì anh ta luôn đứng đó như thế, anh ta chỉ đơn giản là kẻ lố bịch. Các cô gái khác gọi anh là “Ngài Đúng mốt” bởi vì anh ấy mặc áo choàng ngắn tay và mái tóc đen đẹp như thế (hồi đó anh không mặc kiểu áo ngắn tay như thế), và họ nhìn anh khi họ đi ngang qua, ba người trong số họ tay trong tay, chỉ nhìn một giây rồi cười khúc khích với nhau. Hai cô gái đi hai bên nghiêng đầu vào cô gái đi giữa, đang nhìn xuống đất cũng cười khúc khích. Nhưng khi cô đi ngang qua một cách đàng hoàng, không bao giờ nhìn anh và bảo với Mien Bus rằng anh ta đã đến vì cô, vì Mien, và rồi cả ba cười lớn vì họ biết rõ hơn. Cô giậm đôi bàn chân nhỏ nhắn cô nữ sinh mười bảy tuổi của mình trên mặt đất. “Vì tôi? Sởn gai ốc?” và cô quay đầu lại. 

Anh ấy không vui. Anh nhìn đồng hồ. Mười một giờ đêm rồi, và anh nhìn lên bầu trời. Chính xác là từ một giờ rưỡi chiều đến tám giờ ba mươi sáng. Và anh đã làm thơ. Anh đã sáng tác những bài thơ mô phỏng theo Heine, bằng tiếng Hà Lan và tiếng Đức, những bài thơ phỏng theo Hélene Swarth và Kloos và Van Eaden.

 

                                                GIỜ GIẤC 

          Thời giờ trôi đi một cách nặng nề biết bao với dáng đi trầm mặc!

 

             NHỮNG NGƯỜI THAM GIA CUỘC VIỄN CHINH CHỮ THẬP 

                      (bài này bằng tiếng Đức).     

 

Bên dưới, Thành phố Thánh linh thiêng

Trải rộng trong tất cả sự vinh quang của nó 

Đó là nàng 

Thật không may mọi cánh cổng đã được đóng chặt

Chàng tự hỏi tại sao mình phải tiếp tục sống

Và chàng nổi loạn chống lại  Thượng Đế

Chúa ơi! Những dằn vặt trong tôi sẽ không bao giờ có hồi kết sao?

 

Anh không chịu nổi khi nhìn những người trong văn phòng của mình. Ngay sau khi anh đến lúc chín giờ mười lăm phút mỗi ngày, anh cảm thấy như muốn đánh nhau với ai đó. Rồi sau đó, đột nhiên chuyển từ trạng thái ảm đạm sang ngất ngây. Và anh đã viết ra được nhiều bài thơ hơn.

 

                Tình yêu thiêng liêng của tôi …

                Bây giờ thế giới là vùng đất vô tận của mùa hè …

                Chúa mở tung cánh cổng thiên đàng

                Tình yêu của tôi ngồi đó, trên ngai vàng.

 

Việc này tiếp tục được mười một tháng hay đại loại như vậy. Sau đó anh có được một chỗ làm ở một tỉnh lỵ, nơi mà ngày nay người ta vẫn còn nói về một gã điên rồ biết bao.

Rồi thì anh cũng có được cô ta. Lúc ấy anh mười chín tuổi. Anh đã viết cho cô một lá thư nói rằng anh sẽ ở Amsterdam trong hai ngày và rất muốn được nói chuyện với cô. Họ biết tên của nhau. Amsterdam thực sự chỉ là một ngôi làng. Cô đã nhớ anh rất nhiều trong suốt một trăm ngày dài đằng đẵng đó và cô đã đến. Mẹ cô không phản đối: “miễn là anh tử tế với con gái của bà, có được chỗ làm tốt và con bà yêu anh … nhưng đừng chơi trò đùa cợt.!” Cô đến Muiderpoort vào một buổi tối và anh có thể thấy rằng cô chắc chắn biết anh muốn hỏi cô điều gì. Thật kỳ lạ, rất đỗi bình thường, anh hoàn toàn không thể thi hoá. Và tất nhiên cô ấy nói rằng cô không thể hiểu, nhưng dù sao họ cũng cùng nhau đi bộ đến Sarphatistraat. Cuộc nói chuyện đang tạm dừng, họ phải nói gì với nhau, họ hầu như chưa biết rõ nhau lắm.

Anh đã tưởng tượng rằng anh sẽ nói nhiều điều kỳ diệu, rằng những ngôn từ sẽ tuôn ra khỏi anh như dòng sông Waal rộng lớn lao qua khỏi những chiếc thuyền con trên cầu tàu phao ở Nijmegen. Nhưng rồi họ nói về chỗ làm của anh, về cha mẹ của cô, rồi họ chào tạm biệt nhau trước cửa nhà cô, và anh trao cho cô một nụ hôn từ phía bên trái vầng trán của cô.

Cô khá hài lòng, mình đã có một người bạn trai, rất điển trai, Lou sẽ nói gì. Thật tệ là anh ấy sống ở ngoài thị trấn. Thật rất bất tiện, nhất là vào những chiều Chủ nhật khi anh không đến gặp cô vì vậy cô phải ở nhà. 

Buổi tối thứ hai anh được phép lên lầu. Mọi thứ phải diễn ra khá nhanh vì anh chỉ có hai ngày nghỉ việc.

Cha anh đã đến thăm cha cô và bây giờ anh được phép lên lầu. Cha cô đang ngồi ở đó và cha anh, mẹ cô, bà cô và dì cô. Hai em gái nhỏ của cô đã được cho đi ngủ sớm. Và thế là anh có được cô, dì của cô sau đó nói, “thật là một chàng trai tốt”.

Chiều Chủ nhật tiếp theo, tất nhiên, họ đến nhà anh ta, và một người phụ nữ lưng hơi khòm tình cờ có mặt ở đó, một người anh họ, mặc quần tây, tay cầm kính mát và đang uống bia. Con dâu tương lai Coba đối xử ngọt ngào nhất có thể với mẹ chồng tương lai và mẹ chồng tương lai cũng ngọt ngào không kém với cô.

“Cô có chiếc túi xách dễ thương làm sao! Có phải nó đến từ City?” “Không, từ Liberty”. “Tôi thấy rất nhiều chiếc túi xách có túi nhỏ thõng xuống ở trên cùng những ngày này”. “Thật tình mà nói là tôi không thích loại túi đó lắm”. “Vâng, mỗi người có sở thích riêng.  Riek của chúng tôi có một chiếc và tôi rất thích nó”. Anh ngồi đó với họ và không hiểu gì cả. Phải chăng anh giống như một người đã đi trên các con phố đêm và nói rằng Chúa đã mở cổng Thiên đường không?” Lạ thật!

Nhưng cô ta rất đáng yêu, chân thật, linh hoạt và trẻ trung, và đã không hôn anh trên trán mà ngay trên đôi môi anh, trên cổ anh, ngay tại tiền sảnh, trước khi họ đi vào phòng. Cô phải nhón gót lên, đặt hai tay lên vai anh mới thực hiện được. Cô bắt đầu yêu anh rất nhiều, anh cũng yêu cô rất nhiều và ôm cô thật chặt.

Mặc dầu vậy, tình hình vẫn còn bí ẩn đối với anh, và anh đã không viết thêm bất kỳ bài thơ nào nữa cho đến sau khi kết hôn.

 

Giờ này họ đã kết hôn được sáu năm và có được một bé gái năm tuổi rất đáng yêu, và các dì rất thích âu yếm cháu. Cô có chút ít tiền và anh cũng vậy. Anh tìm được một chỗ làm ở Amsterdam mà theo quan điểm của anh, anh không tệ bằng một nửa, và cả hai ít nhiều gì cũng có được hạnh phúc.

Nhưng vì anh là một nhà thơ nhỏ thực sự nên phải chịu thiếu thốn một số điều. Bất cứ điều gì mà một nhà thơ nhỏ thực sự có giá trị đối với anh ta là gì? Điều mà anh chỉ có, ngày này qua ngày khác. Tất cả những ngày đó. Và mãi mãi là một thời gian dài khủng khiếp để được kết hôn. Một cô gái trẻ, đáng yêu, chơn chất và linh hoạt, biết yêu chồng và sao chép các bản thảo của anh bằng chữ viết tay đẹp đẽ, nhưng đã ngủ kế bên anh suốt hai ngàn đêm và đã biết rằng anh không thể chịu đựng được một căn phòng tồi tàn và không thể ra khỏi giường vào sáng sớm và không bao giờ có thể để mứt chưa dùng được trong lọ -  nếu anh là một thi sĩ, một người phụ nữ như vậy thực sự là thứ thích hợp với ác quỷ.

 

 

III.

 

 

Một nhà thơ vĩ đại, và rồi sụp đổ.  Nhưng không bao giờ xảy ra điều đó, bởi vì nếu bạn là một nhà thơ nhỏ, những cô gái xinh đẹp nhất luôn luôn tiếp tục đi bộ ở phía bên kia kênh đào. Và vì vậy toàn bộ cuộc đời anh biến thành một bài thơ dài, và đó có thể là một cuộc sống khá tẻ nhạt nữa.

Anh đang ngồi trong một chiếc xe điện, lặng lẽ làm thơ, lặng lẽ ngồi, nhìn chăm chăm, với tay trên đầu gậy chống và suy nghĩ suốt thời gian ấy, như những nhà thơ nhỏ có thói quen làm như vậy, rằng anh có đôi bàn tay gầy, xinh xắn, nhợt nhạt, thanh tú như thế.

 

Khoảng sáu giờ tối Chủ nhật vào tháng Mười Một, phố xá tối om và vắng vẻ. Một phụ nữ, khoảng hai mươi sáu tuổi, bước lên xe điện, dáng người cao ráo, trang nghiêm trong bộ vest màu nâu có cổ đứng, cổ tay áo và đường viền được trang trí bằng lông thú màu đen, bao tay rộng bằng cùng một thứ vải màu nâu có viền lông thú giống nhau, và khuôn mặt nhỏ nhắn thanh tú của cô dưới chiếc mũ nhỏ màu nâu cũng được viền bằng lông thú màu đen. Toàn bộ quần thể là sách giáo khoa, viện bảo tàng.

Nhà thơ nhỏ ngước nhìn lên một lúc, thẳng vào đôi mắt cô, nhưng cô chỉ thấy một chỗ ngồi còn trống trong góc và bước ngang qua anh ta, cao lớn và nghiêm trang. Chồng cô đi sau cô, mày râu nhẵn nhụi, mặc đồ đen đội chiếc mũ cao trên mái tóc ngắn màu xám tro.

Khi cô ngồi xuống, nhà thơ nhỏ không còn nhìn thấy cô, bởi vì anh ta đang ngồi cùng một phía, xa hơn về phía trước, với bốn người nữa giữa họ. Đức ông chồng, chính xác là như vậy, ngồi đối diện với cô, nhìn đồng hồ và nói điều gì đó. Hỏi giờ, hiển nhiên, rồi họ không nói gì nữa. Không cần nghi ngờ gì nữa, họ đã kết hôn.

Nhà thơ nhỏ quyết định chắc hẳn họ đã ra ngoài để viếng thăm ai đó và giờ trên đường về nhà để ăn tối. Họ đã có một đứa con, hay nhiều đứa rồi? Chồng cô có cư xử đúng mực trong phòng ngủ không? Chúa đã để điều đó xảy ra: nhà thơ nhỏ đã thấy rõ ràng như ban ngày trước mặt mình ở đó trên xe điện, không có gì ngoài một chiếc áo sơ mi và tất – một chiếc áo sơ mi vải fla-nen, tất nhiên, vâng, vải fla-nen màu xám, không điển trai lắm và nước da trắng – ông ta ắt hẳn ở độ tuổi bốn mươi, với những sợi lông kỳ lạ dựng ngược lên trên đôi lông mày, đầu đội mũ quả dưa cao. Thật tệ là ông ta không đeo kính râm. Anh nghe thấy người đàn ông hỏi bằng giọng nói đúng chất là người của Khu Bảo tàng. “Tôi có nên để đèn sáng không Clara?” Rốt cục, tên cô hẳn phải là Clara, một người chói lọi. Và nhà thơ nhỏ nghĩ rằng  Đức ông chồng sẽ nói  “Xin lỗi” với cô tại một thời điểm nhất định. Vâng, Chúa đã để cho suy nghĩ của một người tản mạn một cách kỳ lạ. Lạ thay, những khổ thơ quái đãng xuất hiện trong những bài thơ không bao giờ kết thúc như thơ của anh. Sau đó, nhà thơ nhỏ nhìn lên cửa sổ đối diện với mình trên xe điện. Những ngôi nhà chung quanh đều chìm trong bóng tối, và những thiếu phụ đang đọc điều này hoàn toàn biết rằng trong những trường hợp như vậy, bạn nhìn thấy tất cả hành khách trên xe điện được phản chiếu qua cửa sổ ra bên ngoài.

Đôi mắt trầm tư của nhà thơ nhỏ sau đó nhìn thẳng vào đôi mắt trầm tư của Clara, người chói lọi, mà điều này như thể họ biết một điều gì đó rất đặc biệt, nhưng đó chỉ là ảo giác. Trong chốc lát, bốn con mắt trầm tư trở nên lớn hơn và chói lọi hơn, và thế là nhà thơ nhỏ mất tinh thần, dù sao anh cũng chỉ là một thanh niên ngoan ngoãn, dù có những khúc quanh co lạ lùng như thế trong bài thơ không bao giờ kết thúc của anh, và anh nhìn vào mặt vải nâu có viền lông thú màu đen và bóng dáng mơ hồ của đôi chân bên dưới bộ đồ của cô, rồi bẻ lệch hướng ánh nhìn của anh về phía một cửa hàng sữa bên ngoài. Rèm cửa được kéo qua mỗi bên, hôm đó là Chủ Nhật. Bạn luôn có thể nhìn sự phản chiếu của mọi người nếu bạn muốn, và P.C Hooftstraat đã thực sự xuất hiện trên thế giới, trong quá khứ, đã không bao giờ có người bán sữa ở đó, giờ đây thậm chí cũng không có một người bán rau quả nào.

Nhưng khi anh nhìn lại cách một trong những lọn tóc đã bung ra và xoả xuống thái dương bên trái, gợn sóng nhẹ nhàng, thật đáng yêu. Ánh mắt của họ chạm nhau trong giây lát. “Tôi nghĩ bạn rất đẹp trai, bạn có nghĩ tôi đẹp không?” “Tôi muốn bạn nếu tôi có can đảm, bạn cũng muốn tôi nếu bạn có can đảm?” “Tôi muốn sống, muốn thực sự được sống một lần, được tự do, được là một  Nữ thần chứ không phải là một quý bà từ Khu Bảo Tàng, không phải con gái của một người này hoặc người nọ, chị gái của một người này hoặc người nọ, vợ của một người này hoặc người nọ, mẹ của một người này hoặc người nọ, không là một Quý Bà, không là bạn của ông này bà nọ. Chỉ sống cho một khoảnh khắc, trong suy nghĩ của tôi thôi. Những suy nghĩ của tôi đến với bạn qua đôi mắt của tôi, những suy nghĩ của tôi có tầm xa và rộng, về phía trước và về phía sau kịp lúc, xuyên qua mọi tấm màn che và các lớp phủ. Không ai có thể ngăn cản chúng, không ai có thể làm hại chúng. Chúng đến với bạn qua đôi mắt tôi”. 

Và những suy nghĩ của anh cũng đến với cô giống như vậy, từ đôi mắt anh thẳng vào đôi mắt cô, trong vài giây ngắn ngủi. Không một ai khác biết.

Một toà tháp cao trào dâng lên từ tinh thần của anh và một toà tháp cao trào dâng lên từ tinh thần cô ấy. Và họ nhìn ra khắp nơi, khắp mọi sự vật và chỉ còn thấy nhau. Thế là nhà thơ nhỏ đã tán dương bằng cách thi hoá qua bài thơ không bao giờ kết thúc của mình và ngay cả một người phụ nữ ngờ nghệch nhất cũng có thể tán dương cùng với anh ta. Nhưng họ không thể ở bên nhau. Có lẽ đó chính là những gì đã làm cho nó trở nên đẹp đẽ đến như thế.

Xe đến Hobbemastraat, chồng cô liếc nhìn người soát vé và đưa tay cầm lấy sợi dây thừng, cô cũng đứng dậy và đi qua xe điện, sau lưng chồng, đàng hoàng, trang nghiêm, và không nhìn thấy bất cứ ai.

Nhưng khi Đức ông chồng bước xuống xe điện, cô phải đứng đợi ở bậc thềm trước cửa xe, vai trái của cô hướng về phía nhà thơ nhỏ, và mọi chuyện đã gần như kết thúc. Cô đã biến mất khỏi Khu Bảo tàng chỉ trong tích tắc và ngoái đầu nhìn lại.

“Tôi nghĩ bạn rất đẹp trai và bạn nghĩ tôi cũng rất đẹp. Tim tôi rộn ràng trong lồng ngực, đầu óc tôi ca hát bên dưới mái tóc tôi. “Tóc đẹp hả?” 

Nhà thơ nhỏ cứ thẩn thờ thơ thẩn mãi, không dứt. Nhưng bài thơ có chiều hướng chuyển sang ảm đạm, thành phố Amsterdam tối tăm, trống vắng.

 

Những chiều sau đó, nhà thơ nhỏ lố bịch thực sự này bắt đầu lang thang quanh Khu Bảo tàng, cảm thấy tội nghiệp cho chính mình một cách khủng khiếp và không bao giờ chắc chắn liệu cà vạt của anh có được thắt thẳng hay không, cổ áo có sạch sẽ không, và nhìn chung anh trông có đủ bóng bẩy hay không. Nhưng anh không gặp lại cô, tất nhiên, có lẽ ngay cả cô đã không sống ở Amsterdam. Có một ngôi nhà ở góc phố, được bao quanh bởi một khu vườn nhỏ, mọc dựa vào bức tường là những cây leo đang nở hoa, trụi lá trong không khí dịu êm của một ngày vào tháng Mười Một, đang ra hoa với những cánh sao vàng nhỏ. 

Anh khẳng định đây là ngôi nhà nơi cô đang sống, và đặt tên cho cây nho là “Clara”

Tuy nhiên, chồng cô rất yêu vợ và cô cũng yêu chồng rất nhiều, họ cho nhau tất cả những gì họ muốn.

Tại sao Chúa lại khiến ai đó trở thành một nhà thơ nhỏ?

 

 

I V.

 

 

Quỷ dữ luôn có một khoảng thời gian thoải mái với những phụ nữ trẻ chơn chất đáng yêu, những người rất mực yêu thương người chồng hợp pháp của họ. Khi kết hôn được một năm hoặc đại loại như vậy, họ cảm thấy nhớ nhà một cách lạ lùng đối với vùng đất mà họ quen biết, nhưng chưa bao giờ ở đó. Làm sao họ có thể tưởng nhớ một điều gì đó họ không biết? Làm thế nào để bạn có thể biết điều gì đó mà bạn thực sự không biết?  Thật lạ lùng. Họ ao ước những gì? Họ mở tung cánh cửa ra ban công một sáng xuân hồng, hoan ca, và bỗng cảm thấy man mác buồn, tại sao?

C’est là, c’est là qu’il faut être. Là? (Nó là, nó phải được … là? Ở đâu? “Tôi điên mất. Và họ ôm chặt con mình vào lòng rồi hôn khắp người.

 

Coba đang ngồi ở một chiếc bàn ngoài trời tại quán cà phê Beursbengel ở Damrak, một trong những chiếc bàn tròn, nặng có mặt trên bằng đá cẩm thạch, được viền quanh mép bàn bằng một dải đồng. Con gái nhỏ của cô đang ngồi đối diện với cô và đôi chân trần của bé trong đôi tất trắng thấp lủng lẳng trên ghế. Cô dùng một miếng bánh và một ly sữa và đang ăn bánh bằng những ngón tay nhỏ, xinh xắn của cô. Đôi mắt đáng yêu của cô rất to, và đang nhìn mọi thứ xung quanh. Đứa bé có vẻ kinh sợ bởi sự đối xử đặc biệt và bởi mọi người xung quanh, nhưng rất hoạt bát và vui vẻ. Mẹ nó nhìn nó để đoan chắc rằng nó không làm rối và nhẹ nhàng giúp bé nhưng không nói nhiều.

 

Trong góc khuất, quỷ dữ ngồi tay vuốt đuôi ria mép. Có lần tôi nghe một phụ nữ, một phụ nữ thanh cao và có nguyên tắc, nói: “Một người đàn ông như vậy, anh ta lấy tôi làm gì? Anh nghĩ tôi sẽ yêu anh ta chỉ vì anh cố giật búi tóc tôi? Hừ!” Đừng quá tin tưởng vào người phụ nữ này. Bây giờ cô ấy đang nằm thao thức trong đêm, nghiến chặt chiếc gối ướt  của mình vào kẽ răng. 

Coba cởi áo khoác ngoài, đặt trên đầu gối. Nó quá ấm đối với một bộ quần áo đan chéo màu xanh lam. Cô đang mặc một chiếc áo sơ mi nữ màu trắng và cánh tay cô lộ rõ xuyên qua nó một màu nâu hồng, và phần trên lưng và ngực của cô nữa. Bạn có thể thấy vị trí áo lót của cô kết thúc, và nó được treo lên vai bằng những dải băng ren. Bây giờ cô mím chặt môi trên, chìa hàm dưới ra, và vuốt tóc xuống bằng tay phải, cô quay đầu lại một chút, và đầu lưỡi xuất hiện, lướt dọc theo môi trên rồi nhanh chóng biến mất.

Quỷ dữ vặn ria mép. Cô nói điều gì đó rất ngọt ngào với con gái nhỏ và cười, để lộ hàm răng trắng; cô có hàm răng đẹp – chắc, đều, trắng sáng – để bạn muốn đưa tay ra cho cô ấy cắn từ bên ngoài giữa ngón út và cổ tay. Bây giờ là đầu tháng Năm. Lần đầu tiên trong năm, cô mặc một chiếc áo sơ mi nữ màu trắng, cổ chữ V, ngực cô trắng, trắng đến nỗi quỷ dữ cũng không khỏi không liên tưởng đến ánh sáng trên trời. Và xương đòn quai xanh của cô nổi bật một cách uyển chuyển bên cạnh chỗ lõm vào trên cổ cô. Cô vuốt mép áo bằng những ngón tay mảnh mai của mình. Cô lau sạch món tráng miệng trên tay con mình bằng chiếc khăn tay có viền ren. Cô nắm lấy bàn tay nhỏ bé của con bằng hai bàn tay của mình và siết chặt nó, rồi hôn lên đôi mắt to tròn của đứa trẻ và đứa trẻ hỏi: “Mẹ ơi, tại sao mẹ lại làm như thế?” Cô đỏ mặt và hỏi,”Làm gì hả, Bobi?” “Tại sao mẹ lại đột ngột hôn con?” “ Nhưng mẹ lúc nào cũng hôn con như thế, phải không?”

“Con có muốn một miếng bánh khác không, con yêu?” Nhưng con không được làm tung toé ra  như vậy nữa, được chứ?” Mẹ sẽ đi chọn cho con một cái bánh khác. Ngồi yên ở đây, được không?”

Và người mẹ đi vào bên trong, hông của mẹ vừa đủ lắc lư, chiếc váy đan chéo màu xanh lam của mẹ đung đưa qua lại. Sau đó, người mẹ trở ra tay cầm một cái đĩa và cười với đứa con gái nhỏ của mình từ ngưỡng cửa rồi ngồi xuống. 

Quỷ dữ xoắn hai đầu ria mép. Đột nhiên cô cảm thấy sợ hãi. Chuyện gì xảy ra nếu anh ấy nói điều gì đó với cô? Cô nên làm gì? 

“Nhanh nào, Bobi, ăn xong đi, chờ một chút, mommy có thể giúp gì cho con không?” Và cô gắp một nửa miếng bánh trên đầu nĩa của mình và cho vào miệng cô gái nhỏ. Cô cảm thấy  người phụ nữ béo bên cạnh đang nhìn mình. Đứa trẻ mặt đầy kem đánh bông. “Hừ, đúng là một con bé lộn xộn!” “Nhưng mẹ đã làm!” Kìa, Papa kìa!.

Anh ta nói: Xin chào và ngã mũ chào quỷ dữ, và quỷ dữ cũng ngã mũ chào Papa. Mẹ lại đỏ mặt, lần này xuống tận chỗ lõm vào ở cổ, nhưng nhà thơ nhỏ không chú ý thấy. Anh ta đã kết hôn khá lâu rồi.

Cô đứng dậy và đỡ bé ra khỏi ghế.

“Bạn muốn rời đi ngay bây giờ sao?”

“Tôi phải đi mua một ít len để đan cho xong chiếc áo len. Tôi không thể tìm thấy đúng màu len ấy ở bất cứ đâu. Tôi đã đến bốn cửa hiệu rồi và tôi nghĩ mình nên đến đây trước đã, giờ đã quá trễ rồi.”.

Đứa bé giương to đôi mắt ngẩng nhìn lên mẹ.”Được rồi, chúng ta có thể đi. Trả tiền chưa? Anh phục vụ ơi! Nhà thơ nhỏ ngã mũ chào, quỷ dữ cũng ngã mũ chào. Người mẹ gật đầu một cách không mấy tự nhiên. Bobi vẫy bàn tay nhỏ bé của nó và nói bằng giọng nhỏ the thé, “Tạm biệt, Ông Chủ,”  quỷ dữ gật đầu, cười và nháy mắt. “Mẹ ơi, người đàn ông đó đã nhìn mẹ suốt thời gian vừa rồi”. May thay, nhà thơ nhỏ không nghe thấy gì cả. Bài thơ không hồi kết của anh một lần nữa đã đạt đến một giai đoạn đang làm anh trở nên mất trí. Anh thấy tất cả những người phụ nữ đang ngồi ở những chiếc bàn ngoài trời và đi ngang qua họ ra đến đường phố.

“Ôi, Chúa ơi!” anh ta nghĩ, “Chuyện gì sẽ xảy ra nếu bây giờ bạn thực hiện một phép mầu. Chuyện gì sẽ xảy ra nếu tất cả quần áo của họ tuột ra hết?” Một nhà thơ nhỏ gần như phát điên nghĩ những điều kỳ lạ nhất. Các bạn và tôi, độc giả thân mến, đừng bao giờ nghĩ những điều như thế. Và quý độc giả phụ nữ của tôi ơi … hãy thương xót cho tôi, hãy huỷ diệt ý nghĩ này.

 

V.


Sáu năm họ đã kết hôn. Và trong khi cô ấy cắt bánh mì mỗi sáng, phết bơ lên bánh mì và rót trà cho anh, cho Bobi và cho người giúp việc, và đôi lúc, cho người phụ nữ lau dọn nhà cửa … Bạn hãy thử cắt bánh mì, làm bánh săng- uých cho bốn đứa trẻ chỉ một lần, nếu bạn không quen với nó, cái cách mà người viết không may mắn của những trang này đôi lúc đã làm, bạn sẽ phát điên lên mất. Theo thời gian, bạn có thể sẽ trở nên quen với nó, nhưng lạy Chúa, theo thời gian, nó cũng sẽ trở nên cực kỳ nhàm chán nếu bạn không đủ may mắn để nghĩ về nó.

Được rồi, vì vậy, trong khi cô ấy làm những việc này lập đi lập lại, điều này đã làm hài lòng Chúa – Thượng Đế thực sự, Thượng Đế của trời và đất – khiến cho Dora, em gái của cô, lớn lên và trở thành một phụ nữ xinh đẹp như một con ngựa đua. Cô là một trong hai cô em gái được anh cho đi ngủ sớm vào buổi tối lần đầu tiên anh được phép lên lầu.

 

Phải mất một thời gian khá lâu trước khi anh gặp cô, nhưng cô đã thấy anh khá lâu trước đó. Đó là năm cô mười lăm tuổi. Anh vừa mới kết hôn, chỉ trên một năm, và anh đã trở về từ chuyến đi xa đến nơi anh nhận nhiều ánh nắng mặt trời. Anh mặc một bộ đồ màu xám nhạt, đi giày nâu và đội chiếc mũ trắng có viền gấp xuống hết cỡ. Hồi đó họ vẫn ném đá vào bạn ở Reinwardtstraat nếu vành mũ của bạn được gập xuống hết cỡ, nhưng bây giờ thì đã được phép. Vợ anh lúc đó sống ở nông thôn, một nơi nào đó dọc theo sông IJssel trong một ngôi nhà màu trắng với căn phòng tắm nắng và có hành lang dọc theo tầng hai. Lúc ấy cô chỉ vừa đủ lớn hơn một đứa bé, váy cô dài đến lưng chừng giữa đầu gối và mắt cá chân. Những phụ nữ trưởng thành cũng đi bộ xung quanh như thế đó. Cô đang mặc một chiếc váy màu sáng mặc trong mùa hè có dây đai qua vai, sọc dọc rộng màu đỏ và sọc trắng mỏng giữa chúng; dây đai qua vai màu đỏ. Bên dưới là chiếc váy xẻ cao, cô mặc một chiếc áo sơ mi trắng cổ cứng bẻ cao. Khuôn mặt của cô cũng sạm nắng nữa. Cô để mái tóc đen của cô một phần và xoả ra phía sau với một chiếc nơ đen. Cô để đầu trần và chơi trên bãi cỏ trước nhà như một đứa trẻ, chơi trò chơi đi-a-bô-lô, lần cuối cùng, mặc dầu cô đã không biết điều đó. 

Đó là vào đầu tháng Sáu, những cây cao phía sau và hai bên ngôi nhà là một ngọn núi màu xanh lá cây đậm. Đây đó một vài cây sồi nâu đứng sừng sững giữa màu xanh. Cây táo gai màu hồng đang nở rộ, những bông hoa màu đỏ của cây dẻ đã rụng xuống trong khi những bông hoa hồng trắng mỏng manh còn sót lại trên cành vẫn hiên ngang đứng thẳng. Những bông hoa anh đào và hoa nhài cũng đang nở rộ.

Phòng tắm nắng và cả ba cánh cửa dọc hành lang đều mở toang. Trước nhà có một cái ao nhỏ hình tròn với những chiếc lá và những cánh hoa trắng muốt từ những bông hoa súng nổi trên mặt nước, với lau sậy và hoa diên vĩ vàng mọc dọc theo rìa ao. Con đường rải sỏi chạy ngang qua khu vườn và qua bên kia đường, sườn vườn phía bên này đường cũng vậy, đâu đâu cũng có lúa mạch xanh cao ngang đầu bạn.

Với hai cánh tay dang rộng giơ lên, cô bắt được con đi-a-bô-lô đang quay trên đầu sợi dây, nhưng nó bị rơi, và khi cô định cúi xuống nhặt nó lên, cô nhìn thấy chồng của chị gái mình.

“Chào Dora, cô không nhận ra tôi sao?” 

Anh thấy một đứa trẻ và một bãi cỏ, ao hồ và ngôi nhà màu trắng, hàng cây cao, cây tùng bách và hoa nhài đang nở rộ một phía. Anh vừa mới kết hôn và chưa bắt đầu lại bài thơ không hồi kết của anh. Nhưng khi cô thấy anh, đôi mắt cô mở to, máu dồn lên trong cơ thể. Tại sao cô không quàng tay quanh cổ anh rể và hôn anh?

Trước đây cô luôn làm như vậy, bất cứ khi nào anh là một anh rể ngọt ngào, mang đến cho cô những viên kẹo ngọt, những chiếc trâm cài và những viên kẹo rượu rum. Những viên kẹo rượu rum là bí mật nhỏ của họ.

“Chào E.,” cô nói và chìa tay ra.

“Dora, trông em xinh thế nào ấy. Bố mẹ em có ở nhà không?” Anh muốn véo má cô như cách anh vẫn làm với “lũ trẻ”, nhưng cô bỏ chạy và lao vào nhà. “Anh E. ở ngoài kia”.

Diabolo nằm trên lối đi, gậy và dây vẫn còn trên bãi cỏ. Anh thu nhặt chúng lại, và hôn mẹ vợ, bắt tay ông già và lắc mạnh.

“Đây, em ơi, đồ chơi của em đây! Em còn ở trường nội trú chứ?”

 Và mẹ vợ, người luôn rất thích khi thấy mọi người hôn nhau một cách đứng đắn và đáng kính trọng, nói “hai đứa đã chào hỏi nhau đúng cách chưa?” Nhưng Dora đã vụt chạy ra khỏi phòng với món đồ chơi, chạy thẳng lên lầu và đứng trước cửa sổ đang mở trong phòng cô.

Điên rồ, cô chưa hết hụt hơi và đang thở hổn hển và gấp gáp. Cô cảm thấy với đôi tay của mình rằng bộ ngực cô đang trở nên lớn hơn. Bãi cỏ trước nhà, cái ao đầy lá và hoa súng trắng muốt, gió thổi nhẹ làm lay động đám lau sậy và khóm hoa loa kèn vàng. Bên trái qua khỏi mép vườn những cây tùng la hán và những bông hoa nhài bên cạnh những bụi đỗ quyên đang nở rộ và cánh đồng lúa mạch đen bên kia đường đang gợn sóng và lung linh trong nắng; tất cả những thứ này trông thật mới mẻ và xinh đẹp. Chim sơn ca đang hót khắp nơi, một con diệc bay ngang qua, bầu trời cao xanh, và những tán cây đang xào xạc xung quanh ngôi nhà ngập tràn ánh sáng – bạn có thể bắt lấy ánh sáng, ôm chặt nó vào lòng không? Cô ôm chặt hai tay sau đầu và cảm thấy ngực mình căng phồng lên. Cô duỗi dài hai cánh tay cao và dang rộng hết mức có thể, giống như khi đang chơi đi-a-bô-lô. Và cô cảm thấy không khí xâm nhập vào xuyên xuống tận đáy phổi.

Cô bình thản đi xuống dưới lầu, hát điệp khúc bản Judas Maccabaeus của Handel, “Ánh sáng của ngày và nguồn sáng rực rỡ của Thiên đàng” mà cô đã hát rất nhiều lần nhưng chưa bao giờ thực sự nghĩ về nó. Sau đó, cô bước vào phòng và nói, “Chào E.!”, đứng nhón gót dang rộng đôi tay choàng qua vai anh và hôn môi anh, như trước kia, như chị cô. Còn  anh, người vừa trò chuyện với bố vợ về dầu lanh – anh vừa trở về từ chuyến đi xa, về những thứ mà nhà thơ nhỏ phải làm! – chỉ nói; 

“Em đã lớn biết bao, bé con ạ!” Anh thậm chí không còn phải nhấc bổng em lên nữa”.

Và cô yêu anh nhiều đến nỗi ngay cả cô không còn điên tiết lên khi anh nói điều đó. Ngực của em đã trở nên lớn hơn, phải không? Đợi đó ….

“Dora, sữa đang sôi. Maartje đã đi vào thị trấn”. Và Dora bay ngay vào bếp để tắt bếp.

 

VI.

 

Bây giờ trước khi đi xa hơn, có lẽ tôi nên đề cập rằng các bản thảo của tôi cũng đã được vợ tôi sao chép lại, và cô ấy không thấy chất thi vị trong câu chuyện này. Việc tán tỉnh của Coba không quá khủng khiếp, cô nghĩ, đó là vì nhà thơ nhỏ đã phớt lờ không để ý. Người thiếu phụ trên xe điện đáng bị tát vào mặt và cả nhà thơ nhỏ nữa. Thật kỳ lạ, trong những câu chuyện khác mà cô đã đọc, cô không nghĩ những thứ cùng với những dòng này lại đê tiện đến như thế. Tôi nghĩ đó là bởi vì tôi là người đã viết ra những câu chuyện này. Tất nhiên cô ấy biết rằng có sự khác biệt giữa tác giả và chính ông Nescio này, nhưng đối với cô đó là những sợi tóc được chẻ làm tư, là một tình huống khó khăn. Hạnh phúc bên trong nội tâm của tôi có phần rắc rối nhưng tôi vẫn sẽ để nó tiếp tục.

Lại có Thượng Đế Hà Lan đang đi dạo trên vỉa hè nắng như thiêu đốt của vùng Damrak. Một lần nữa anh ta lại mặc cùng một bộ đồ màu nâu, cùng một chiếc mũ cao chóp, và có gàu da đầu trên cổ áo. Lần này anh quàng một chiếc khăn tay quanh cổ, đang đổ mồ hôi. Anh đặt đầu gậy đi bộ xuống một khoảng dài so với cơ thể khi đi bộ, mái tóc kiểu sườn cừu chẻ đôi màu xám cắt tỉa công phu cũng tản bộ cùng anh. 

Lạy Thượng Đế của bầu trời và trái đất, của lục địa và đại dương, xin hãy cởi bỏ áp bức này khỏi con, thâu tóm nó vào tay Chúa và mang nó ra xa khỏi vùng Damrak này và nhẹ nhàng đặt nó xuống đống rác kế bên những chiếc chậu màu xanh có lỗ dưới đáy đầy ắp lon thiếc đập dẹp và vành thùng hoen rỉ, tro trấu và vỏ tôm, hay một nơi nào đó tôi chưa bao giờ đến.

Lúc này tinh thần tôi có thể từ bỏ cái bản ngã chết tiệt của mình mà bay thẳng lên bầu trời  như làn khói xanh vào một đêm mùa hè không gió, trong khi từ xa vang lên tiếng con bò lạc đàn kêu rên một cách buồn bã.

 

Và bây giờ mọi thứ không còn như xưa nữa, và tôi là Dora, tôi đang ở trong một thế giới mới, giống như thế giới cũ nhưng được nhìn thấy từ dưới chân của Cha, và từ đó tôi nhìn xuống Dora, người mà chính tôi là, giờ là một người đàn bà, một cô gái, miễn là tình trạng của ân sũng kéo dài.

Và cũng như bản thân thế giới còn mới mẻ đối với tôi, nó cũng trải rộng ra, không chạm tới được và nhân từ đối với Dora sau ngày hôm đó. Ồ, cô ta đã chấp nhận điều kỳ diệu, nhưng cô không hiểu nó, hoặc hiểu chính bản thân mình cũng như trái đất không hiểu chính nó, lúa mì mọc lên từ nó và có màu xanh lá, rồi chuyển sang chín vàng, rồi được thu hoạch, bó thành bó lớn, nằm trên cánh đồng trơ gốc rạ, mà trái đất nào có biết gì đâu.

Thế rồi bộ ngực cô ấy trở nên lớn hơn, chúng rung rinh khi cô chuyển động, nhưng cô ấy vẫn là một cô gái mảnh mai với vết lõm ở cổ có thể nhìn thấy rõ ràng, những đường gân cổ và đầu xương quai xanh của cô cũng nổi rõ ràng, giống như trên người của chị gái cô. Và khi cô quay đầu sang một bên, bạn có thể thấy một lõm sâu trên vai nếu cô ấy mặc áo sơ mi cổ thuyền rộng rãi. Trên khuôn mặt sạm nắng, đôi mắt to, rất trắng, rất xanh, xanh đậm. Tôi đã nhìn thấy Zuiderzee bị đóng băng hơn một lần và nó có màu trắng giống như màu mắt cô. Nhưng tất cả sự ấm áp từ cơ thể trẻ trung của cô toả ra khỏi màu xanh của đôi mắt, không hề khiến cho cơ thể cô lạnh đi chút nào. Khi cô đứng tay chống lên eo thon nhỏ của lưng cô, vuông góc trên hai chân với bàn chân cách nhau một chút, bạn sẽ thấy các điểm của bả vai và chỗ lõm giữa chúng giống như một bài thơ thu hút sự suy nghĩ của bạn vào khoảng mênh mông xa, giống như một dòng sông nằm vươn ra xa rồi lượn chảy về phía trước, bạn không thể nhìn thấy điểm kết thúc của nó. Và khi cô ấy nghiêng đầu về phía trước – cô vén tóc lên – chính Thượng Đế của trời đất cũng nhìn lên trong giây lát từ sự chiêm ngưỡng lục địa và đại dương vĩnh cửu của Người, rồi chống khuỷu tay phải lên đùi và tựa đầu lên tay phải, ngón cái đặt dưới cằm và ngón trỏ đặt áp sát dọc theo chiều dài của má, bắt đầu chiêm ngưỡng những nốt ruồi nhỏ sạm nắng lộ rõ bên trên chỗ lõm, đó là cả một bài thơ, và những sợi tóc mảnh mai lấp lánh dưới ánh nắng, và Người mỉm cười. Sau đó, Người trầm ngâm nhìn xuống dòng sông Rhine lượn mình uốn khúc len lỏi qua lại giữa núi đồi của mình và Người suy ngẫm, “ Chuyện gì đang xảy ra ở đây vậy? Làm thế nào mà tôi đã để cho người Đức tìm thấy một đế chế khác? Những người Phổ đó …”

Và nét mặt cao quý, không có lông của Người bỗng tối sầm lại. Hai nếp nhăn sâu hoắm xuất hiện bên trên chiếc mũi thẳng mạnh mẽ của Người.

Nhưng cô ấy không nghĩ về bất kỳ người Phổ nào. Cô nghĩ về người chồng của chị mình thật ngọt ngào biết bao và thật tuyệt vời khi cô yêu anh rể mình. Rốt cục, anh ấy là anh của cô. Một nhà thơ. Chị Coba đã bảo với cô như thế. Và một nhà thơ là một người thân yêu với trái tim của Chúa. Cô đã đọc nó trong cuốn sách ở đâu đó.

 

Giờ cô đã đủ lớn để có thể đọc những quyển sách có tính giáo dục như thế với sô-cô- la trong miệng và phần còn lại của thanh sô-cô-la trên bàn. Giá mà một ngày nào đó cô cũng có thể làm thơ – hoặc viết một cuốn tiểu thuyết. Một cuốn sách về tình yêu tuổi trẻ. Hồi đó ai cũng đọc các sách về tình yêu tuổi trẻ. Vào một buổi tối khi cô nằm trên bờ đê của dòng sông IJssel, xe đạp của cô ở bên cạnh nằm nghiêng trên bãi cỏ, với một ngọn cỏ trong miệng, cô quay đi quay lại, nhìn ra mặt nước và thấy cánh buồm của một chiếc thuyền nhỏ đang vỗ lách cách dọc theo cột buồm và cô trở nên khập khiễng, cô cố gắng nhưng không có tác dụng lắm. Nó khiến cô cảm thấy tất cả bên trong người cô trở nên mềm yếu, khiến trái tim và buồng phổi cô trở nên to lớn và đầy u uất. Cô cảm nhận phong cảnh buổi chiều tối dọc theo chiều dài sống lưng, từ trên xuống dưới. 

Những con bò đang đứng bên bờ nước, vừa uống nước vừa nhìn nhau, tiếng xích neo kêu lạch cạch, nắng chiều đậu cao trên cột buồm của con tàu – tất cả đều mang nước mắt đến đôi mắt mở to của cô nhưng không có gì đến với nó. Cô lấy cọng cỏ trong miệng ra và dùng móng tay tướt nó theo chiều dọc, nhưng không có gì đến với nó. 

Cô đứng lên. Những vì sao đang lấp lánh trên bầu trời nhợt nhạt, mặt nước lăn tăn gợn sóng, quay cuồng và chảy như thể không có Dora đang đứng trong buổi tối mùa hè không sắc màu vậy. Một cỗ xe bịt bùng nặng trĩu lao vun vút trên con đường đá sỏi đằng xa, nổi bật một cách u buồn trên vùng đất tối tăm; mặt nước vẫn còn lưu giữ một chút ánh sáng. Rồi cô duỗi thẳng đôi cánh tay ra nhưng không có ai trả lời cô cả. Sau đó cô không biết liệu mình có muốn sống hay chết quách cho xong. Cô chậm rãi bước lên xe đạp, cỡi thẳng về nhà, nơi mẹ cô ngồi ngáp bên tờ Tin Tức Hàng Ngày dưới ngọn đèn thắp bằng ga với cặp mắt kính trên đầu mũi. Bà nhìn Dora chăm chú, sau đó tháo kính ra, lau chúng, mò mẫm tìm nắp hộp đựng kính và khom người xuống mò tìm vì nửa kia của chiếc hộp rơi xuống sàn nhà. “ Nó đây, thưa Mẹ”.

Người Mẹ đứng dậy, lại ngáp và xếp đôi tờ báo lại, nhìn chiếc đồng hồ nhỏ trên bệ lò sưởi và nói qua một cái ngáp nữa, Mười giờ mười lăm”.

 

Trở về phòng, Dora cởi bỏ quần áo, và ngửi thấy mùi thơm của cơ thể sạch sẽ và ấm áp của chính mình. Một khao khát lớn lao lại tràn ngập trong cô, giống như cái cách mà phong cảnh buổi tối đã khiến cô tràn đầy khao khát lớn lao, và dòng sông tối đen chảy đến một điểm mà chỉ sáng trong chốc lát rồi quay trở lại và biến mất. Nhưng niềm khao khát của cô là gì cô không biết.

Bất ngờ cô nhìn thấy tất cả diễn ra trước mắt một lần nữa trong bóng tối của căn phòng: mặt nước với con tàu đang thả neo và ánh sáng trên cột buồm, những con bò bên bờ nước gần đó. Cô thấy hoàng hôn không buông xuống. Nó đang len lỏi khắp trên mặt đất, lần đầu tiên cô nhận ra điều đó. Cô đặc biệt nhìn thấy chỗ cuối của dòng sông, chảy vào một điểm nơi có mảng ánh sáng màu lục nhạt trong nước, nơi bờ sông uốn cong vòng tròn. Cô nghe từ xa có tiếng lạo xạo của cỗ xe ngựa nặng nề trên con đường đầy sỏi đá.

“Chúa ơi, ước chi em có thể thân thiết với trái tim anh,” cô nói một cách rất trẻ con. Và đêm đó cô có một giấc mơ đẹp. Cô mơ thấy E. đang đi dạo với Coba trên một thảo nguyên mênh mông, chị ấy mặc một bộ đồ bằng vải lanh trắng, anh ấy mặc bộ đồ bằng vải flanen trắng với gấu quần vén lên và đội mũ rơm rộng vành, mang giày màu nâu. Cô mơ thấy họ đang mỉm cười và cười phá lên với nhau, và anh hôn lên miệng cô, bốn nụ hôn lần lượt cho đến khi cô cười thả ga thì cô, Dora, chạy bổ đến chỗ chị gái và quàng tay qua cổ chị ấy, gục đầu vào vai chị và nói, “ Coba, chị thật ngọt ngào và hạnh phúc!” Rồi bất thình lình mẹ cô xuất hiện, bà đứng đó với cặp mắt kính trên đầu, bà nói, “ một giờ rưỡi sáng rồ đó”.

 

VII.

 

Trong khi nhà thơ nhỏ lịch lãm được yêu mến của chúng tôi bình thản bước đi dọc theo con đường dẫn đưa anh tới mộ phần như một công dân nhỏ tốt thì giao thông trên Damrak và trên Rokin và trên khắp các đường phố Amsterdam vẫn diễn tiến như thể ít nhất anh đã không gặp phải bất cứ vấn đề gì. 

Anh được thăng chức ở văn phòng và thừa hưởng một số tiền, dần dần anh bắt đầu mua sắm quần áo, giày dép từ các cửa hàng nổi tiếng khác nhau. Đó là lúc anh ta mua bộ côm-lê vải fla- nen màu trắng. Anh bắt đầu quen với việc hút xì gà bốn xu thay vì xì gà hai xu rưỡi. Anh có cả hộp xì gà ở nhà, anh mặc áo sơ mi đẹp, thôi không còn mang đôi bít tất len dày đó nữa; rửa tay trước và sau mỗi bữa ăn, và mỗi tuần tiêu xài một vài đồng guilder trong các quán cà phê, vừa một mình vừa với vợ. Anh lấy làm thích thú trước lời chào lịch sự của người bán thuốc lá và sự thân thiện đầy tôn kính của người soát vé xe điện trên tuyến Đường Số Hai. Anh đã bắt đầu làm việc chăm chỉ hơn tại văn phòng qua nhiều năm, đã bắt đầu tốt hơn với công việc ở đó, và thậm chí đôi lúc anh về nhà sau bữa cơm tối và làm việc muộn vào ban đêm, mặc dầu sếp của anh không bao giờ yêu cầu nhân viên của mình làm như vậy. Nhân viên hướng dẫn của anh ngày càng quí trọng và đánh giá cao anh và coi anh là người có học thức cao. Ngay cả dì của anh từ Delft hoặc từ Oldenzaal bắt đầu tôn trọng anh và gật đầu một cách nhân từ khi Coba bảo với dì ấy về việc cháu trai của dì đang tiến bộ như thế nào. Anh chưa bao giờ tự mình nói về nó. Vào thời điểm đó anh đã ghi danh vào Hội Nhân Dân Handelsblad và Groene, và đã là thành viên của Đảng và của Tổng Liên Đoàn Công Nhân Công Nghiệp và Mậu Dịch. Anh chưa từng dự các buổi họp nhưng khi họ đến gặp anh và yêu cầu anh ký vào thỉnh nguyện đơn ủng hộ một cuộc đình công hay đóng góp một giờ lương cho Đảng, anh đã mời họ một ly rượu và Coba rót mời họ một tách trà và anh đã có một cuộc tán gẫu với họ mà không bàn luận với họ về các vấn đề ở góc độ kém quan trọng nhất, đưa họ một hoặc hai đồng rijkdolar và tiễn họ ra đến cầu thang trước, thậm chí còn giữ cửa cho họ. Bản thân anh chỉ là một người làm công ăn lương, và khi còn là một thanh niên anh cũng đã mang ren để giữ cho đôi giày của mình bền hơn, và cách đây rất lâu anh đã sống trong một toà nhà nơi những người hàng xóm luôn để cửa trước mở, và anh đã ngồi ăn một đĩa cơm cho bữa ăn tối, trước khi cha anh phát hiện việc làm đó được trả lương cao như vậy. Và khi anh được tăng lương nữa, họ ăn xúp mỗi ngày kể từ đó. Và Coba đã mua ba chiếc nhẫn bạc, một cho Bobi nữa, và cũng từ đó trở đi cô không muốn dỡ cơm trưa nữa khi họ đi bộ vào ngày Chủ Nhật về vùng quê, cái cách mà cô luôn luôn làm.

Bạn bè của họ cũng đã thăng tiến trên thế giới: Bonger, một bác sĩ, và Graafland, trưởng Sở Bưu Chính, đã từ bỏ việc viết sách, và Van der Meer, người bán ô tô cũng không muốn có liên quan dính líu đến thơ văn. Những người đã không thăng tiến trên thế giới mà họ không bao giờ nhìn thấy nữa. Chẳng hạn, có Kool, người luôn luôn quấn víu với miếng ăn hằng ngày của mình và người đã lên kế hoạch cải tổ thế giới quá lâu để rồi cuối cùng được chuyển đến các thuộc địa. Có Chúa mới biết ở đâu. Lúc đầu còn viết thư cho nhau, nhưng sau đó một thời gian đã ngưng bặt. Họ đã không còn chuyện gì nhiều để viết cho nhau. Anh đã tình cờ gặp lại Hein cách đây một thời gian, người được xác định là một hoạ sĩ. Anh ấy vẽ ra cái tính thể nội tại của linh hồn của mọi thứ nhưng việc làm đó không mang lại bất kỳ khoản tiền nào, và sau khi cha anh qua đời, anh đã bị phá sản. Nhà thơ trẻ không gặp anh trong nhiều năm.

Một ngày nọ, khi nhà thơ nhỏ đang thả bộ đến Pieter Vlamingstraat và đã nhìn thấy anh ta, ăn mặc giống như một người làm dịch vụ lễ tang: Hein, người mà đã từng thể hiện một bức tranh tại một phòng triển lãm tranh, có tên gọi là Chân dung Người trẻ tuổi mắc bệnh Giang mai- bệnh Lao phổi (bằng tiếng Pháp không hơn không kém) và “ thuyết thần trí trong quan niệm”. Họ đang mai táng một người bán tạp hoá địa phương. Những người đàn ông ăn mặc toàn đồ đen, cầm ô đứng trên vỉa hè. Hein cũng vậy. Trời mưa phùn. Anh đội mũ tang, một chiếc mũ chóp, cong queo, quá nhỏ. Chiếc áo tang trang trọng của anh với những sợi dây thắt nút được cài chặt, nó quá nhỏ so với con người anh và gần như sắp bung ra. Nó vắt qua lồng ngực anh với những nếp gấp kỳ cục ở khắp nơi. “Chúa ơi,” Hein nói, “bạn đã trở thành một người bạn tốt biết bao!” Ngay lúc đó, tạ ơn Chúa, họ đã đưa quan tài của người bán tạp hoá ra khỏi nhà. Thật không dễ để có thể thăng tiến trên đời dù rằng bạn biết rất rõ bạn vẫn còn là một nhà thơ nhỏ. Trong mọi trường hợp, anh không thích đi lại trong khu láng giềng đó cho lắm và sau ngày hôm đó, anh không còn muốn đặt chân đến đó nữa. Và rồi, đôi khi bạn cũng cho phép chính mình được ra ngoài để ăn, và bạn được trao thực đơn, bạn không thể hiểu đầu đuôi ra sao, không một dòng đơn thuần nào.

Trong khoá học đầu tiên, bạn học quá nhiều thứ vì bạn không biết điều gì sẽ xảy ra tiếp theo hoặc bạn còn bao xa nữa, và rồi bạn cố gắng làm tốt hơn trong khoá học kế tiếp và kết thúc với quá ít về mọi thứ, và rồi bạn phải hút một điếu xì gà to nặng trong lúc bao tử còn rỗng tếch. Đó là khi bạn ước chi cha bạn đã tìm cho bạn một chỗ làm trong Công ty Vệ sinh, nơi bạn có thể đi dạo trên một con đường yên tĩnh ven kênh đào đầy nắng mới ban mai trong chiếc áo khoác dạ màu xanh, với tiếng lục lạc của người dọn rác và chiếc mũ da bóng loáng có số bằng đồng trên nó, rung lạch cạch chiếc lục lạc mà không chút suy nghĩ gì về nó, trong đôi giày đế dày.

Và hai mươi tám năm nữa trên con đường đưa anh đến mộ phần, anh sẽ thấy mái đầu bạc của cha anh. Anh đã luôn làm tốt và đã không thành tựu bất cứ thứ gì đặc biệt. Anh sẽ nhìn thấy chính mình với cùng một mái đầu, sẽ lê bước trong hai mươi tám năm nữa, và cảm thấy như ông ấy là cha ruột mình. Và hai mươi ba năm sau anh, con gái anh cũng lê bước, vẫn còn là một bé gái. Bobi sẽ không đi đến bất cứ đâu trong hai mươi ba năm tới, thế nhưng cô cũng sẽ bước đi trên cùng một con đường anh đang đi, giống nhau nhưng lại khác. Đó là một đám rước hoàn toàn vô nghĩa, nhà thơ nhỏ nghĩ, nó đè nặng lên linh hồn anh.

Nhưng bên trong một quý ông tiểu tư sản, đàng hoàng, vô hại này vẫn tồn tại một thứ mà không phải là một quý ông mà là một con người, một con người không chỉ muốn chết, mà còn muốn xây một toà tháp của riêng mình, vươn cao lên trời xanh, và sẽ trơ gan cùng tuế nguyệt. Và cũng là một động vật hoang dã nữa, một con vật muốn ăn tươi nuốt sống những sinh vật dửng dưng, đang sống và đã chết, muốn hành xử như thể không có mặt anh ở đó, và muốn tiếp tục ăn tươi nuốt sống cho đến khi tất cả bị nuốt ngấu nghiến và anh là thứ duy nhất còn lại với hư vô.

Nhưng anh không biết nên bắt đầu như thế nào, nên chẳng có gì xảy ra từ đó cả. Anh chưa bao giờ đi xa hơn việc thỉnh thoảng có một bài thơ được chấp nhận đăng trên một tạp chí. Tạp chí Thương mại ca ngợi anh, nhưng cũng ca ngợi quá nhiều người khác; giáo sư Scharten, cảm ơn trời, đã gọi anh là “nhà thơ đầy hứa hẹn”, bạn bè anh, những người giờ đã trở thành những người đàn ông nghiêm túc, đã nói một hoặc hai từ đầy cảm kích về điều đó khi họ nhìn thấy anh, nhưng họ không còn bận tâm về bất cứ điều gì khác nữa. Dần dần các số báo phát hành của các tạp chí cũng bắt đầu vỡ vụn, giống như cuộc đời của một nhà thơ nhỏ, chẳng có gì xảy ra cả. Người trong văn phòng không đọc bất cứ tạp chí nào, nhưng dẫu sao thì anh cũng chỉ viết dưới một bút danh.

 

Một lần nọ, trong một chuyến đi dã ngoại đầy vui vẻ, anh nhìn thấy một cặp vợ chồng trẻ đã hứa hôn, đang ngồi nhìn ra mặt nước, chàng quàng tay phải qua vai vị hôn thê và giữ chặt cổ tay phải của nàng và nàng đặt tay trái lên tay phải của nàng, họ ngồi như vậy, ép sát vào nhau. Nhà thơ nhỏ nhìn họ, thật đáng yêu khi thấy một cặp đôi trẻ đẹp như thế, và nghĩ rằng những người trẻ tuổi này rất phấn khích vì chúng muốn nhiều hơn nữa, rằng chúng chỉ đang khiến cho nhau phải nổ lực hơn đối với  những gì chúng không thể làm và không dám làm, rằng chúng chưa bao giờ biết đâu là điểm dừng – không ai để ý đến điều đó hoặc nghĩ về điều đó. Thật rất đáng yêu, và có lẽ sự thật là họ chỉ vừa mới đính hôn và vẫn còn hài lòng với việc đang yêu nhau đến điên cuồng. Rồi họ nhìn nhau và chàng – tôi nhìn xiên qua hồ nước mắt bạn và thấy ánh lên một tia sáng màu xanh và vàng – hôn lên môi nàng. Nàng đỏ mặt: “Người đàn ông kia đang nhìn kìa”.

Đó là lần duy nhất trong đời mà nhà thơ nhỏ từng cảm thấy cuộc đời mình đang được sống trong đầu của kẻ khác, và nhà thơ nhỏ thậm chí còn cảm thấy bối rối hơn là chính cô gái và cũng đỏ mặt vì thẹn nữa, và anh đưa đồng một phần tư cho người đàn ông đang rảo xung quanh để thu tiền cho các nhạc công.

Sau đó, không ai, trong số những người đã chết hay những người đang sống, đã cho thấy rằng họ có bất cứ ý tưởng nào về những gì nhà thơ nhỏ cảm thấy trong đầu của nhà thơ kia, mà anh đang kéo lê nó theo anh trên suốt chặng đường đi tới mộ phần không chút vinh quang của anh.

Nhà thơ nhỏ đã có đủ. Anh có một thứ tốt đẹp được để lại: 

Trái tim đã chết của tôi khó có thể chịu đựng …. Nhưng anh đã ném nó vào hoả lò trong nhà bếp, không có lửa trong hoả lò vì lúc này là mùa hè.

Và rồi sau đó anh trở nên rất tức giận với mọi thứ, sự sống và cái chết, anh cắt đứt tính dâm đãng bất tận của mình, và viết một quyển sách nhỏ đầy nghiệt ngã và cay đắng, khiến anh trở nên nổi tiếng ngay lập tức. Nhưng điều đó đã xảy ra sau này, chúng ta sẽ có được điều đó. 

Trong lúc này anh chỉ biết nghiến hai hàm răng xinh xắn của anh, một mình trong phòng, nói lớn tiếng lên rằng, “Trở thành một nhà thơ vĩ đại rồi lại gục ngã, chết tiệt!” 

Anh tháo dây buộc giày của mình, đá tung một trong số chúng mạnh đến nỗi nó khiến cho một cô gái ở tầng dưới phải giật mình.

 

VIII.

 

Đó là vào mùa hè. Đầu mùa Thu nhà thơ nhỏ ở vào thời điểm bận rộn đến nỗi thật “không thể” rời khỏi văn phòng. Dì của anh có lý do để hài lòng – cháu trai của bà “bận kinh khủng.” Anh ấy dành ba hoặc bốn buổi tối một tuần để ở lại văn phòng. Anh được cho là phải dành một tuần ở với bà ở Velp (lúc này bà đang sống hưu trí, và đã bán công việc kinh doanh của gia đình), nhưng anh không thể rời đi được, giống như một doanh nhân thực thụ.

Vào Chủ nhật, anh đọc mail, bất cứ thứ gì để khỏi phải suy nghĩ. Mỗi khi có khách ghé thăm, Coba thường nói,”Tôi nghĩ đến từ Thượng Hải, từ Thượng Hải phải không, Eduard?” Và Dì đã có thể nhìn thấy bằng con mắt trong tâm trí mình một thông báo nói rằng “ người đồng nghiệp đáng kính của chúng tôi trong nhiều năm sẽ có mặt ở đây, kể từ ngày 1 tháng 1” – điều đó hơi nhanh – “kể từ ngày 1 tháng 7, một thành viên trong ban giám đốc của chúng tôi”. Nhưng hoá ra mọi chuyện không phải như vậy. Bố vợ anh đã chết. Bố luôn muốn sống ở nông thôn và trong bốn năm qua ông chỉ nuôi gà, cho chim công ăn, và trồng cây ăn quả, mà điều này đã chết. Ông đã giữ các tài khoản. Trứng tại cửa hàng ở nông thôn với giá sáu xu mỗi quả, trong khi ở cửa hàng của họ với giá tám xu mỗi quả, nhưng khi anh bước vào bếp với nửa tá trứng và lau chân trên tấm thảm cửa, anh cảm thấy rằng chỉ cần thêm mười hai xu là bạn có được một thứ gì đó.

Và Mẹ đã tiến triển với công việc đó, bà chia sẻ cuộc sống mới của anh càng nhiều càng tốt, và đã không để bất cứ thứ gì xuất hiện, giống như những bà mẹ tử tế lỗi thời từ những ngày xưa cũ. Ban đêm, một mình một bóng bên ngọn đèn dầu, bà nhìn sát vào tờ báo qua cặp mắt kính và nghĩ về Linnaeusstraat ở Amsterdam. Bà không bao giờ có thể đi ngủ trước lúc chín giờ. Bà thường ngắm nhìn những chiếc xe điện chạy ngang qua quảng trường bên Mauritskade mỗi tối khi bà trông ra từ căn hộ chung cư trên lầu của bà để xem những ánh đèn lướt qua. Và những cây trơ trụi lá, đầy những tổ quạ đen trong Muiderbosch vẫy qua lại trên bầu trời đen kịt. Đó là khi bạn thực sự khao khát mùa hè ở vùng nông thôn. Và bà nghĩ về những cửa hàng vào tối thứ Bảy, với những đám đông đi mua sắm và chính bà đã từng bước xuống Van Swindenstraat với giỏ hàng mua sắm dưới tạp dề của bà khi chúng hoạt động không tốt như thế nào. 

Bạn thực sự có thể nói chuyện với mọi người hồi đó. Vâng, ồ, và  cửa hàng Dapperstraat với hai hàng xe đẩy với, hàng nông sản, cá, phô ma, tách, đĩa cùng với những ngọn đèn dầu toả khói, và đèn thắp bằng ga sáng trắng tự chế tại nhà trong những quả cầu nhỏ.

Mọi người chen lấn và hối hả ở khắp mọi nơi. Sau khi họ đã trở nên sang trọng một thời gian dài, bà vẫn tiếp tục đi chợ vào tối thứ Bảy để mua lươn hun khói từ xe đẩy bán dạo với những cây sào cao màu đen gắn trên cùng với những chiếc núm bằng đồng sang trọng ở trên. Mãi đến khi một cô gái mặc váy xoè nhiều màu, có mái tóc ngắn, đầu không đội mũ nói, “ Chúa tôi, những triệu phú mà cũng ra ngoài mua cá chình sao”. Một kẻ lang thang như thế, với đôi giày màu nâu.

Và sau đó Mẹ bắt đầu trôi đi, trong sự im lặng thì thầm, và ngồi gật gù với cặp mắt kính trên tay phải cho đến khi bà cúi người quá xa về phía trước và giật mình thức dậy. “Ồ, tôi tưởng tôi vừa nghe thấy tiếng chuông xe điện …”

Trong khi đó, trong phòng ngủ của mình, Dora đang viết một câu chuyện ngắn về “Ngài” trong quyển vở học trò mười xu và cô tự nói với lòng mình rằng “Ngài” là một người nào đó mà cô không hề biết, một người vẫn sẽ đến. Và cuốn vở được nhét vội vào mặt sau của ngăn kéo mà không ai có thể lấy được. Cô đỏ mặt mặc dù cô có một mình trong phòng và không ai biết gì về nó.

E. đã đính hôn với một cô nhân viên kế toán ở Amsterdam và nói về ngôi nhà của cô ấy, mà họ đã chưa tìm thấy. Cô nghĩ về việc mang thai một đứa bé. Thật kỳ lạ, một người bạn trai như thế, người đã nói, “trong chừng mực có liên quan” và “như một sự lựa chọn thay thế” đã đứng với đường ly thẳng tắp trên chiếc quần dài bằng vải len xe màu đen bên cạnh chuồng gà, và luôn có chuyện gì đó để nói với Bố về gia đình nhà “Bovenkerks,” ông Bovenkerk, một nhà buôn than đá, bà Bovenkerk, người đã đi nghỉ hè ở Zandvoort, tại  Mon Desir và cậu con trai Bovenkerk sắp dự thi kỳ thi cuối cùng, và vân vân …

E. rất tức giận khi Dora một lần đã nói, “Trông kìa, đó là Bovenkerk”. Cô đã trả lời, “hãy đến làm tình với IJsseldijk và gần như nói thêm “mày già rồi”  Dora lớn hơn một tuổi – nhưng may mắn là sự nuôi dạy cô chiếm thế vượt trội hơn. Dora đỏ bừng mặt nhưng không nói gì. “Cô ấy rất có thể đã đọc một trong những cuốn sổ tay của tôi?” Nhưng tôi chưa bao giờ để chúng nằm bừa bãi!” Khiếp thật, đúng là anh rể. Và mỗi khi anh mặc chiếc áo len đan màu trắng đó! Và đôi mắt đó! Một quý ông thực sự, một túp người không bao giờ nhìn bất cứ thứ gì mỗi khi đi dạo phố ngoại trừ việc để ý xem có ai quen đang đi theo hướng khác hay không. Thật quá nhu nhược. Làm thế nào mà E. có thể chịu đựng được một người như thế! Cô thà đứng tựa vào một cây thông còn hơn. Không, Coba đã làm tốt hơn nhiều. Một người chồng giống như đại dương! Và đột nhiên cô có tầm nhìn về một miền cát trắng, nắng ấm và biển khơi, lướt sóng và những bộ đồ tắm màu xanh và đỏ, về những chiếc váy trắng và lọng che màu trắng và đỏ, về những đụn cát với các bên bị lõm sâu vào với những đám cỏ bên trên bị gió thổi nằm rạp. Và của một cơn sóng đã đánh ngã cô ta xuống nước và cô có thể uống nước mặn.

 

Giờ thì Bố đã chết, họ đã dọn đi hết. Mẹ định trở lại Linnaeusstraat đối diện với Oosterpark. E. sẽ kết hôn vào năm sau và Dora phải kiếm việc làm. Chỉ giúp việc nhà và thỉnh thoảng ở lại với mọi người và không thực sự làm bất cứ việc gì chỉ khiến bạn cảm thấy bồn chồn. Đầu tiên cô dự định đi thăm một người bạn ở Bergen Dan khoảng vài tuần để hồi phục đôi chút cảm giác khó chịu trong mấy tuần qua, rồi sau đó, cô sẵn sàng cùng mẹ đến Amsterdam.

E. sẽ đưa cô đi. Thật không dễ để xin một ngày nghỉ việc khỏi văn phòng nhưng anh sẽ phải làm điều đó.

Dora nhìn anh ta. Anh ta đang nói chuyện lạ làm sao ấy! 

Trên tàu, họ lịch sự và sốt sắng lẫn nhau nhưng rất ít nói chuyện. Họ qua sông IJssel và sông Rhine, Dora ngồi thẳng người trong chiếc váy đen, tay đặt trên đùi, nhìn ra những dòng sông với đôi mắt to lặng lẽ của cô ấy, cho đến khi cô không còn nhìn thấy chúng, nhưng vẫn ngồi tĩnh lặng ở đó và tiếp tục nhìn ra ngoài. 

Thỉnh thoảng anh liếc nhìn khuôn mặt cô rồi lại nhìn ra cửa sổ để không làm phiền cô. Sau đó, anh cố tìm xem liệu anh có thể hình dung hình bóng của cô trong tâm trí anh, từng chút từng chút một, Đầu tiên là  vầng trán cô, mái tóc cô nằm trên nó như thế nào, hơi gợn sóng, đôi mắt mí đôi, và lông mi dài sẫm màu, và đến cặp lông mày đậm hướng lên trên, và tất cả những thứ đó cùng với mắt cô, đặc biệt là đôi mắt, anh thấy chúng lơ lửng trên những cánh đồng ngô, và mũi cô hơi hếch lên một chút, rất thanh tú, và miệng cô, đôi môi đỏ mím chặt, hai tai nhỏ màu hồng trong mờ có thể nhìn thấy được qua những sợi tóc rũ xuống, những sợi tóc loà xoà trước mặt và quai hàm cô thật dài và quý phái.với chiếc cằm nhỏ thon nhọn, với má lúm đồng tiền. Anh không khỏi không nhìn hai đường gờ dọc nhỏ dưới mũi cô.

Anh nhắm mắt lại một lúc và thấy rõ toàn bộ khuôn mặt của cô, đôi má sạm nắng của cô nữa. Và cũng có thể thấy khá rõ ràng bên ngoài, trước hàng cây dương chỉ còn sót lại rất ít lá. Vì đã là tháng Mười rồi. Anh đã phải cười chế nhạo những ai nghĩ rằng anh là một người lỗi lạc, một quý ông đáng kính.

“Hãy nói đi, có đúng là lúc này anh ở lại văn phòng rất muộn mỗi ngày không?” Anh ta gật đầu. “Anh có cần phải làm như thế không?” Anh đã nhún vai. “Thế thì tại sao lại làm điều đó?” Anh lại cười. Để dẫn đầu thế giới. Anh không nhận được nó miễn phí đâu”. Nghe có vẻ không mấy vui với cô ta.

“Anh muốn làm gì sau đó?”

“Nhìn mọi thứ … suy nghĩ … và viết … ít nhất nếu có thể,” cô ấy đã nói với một chút đỏ mặt …” 

Anh nở một nụ cười đầy hiểu biết. “Không thể, Dora à. Điều đó sẽ không đưa em đến bất cứ đâu. Những con vật câm thì khá giả hơn. Em há đã không nghĩ Bovenkerk là một người đàn ông rất hạnh phúc sao?”

Cô giương to đôi mắt trong sự bàng hoàng lặng lẽ. “Ồ, nhưng để viết được những gì bạn cho là tuyệt vời – chà, thật tuyệt, bạn thậm chí còn không biết mình đang làm như thế nào và rồi nó đến rất đột ngột, chính xác là nó phải như vậy. Và về sau khi bạn đọc lại nó, bạn sẽ trở lại cuộc sống trước đây của chính mình một lần nữa nhưng bạn không biết đó là chính mình hay ai khác”.

Đôi mắt cô lấp lánh, có những giọt nước mắt trong đó. Cô hoàn toàn tự tin không còn đỏ mặt vì thẹn thùng nữa. Cô ngồi đó, gối đầu lên tay phải, chống khuỷu tay lên chiếc kệ nhỏ phía trước cửa sổ và nhìn ra ngoài. Nhà thơ nhỏ nghĩ: “cô ấy là một thứ gì rất thật”, và: “bây giờ họ nghĩ tôi là một quý ông trung thực đáng kính”.

Nhưng anh vẫn cay đắng và hiểu biết. “Chúa đưa chúng ta lên đến đỉnh cao chỉ để ném chúng ta xuống trở lại. Con đường lên đỉnh thì ngắn mà thung lũng bên dưới thì dài. Bất cứ ai đã từng lên tới đỉnh núi đều trải qua những ngày còn lại trong đau khổ”.

Cô ấy lắc chiếc đầu có vẻ con gái của mình một cách chậm rãi, rất đỗi dịu dàng và đồng thời cũng rất tư lự. “Tôi sẽ luôn sống trên đỉnh núi”.

Anh muốn nói, “Tốt!” nhưng rồi không nói ra. Cô nhìn ra dòng sông Waal. “Đẹp quá, anh hả?”  Rồi bất thình lình cô đứng dậy, lấy mũ ra khỏi giá hành lý, ghim nhanh vào vị trí, và giữ nó bằng cả hai tay, hai chân dang rộng để giữ thăng bằng, bỗng cười lớn bằng tiếng cười táo bạo như một cô gái tinh nghịch, mắt cô chằm chằm nhìn vào mắt anh.

“Không có Bovenkers cho tôi!” Sau đó, cô dựa phần thân trên của mình ra ngoài cửa sổ và nhìn về phía Nijmegen trải dài trên những ngọn đồi, dọc theo dòng sông, thật không chất Hà Lan, thật vô cùng lãng mạn, nhà chồng trên nhà, cây chồng trên cây, và cô hát vang trong gió và trong tiếng lách cách của con tàu đang chạy qua cầu.

 

IX.

 

Trở thành một nhà thơ vĩ đại rồi sau đó sụp đổ ở thời điểm sung sức nhất trong cuộc đời. 

Đó chắc chắn là một ngày đáng quên về một thời áo sơ mi trắng 36”, quần vải sa-tanh màu.

Không ai đón họ ở đó.

Người bạn không rời khỏi nhà vì mẹ cô nằm liệt giường và họ không có người giúp việc. Người giúp việc là một đứa em gái, không phải của bạn hay của tôi mà là của một người thợ xếp chữ hay người đưa thư, người này lê đi quanh các phòng trên đôi tay và đầu gối để lau sàn nhà, mang sọt rác và những mảnh vỡ của tách trà ra ngoài.

Vì vậy Dora và nhà thơ nhỏ mới có thì giờ ngồi uống tách cà phê trong Mùa Chay, nhìn ra dòng sông và quang cảnh thành phố với những ngọn đồi. Trời đã sang Thu, vào một chiều Thu êm ả có nắng vàng. Mấy cây dẻ vốn đã trơ cành, trút xuống mặt đất những chiếc lá năm cánh màu vàng với thân dày mọng, và những chiếc lá vàng khô nằm rải rắc khắp nơi. Có mùi lá mục luôn khiến trái tim nhà thơ nhỏ xao xuyến như sắp chết, rồi tỉnh thức, rồi trở thành bất tử, chỉ trong một ngày thu vàng, xanh tĩnh lặng như thế sẽ không bao giờ kết thúc. Anh lau một sợi lông tơ trên trán. Bầu trời trong xanh không một vẩn mây, soi mình xuống mặt nước và mặt trời chiếu ánh nắng vàng.

Thành phố nhô lên khỏi mặt nước, vươn lên trời xanh, bến cảng, cầu tàu và nhà cửa, rồi nhiều ngôi nhà xa hơn ở phía trên, có thể nhìn thấy một nửa hoặc tất cả, có thể nhìn thấy ở trên những ngôi nhà thấp hơn, với mái ngói đỏ khắp mọi nơi, và ở đó toạ lạc một nhà thờ khổng lồ như một dấu hiệu qua đó Chúa có thể nhận ra thành phố của Người. Có hai ngọn tháp nhọn, cao và không có sức mạnh, vươn lên cao hơn nữa. 

Cái cách mà nhà thơ nhỏ vươn lên mạnh mẽ, nhưng bất lực, từ dòng sông cuồng nhiệt của thời thơ ấu của mình hướng về Chúa, đấng không bao giờ bước ra từ đằng sau bầu trời xanh và hiển thị chính mình. Nhà thơ nhỏ đã bật cười trước điều kỳ diệu trước mắt mình, đôi mắt nhìn thấy một tượng đài đối với sự uy nghi của Chúa, nơi thực ra chẳng có gì ngoài những lán trại đầy những cuộc sống thị thành nhỏ bé chẳng ra gì, thậm chí không ở Hà Lan văn minh mà ở xa về phía đông.

Họ nhìn thẳng xuống một con phố nhỏ chạy ngược lên dốc từ cầu cảng. Bóng mát đã bắt đầu xuất hiện ở phía bên phải. Và lên trên ngọn đồi là một sân thượng có hàng rào sắt bao quanh, và đằng kia, trên một sân thượng khác, một cái bồn rửa mặt, và một người nào đó, ở lưng chừng đường từ dòng sông đến chỗ Chúa, đã mở một cánh cửa sổ phản chiếu ánh mặt trời chói chang trong chốc lát.

Bên trái của thành phố là một rặng đồi thấp xanh mướt, thẳng tắp “Vaterland”, một con đường hẻm vàng cắt ngang qua sườn dốc. Những chữ mạ vàng của tên trường nội trú Pháp, “ Notre Dame aux Anges” toả sáng phía trên được thấy từ xa, bên trên một toà nhà cao ở chân đồi, nơi kết thúc cánh đồng cỏ. “Notre Dame aux Anges”, những thiên thần nhỏ khoả thân ngây thơ và những những học sinh ngây thơ mặc quần áo đầy đủ. Thượng Đế Hà Lan rốt cục đã đúng, bạn không bao giờ có thể nói với những nhà thơ: Có phải họ đáng kính hay không đáng tôn trọng, họ đàng hoàng hay không đứng đắn?

Thế rồi, nhà thơ nhỏ khơi dậy lại sự suy nghĩ lãng mạn của toàn bộ tình huống. Chúa không có ý gì về điều đó. Người chỉ chơi loanh quanh, chỉ chuẩn bị mọi thứ sẵn sàng cho một sản phẩm mới của The Sorrows of Young Werther nếu nhà thơ nhỏ đã sẵn sàng cho nó.

Vì vậy họ trò chuyện và chơi đùa với những từ ngữ, tư tưởng, và những chuyến bay bổng của trí tưởng tượng và nhìn vào ánh mắt long lanh của nhau bất cứ khi nào một luồng cảm hứng mới xuất hiện. Rồi họ đứng dậy khi tàu đã vượt qua sông. Cô muốn anh mua một món quà xinh xắn để mang về tặng cho Coba vào tối hôm đó, vì vậy họ cùng nhau đi mua quà. Cô khoác tay anh, cánh tay trái của cô luồng qua tay phải của anh và đôi bàn tay nhỏ bé của cô siết chặt vào nhau trong đôi găng tay màu đen mềm mại.

Một chiếc khăn choàng lụa màu tím nhạt có viền được thắt nút hai đầu là thứ anh nên mua. Ồ, vâng, Coba sẽ rất vui được có nó. Cố lên, ông anh rể tốt bụng. Cô nhìn vào mắt anh và áp sát vào cánh tay anh, cho chị gái mình. Không có sự ăn ở hai lòng trong đầu cô, có dòng máu chảy trong đầu cô, nhưng hoàn toàn không trò lá mặt lá trái trong đầu cô. “Xem nè, cái này rất đẹp”.

 

Họ đang đứng dưới thung lũng và nhìn lên ngọn đồi, và nhịp cuốn của cây cầu dẫn đến Belvedere đã đóng khung một bức tranh nhỏ: một quãng đường rải sỏi vắng vẻ, leo dốc nhẹ nhàng, với dải băng màu xanh của lối đi bộ ở mỗi bên, và cây cối với những tán lá màu vàng cam rực rỡ, những cành cây nhìn rõ xuyên qua kẽ lá, và một cặp đèn đường tách xa nhau bằng những quả cầu thuỷ tinh mờ màu trắng sáng.- như một bản khắc nhuốm màu chỉ chờ ai đó viết “Ngày 5 tháng Mười” lên bên dưới. 

Không có tính nhị nguyên trong suy nghĩ của cô khi cô đột nhiên im lặng. Sự khắc sâu trong tư tưởng cô đã làm lệch hướng cuộc trò chuyện của họ. Dù rằng chỉ bản thân cô cảm nhận điều đó, nhưng cô đã không hiểu được nó, giống như Adam và Eva không hiểu sự trần truồng của họ hay “các thiên thần” của Nhà thờ Đức Bà trong trạng thái thiên thần của họ, hoặc các học sinh trường nội trú ăn mặc quần áo chỉnh tề của chúng. Chúa tôi, thế nào là một phụ nữ hiểu được chính mình. Nhưng anh ấy hiểu bản thân mình ổn cả, điều đó hết sức rõ ràng đối với anh ta, và đó chính là lý do tại sao đã không có gì xảy ra. Anh nhìn cô và chàng thi sĩ trong anh đã tôn thờ cô, nâng cô lên ngai vàng ngang hàng với Thượng Đế của Trời và Đất, và anh không dám chạm vào cô.

Và đồng thời, từ trong thẳm sâu của nhà thơ nhỏ, con thú hoang thu mình lại lấy đà, sẵn sàng vồ và nuốt chửng mọi thứ đã trêu chọc anh, mọi thứ đứng xung quanh anh, bước qua anh và không để ý đến anh. Trước hết, chính cô, người đẹp, người được yêu mến, đầu tiên – để không có lý do gì để không nuốt chửng mọi thứ khác. Để nâng cô lên cao tận các vì sao trong đêm đông và làm những điều tồi tệ nhất của anh với cô rồi sau đó để cô rơi tự do xuống vực sâu không đáy. Để trả thù cho cô, trong niềm vui sướng của anh, cho sự dửng dưng đầy châm chọc của cả thế giới. Và ngoài ra, một nhà thơ nữ nhỏ bé còn muốn gì hơn là được gục ngã như thế?

Đó là những suy nghĩ của anh trong khi một con chim sẻ bay lên từ đống phân ngựa trên con đường rải sỏi lên đậu vào một trong những cây cam. Anh hỏi, “Em có biết một cửa hàng đẹp nào quanh đây không?”

Họ mua một chiếc khăn choàng rất đẹp, thanh lịch và trang nhã. Thật tệ là cô đang mặc toàn màu đen, cô thử một khăn choàng tương tự màu đen lên người cô để xem nó trông thế nào, và phần thân trên của cô hơi cong ra phía sau một chút xíu khi cô mặc nó. Nhưng khi thử cái màu tím thì thật tuyệt. Coba chắc chắn sẽ hét lên vì sung sướng. 

Và như thế vào ngày hôm đó cô đồng thời vừa là em gái vừa là người vợ thay thế, vừa là một nhà thơ nữ nhỏ, vừa là một gái điếm hạng sang mà cô chẳng biết chút gì về bản chất được phân chia khác thường của mình và không hiểu bất cứ điều gì về nó. Nhưng đó là những gì mà một ngày để rồi kết thúc tất cả các ngày. 

Cô cất tiếng hát vang trên đường đến Beek, đường vắng vẻ, cô nhảy chân sáo khi đi, cô không thể đừng được cảm xúc. Cô có thể di dời những ngọn núi xung quanh cho vui, và có thể vói một tay giật lấy mặt trời từ trên bầu trời và ném nó qua vai cô xuống dòng sông Waal để nghe nó xì hơi.

Xe điện chạy qua, hút những chiếc lá vàng khô lại, kéo theo sau nó một dòng dài, quay cuồng, di chuyển loanh quanh và xào xạc đằng sau nó, một trò đùa nhỏ của Chúa, điều mà anh có thể dễ dàng cho phép vào một ngày như thế này.

Từ Beek, họ leo lên Berge en Dal, uốn lượn qua những ngọn đồi. Và những ngọn đồi đã gần như không cao hoặc đủ dốc đứng, làm sao bạn để có thể tự làm chính mình mệt mỏi vì chúng? Thế là cô phải tự khiến mình trở nên mệt mỏi vì chúng, hoặc nếu không, cô sẽ bị sức mạnh làm nổ tung ra, tan thành từng mảnh vụn của một nhà thơ nữ nhỏ bé, một người vợ, một người em gái và là một gái điếm hạng sang. 

 

Tại đỉnh núi, họ nhìn xuống một thung lũng nhỏ với những thửa ruộng hình tam giác màu đen, vàng và xanh lục, chạy theo triền dốc lên, xuống của những ngọn đồi, những hàng cây thông và bãi cây sồi ở giữa chúng. Qua khỏi đó, chạy xuống đồng bằng, cách xa hàng nhiều tiếng đồng hồ mà không có những đặc điểm nổi bật nào ngoại trừ một khúc sông rộng thẳng tắp chảy qua cho đến khi khuất nẻo trong một khúc quanh. Ở đó, những căn nhà ngói đỏ, sân gạch rất nhỏ với những ống khói vút cao lên nhưng vẫn bị khuất ở phía xa. Họ đứng đó, ngắm nhìn cảnh vật và rồi, nhận thấy không có gì để làm ngoại trừ quay trở lại.

Đêm đó trên giường, cô không ngủ được, sự trong sáng rực rỡ trong đầu cô sẽ không biến mất. Cô hồi tưởng lại cả ngày và nhìn thấy mọi thứ một lần nữa, trong sáng hoàn toàn. Và tất cả ngay lập tức giống như mặt trời bên trong đầu óc cô: “Tôi yêu anh ấy. Tôi không thể đừng được. Tôi muốn lắm. Chúa hãy ủng hộ con”. Cô bước ra khỏi giường và uống cạn cả bình nước trên bàn.

Sáng sớm hôm sau, cô ngồi trên mép giường trong bộ đồ ngủ, nhìn xuống mắt cá chân mình và suy nghĩ. “Đó là cách nó là, tôi đoán”. Nhưng sự trong sáng rực rỡ đã biến mất.

Anh không muốn suy nghĩ. Là một quý ông đứng đắn, đáng kính, anh ngồi lặng lẽ và xa cách trên xe Tuyến đường số Hai đến văn phòng.

“Chào buổi sáng, tất cả quý vi,” dứt lời, anh ấy đi thẳng đến bàn và bắt đầu phân loại thư từ của mình. 


X.


Vào cuối tháng Ba, thời điểm của đủ thứ việc ập đến. Cả ngày họ lo sửa lại các bằng chứng, Dora và anh, Cả hai đều làm công việc kinh doanh, còn Coba và bé Bobi đã đến La Hague để thăm một người anh họ giàu có ở Indies. Cả hai đã lấy ít ngày nghỉ việc ở văn phòng.

Năm giờ sáng, cô đã về nhà ăn sáng rồi sau đó trở lại văn phòng để hoàn tất công việc của họ. Khi hoàng hôn buông xuống, họ hoàn tất công việc. Chồng giấy tờ nằm ngất ngưởng trên bàn với lá thư gửi cho nhà xuất bản bên cạnh, tất cả những gì nó cần bây giờ là tem thư.

Văn phòng ở trong một phòng trên lầu của một toà nhà trong thành phố, nhưng ở ngoại vi thành phố.- con kênh đào đằng trước toà nhà có một cánh đồng trống ở phía bên kia. 

Dora ngồi trên chiếc ghế cạnh bếp lò, mặc áo khoác và đội mũ, nhìn vào ngọn lửa và nghĩ về thời gian đủ đầy nhất, thời gian thích hợp mà còn lâu mới trôi qua đối với cô. Anh nằm dài trên chiếc đi-văng giữa cửa sổ và bếp lò, dẹp lép đến nỗi cô khó có thể nhìn thấy anh trong căn phòng tối, và anh nhìn ánh sáng vàng của đèn đường trên trần nhà và ánh sáng đỏ rực từ bếp lò trên sàn nhà.

Phía sau ngôi nhà là thành phố, đèn thắp sáng từ các cửa sổ nhưng họ không thấy vì đang ngồi ở phía trước nhà.

Khi Dora nhìn lên, cô thấy cả một vùng quê rộng lớn, nơi bầu trời cao rộng đang mất dần ánh sáng cuối ngày, và bóng tối đã phủ khắp trái đất.

Nhà thơ nhỏ đã có đủ đầy mọi thứ. Sách của anh đã viết xong, anh đã làm cáo chung bài thơ không hồi kết của anh, địa vị xã hội của anh chỉ là một trò hề.

Coba và Bobi cũng có đủ để sống mà không cần đến anh. Đức Chúa trời đã an ủi họ; thời gian chữa lành mọi vết thương. Đó là câu ngạn ngữ được viết trên tường nhà của Dì anh ở Velp.

 

Trời đã vào Xuân, nhưng vẫn còn giống như mùa đông nhưng đã là mùa xuân rồi. Ở đây vẫn còn tuyết rơi và trời hơi lạnh vào ban đêm, thỉnh thoảng có sương giá, nhưng đó chỉ là một chút dễ chịu, chẳng có gì phải quá nghiêm trọng.

Ngày dài hơn, người ở mọi nhà đã bật đèn lúc bảy giờ. Lúc sáu giờ rưỡi, đèn thắp bằng ga dọc theo kênh đào đã được thắp sáng, chúng trông nhợt nhạt và đầy kinh ngạc. Tuyết cuộn quanh chúng, với những bông tuyết mùa xuân nhỏ li ti và tan chảy trước khi rơi xuống đường.

Và rồi cả hai người họ nghĩ đến những cơn mưa mùa hè sẽ đến, và rồi mũi của họ, mũi của những kẻ tự do phóng túng không thể ngăn cản tâm hồn họ, đã ngửi thấy mùi cỏ khô. Anh ta, nham hiểm như tên quyển sách của mình, Tần Thuỷ Hoàn, nhẫn tâm như chính quyển sách, nghĩ rằng anh sẽ không bao giờ ngửi thấy mùi đó nữa, rằng điều này anh cũng đã từ bỏ trong sự thoái vị một cách đường bệ của một ông vua. Cô ấy lòng tràn đầy sự khao khát mơ hồ, và vì vậy, tim cô ngập tràn xúc cảm. Cô khoanh tay trên váy nơi nó bị kéo căng giữa hai đầu gối; cô ngồi trong ghế như thế, hơi khom người tới phía trước một chút.

Những chú bò đã được thả ra đồng, anh và cô đã thấy chúng vào một ngày nắng đẹp. Miền đất này lập tức nhận ra họ, và họ đứng trên đó một cách đầy tin tưởng, mặt trời rất vui khi thấy họ nữa. Sau đó, ngày lại trở nên lạnh hơn, những con bò lại phải vào bên trong chuồng một thời gian. Nhưng cuối cùng trận mưa đá không ngăn nổi mùa xuân.

Những thân cây bạch dương có màu trắng bạc, nhưng đẹp hơn bạc. Ngôn ngữ nghèo nàn, nghèo nàn một cách đáng tội nghiệp. Bất cứ ai biết công việc của Cha đều biết điều đó. 

Các đồng cỏ trông ít bị úng nước hơn, nông dân đã dọn cỏ bón phân, mặt trời mọc cao hơn và lặn chậm hơn. Và Dora nghĩ về việc mặt trời vào tháng Mười Hai đã lớn, đỏ và lạnh trên bầu trời như thế nào và xuống thấp gần đường chân trời lúc bốn giờ chiều, và đi vào một màn sương lạnh, yếu ớt, không còn khả năng tự vệ, rồi biến mất ra làm sao. Nhưng đó là khoảng thời gian cách đây lâu lắm rồi. Và cô nghĩ về việc vào mùa đông, mọi người bật đèn lúc bốn giờ, hy vọng ánh sáng ban ngày cuối cùng sẽ trở lại. Nhưng giờ thì cô biết chắc chắn rằng mặt trời sẽ mọc vào sáng hôm sau. Và sau đó, chà, sau đó sẽ là gì?

Họ vẫn không nói một lời.

Anh nghĩ về khoảng thời gian anh đã làm việc, “làm việc chăm chỉ” như mọi người vẫn nói, về việc gia đình anh đã nói rằng anh bắt đầu trở nên hợp lý hơn như thế nào. Rằng anh đã từng phàn nàn về tất cả những áp lực mà anh phải gánh chịu và về tất cả các loại sự việc diễn ra không như mong muốn ở văn phòng, anh đã nói rằng đêm về anh mơ thấy chúng, và rằng dì anh đã trả lời: “vâng, con trai à, cuộc sống là một công việc kinh doanh nghiêm túc”.

Cô ấy chắc chắn sẽ đọc quyển sách của anh, và mong sẽ nhận một quyển có chữ ký tặng của tác giả, và chờ xem liệu nó có được đưa vào thư viện đăng ký hay không. Cô ấy muốn bị cảm kích mạnh vì nó nhưng không dám vì có rất nhiều người đã khen ngợ nó. Anh thấy chính mình đang lưu hành giữa những người đăng ký trong thư viện ở Velp và điều đó thực sự khiến mọi thứ trở nên đáng giá.

“Gì nữa đây?” Dora nghĩ. Cô đã thấy tuyết tan một lần nữa, và chồi cây lớn dần lên trên cây. Tiếp đến là những tán cây cao sẽ chuyển sang màu nâu toàn khắp.

Với cô, dường như cô đã thấy những điều tương tự cách đây khá lâu. Cùng cách ngồi, hai tay xếp trên váy căng ra giữa hai đầu gối, hơi khom người về phía trước trên ghế.

Trời lại hừng nắng, cô nhìn thấy những ngôi nhà thấp thoáng bóng cây, vàng rực cả mặt ao. Những cây liễu rũ đang trở sang màu vàng, cành của chúng buông xuống chạm trên mặt nước, treo lơ lửng một màu vàng lặng yên như chết một cách đáng tôn sùng trên mặt ao, và họ cũng nhìn thấy ánh sáng vàng của chính họ trong nước. Những đám mây trắng mịn như tơ lướt đi trên mặt nước, chúng lướt qua bầu trời xanh mà không dấu bóng để chiếu xuống mặt ao hồ. Và kìa là những cây liễu rũ trong thành phố vào đầu mùa xuân, một hiện thân vật chất của Thượng Đế giữa những toà nhà cao ngất, đánh thức sự khao khát đó là một ân sủng và khổ đau cùng một lúc. 

Bạn rẽ quanh một góc đường, một góc phố hôi hám, ghê tởm bên cạnh một sạp bán cá bốc mùi hôi thúi của cá trích ướp muối, và rồi một thứ gì đó chợt loé sáng lên từ mắt bạn đi vào tim bạn. Bạn thấy vàng đổ xuống như đại dương, bạn đứng đó, một cậu bé lau mũi bằng bằng mu bàn tay và hét lên: “Fancypants!”. Đó là Amsterdam, thủ đô của Hà Lan, vào đầu mùa xuân.

Trời đã gần vào đêm, những cục than trong bếp lò bỗng chuyển động mạnh và những đóm lửa nhỏ vụt bắn lên, ánh sáng của chúng tràn ngập khắp căn phòng.

“Dora,” anh nói mà không cần cảnh báo, “em nghĩ gì về Penning?” Penning là một người bạn từ thời trẻ của anh. Anh đã không gặp bạn ấy từ khá lâu, chỉ biết rằng anh ấy đã trở thành một kỷ sư, và anh đã gặp lại bạn ấy cách đây hai tuần. Bạn ấy cũng đã ghé thăm một vài lần khi chúng ta rất bận rộn với việc thiết lập bằng chứng, và mỗi lần bạn ấy ở lại, đã chuyện trò cả tiếng đồng hồ. Bạn ấy là một thanh niên có khuôn mặt tươi tắn, đang trên đường vươn tới một sự nghiệp tốt, nhưng bên ngoài công việc, vẫn còn rất trẻ trung. Anh ấy đã nói với họ rằng trong vài tháng nữa, anh sẽ đi đến Nam Mỹ trong một năm hoặc lâu hơn để nạo vét cái gì ở đâu đó, hay xây dựng một bến tàu hay một số thứ gì đó tương tự như vậy. Nhà thơ nhỏ cũng đã đưa anh ta đến gặp mẹ vợ, và bà mê hắn ta ngay, nhưng E. thì không thích hắn ta mấy.

“Còn em nghĩ gì về Penning?” “Anh ấy cũng ổn thôi”. Dora lơ đãng trả lời. Tĩnh lặng. Qua ánh sáng của ngọn đèn đường quét lên trần nhà, bạn có thể nhìn thấy những bông tuyết đang rơi. Bây giờ chúng đang trở nên lớn hơn.

“E. sắp kết hôn vào tháng tới,” cô ngước nhìn lên và nói.

Anh lại nói một cách kỳ lạ, hình như E. sắp kết hôn với Bovenkerk. Cô không trả lời.

Cô bỗng thấy trước mắt mình, giống như một thứ gì đó đã bị lãng quên từ lâu, một dòng sông rộng đang bôn ba đổ ra biển. Sóng của nó đẩy ánh sáng mặt trời về phía biển nhưng nước và ánh sáng thì vô tận. Một chiếc tàu kéo nhỏ kéo theo một đoàn thuyền dài dọc theo con đường mòn màu xanh và vàng. Thuyền rất nhỏ, không đáng kể, ống dẫn hơi của nó gần như không vươn tới bầu trời và chỉ có thể nhìn thấy khói toả ra từ đó, tiếng kêu khàn khàn của nó bị mất hút trong không gian. Trong nhiều tiếng đồng hồ, nó di chuyển trên mặt nước, giữa các cánh đồng, dưới bầu trời đầy kinh hoàng.

Rồi cô thấy một con đường dài vắng vẻ, đầy bụi và ánh sáng. Rồi sau đó lại thấy một cái gì khác: một thảo nguyên bất tận, một con đường nhỏ với cây lá mùa thu ở phía xa hơn một chút về cuối trời, ở đó dưới ánh mặt trời, từ phía bên, và tất cả ngập tràn sắc vàng sống động và bầu trời trong xanh. Và rồi: một dòng sông chảy qua thung lũng. Trời đã tối ở phía đông, và ngày sắp tàn ở phía tây. Thoạt đầu, nét buồn bã vàng vọt từ xa, bên trên nó là màu xanh nhợt nhạt, một ngày không muốn tắt nắng, bóng tối phủ vây một cách mạnh mẽ, nó cất lên từ dưới đất ùa vào bầu trời phía đông và đổ xô về phía tây, nơi có một dòng sông nhuộm một màu đỏ rực, đang gào thét như thể muốn giữ chặt lấy ánh sáng, ánh sáng muốn lưu lại. Và vì vậy dòng sông chảy cùng với ánh sáng ra đại dương cô không thể nào nhìn thấy.

Anh nói,”Penning tiếp tục đến bởi vì em đó”. Cô sửng sốt. Phải mất một giây sau cô mới lấy lại bình tỉnh và hiểu được những gì anh nói.

“Nghe này, Dora, hãy chấp nhận anh ta đi, Anh ấy sẽ hỏi cưới em đó. Anh biết anh ấy sẽ. Hãy đồng ý kết hôn với anh ta đi. Đừng lãng phí cuộc sống của em cho nghệ thuật hay bất cứ điều gì liên quan đến nghệ thuật”.

Cô ấy ngồi giống như cách cô đã đang ngồi. Điểm khác biệt duy nhất là cô ngẩng cao đầu hơn một chút. Cô nhìn vào khung cửa sổ đang chìm vào bóng tối, thỉnh thoảng ánh lên với một vài chấm nhỏ ánh sáng vàng từ ánh sáng của đèn đường. Một trong những bông tuyết lớn hiếm hoi chạm vào khung cửa và tan chảy. Cô không hiểu.

Anh đặt tay lên bàn tay gấp lại của cô, các ngón tay anh chạm vào ngón tay cô dọc theo chiều dài của chúng. Và một sự ham muốn hoang dại từ cơ thể dâng trào lên đầu cô, do máu cô mang lên, mạnh đến nỗi tất cả quần áo trên người cô đều không thể chịu đựng nổi. Trong chốc lát. Nhưng cô đủ bình tĩnh đứng dậy, một tay giữ chặt vào lưng ghế. “Tôi sẽ không kết hôn”. Cô nói như thể cô đang nói với một ai đó rằng kế toán đã nghỉ việc. Như thể anh chưa nói bất cứ điều gì, anh đứng dậy khỏi chiếc ghế dài. “Đây,” anh ta nói, “hãy cầm lấy chìa khoá này?” Nó là chìa khoá cửa trước. Bonger sẽ đến chỗ căn hộ em để lấy nó vào tối nay khoảng mười giờ. Anh ấy sẽ ở lại đây tối nay. Anh ấy phải dọn ra khỏi chỗ ở cũ ngày hôm nay và không thể dọn đến chỗ ở mới cho đến ngày mai. Tôi đã bảo với anh ấy tôi không chắc mình có ở nhà hay không”. 

“Tối nay anh không về nhà?” Lúc này cô hoàn toàn bình tĩnh. Cô mò mẫm quanh bàn để tìm hộp diêm và đốt đèn khí thắp. Bạn không thể nhìn thấy một thứ! “Anh sẽ không về nhà tối nay?” Anh nhún vai, “có lẽ không”. Cô nhìn thẳng vào anh nhưng không có gì bất thường trên khuôn mặt anh ta, trông anh vẫn bình thường như được thấy trong mấy ngày qua, khi anh đang ngồi đọc lại một trong những điều hay của Thành Cát Tư Hãn và cô ngước nhìn lên một lúc khỏi việc sửa chữa các bằng chứng.

Anh đưa cô ra phía cầu thang. “Tạm biệt E. Chúc ngủ ngon. Hẹn gặp lại vào tối mai tại nhà Mẹ”. Anh ấn nhẹ vào tay cô. “Tạm biệt Dora, hẹn gặp lại”. Trong giây lát, cô nghe thấy một cái gì đó trong giọng nói của anh vang lên mỗi khi anh lập lại điều gì đó mà dì của anh đã nói. Lạ thật. “Vâng, tạm biệt!” Anh gọi vói theo sau cô như thể đang bắt chước một cô gái mười sáu tuổi. Sau đó, cánh cửa đóng sầm lại.

 

XI.

 

Cô bước nhanh và phải lách xung quanh để né tránh những vũng nước. Tuyết gần như ngừng rơi, những bông tuyết ướt vẫn đang rơi, xoắn lại chầm chậm rồi rớt xuống hẳn, một ít đáp vào khuôn mặt cô tạo cảm giác dễ chịu. Trong ánh sáng của ngọn đèn đường, cô nhìn thấy những chồi mập mạp trên một trong những cây dẻ ven kênh, với chút ánh sáng le lói nơi những chồi dày nhất. Có một dải ánh sáng màu vàng thẳng tắp trên thân cây, từ trên xuống dưới.

Thực sự, chuyện gì đã xảy ra? Một vũng nước khác, nó trông có vẻ sâu làm sao với sự phản chiếu của bầu trời trong đó, một ngôi sao phản chiếu lấp lánh trong một khoảng trống giữa các đám mây. Bạn có thể bị chóng mặt khi nhìn chăm chăm vào các vũng nước trong lúc đi bộ. Cô biết một bài hát tình cảm của Đức nói về hạnh phúc đó là “ Phía Sau Các Vì Sao”. Hoặc có thể nó đã chìm sâu trong một vũng nước như thế này, tận đáy. Vớ vẩn, có lẽ còn chưa tới nửa inch nước. Ngày của cô cũng sẽ đến. Cô muốn lắm. Nhưng cô muốn gì? Cô có thể muốn một cái gì đó?

Thật đáng yêu khi đi dạo vào buổi tối một mình như thế này và để những suy nghĩ của bạn đến rồi đi và đến trở lại. Và vì cô là một nhà thơ nữ nhỏ bé, cô trích dẫn Jacques Perk cho chính mình khi cô một lần nữa phải lách quanh để tránh một vũng nước và gần như bước ngay vào một vũng nước khác: “Để cảm thấy bản thân bạn bị ràng buộc với chính mình thông qua chỉ một mình bạn”. Cơn gió ẩm ướt nhẹ thổi quanh cô, và cô hít một hơi thật sâu: “Dễ dàng cho bạn để nói” Thật tình mà nói, cô suýt va vào một cặp tình nhân đang hôn nhau dưới ánh đèn đường. 

Cô bỗng cảm thấy mình giống như một quý bà: “Một cặp thật trơ trẽn biết bao!” “Thành quả của tình yêu anh đã ân cần trao cho em. Nhưng giữ lại cho riêng anh chỉ những tiếng thở dài kéo dài mãi mãi”.

Một quý bà trong cô biến mất nhưng Dora vẫn còn thẹn đến đỏ mặt, chỉ có một mình dưới bầu trời đêm, trước những “thành quả” mà người phụ nữ trong bài thơ dường như đã trao tặng. Và cô chợt nhớ lại cái cảm giác mà cô vừa có, Chúa tôi, trước đó chưa quá mười phút: rằng tất cả quần áo của cô hoàn toàn không thể chịu nổi trên người. Cô cảm thấy hai má nóng bừng. “Nó sẽ không xảy ra”. Ngay sau lúc đó, cô thấy mình đang đứng khom người về phía trước.

Bảy giờ rưỡi. “Chào mẹ, con đã về”. 

Khi lên phòng, vứt bỏ mũ và áo khoác, cô mới thấy rõ chuyện gì vừa xảy ra. Một cảm giác cô độc cùng cực và sự bị bỏ rơi mạnh mẽ ập đến trong cô, cảm giác rằng cuộc đời không đáng sống. Cô không hiểu nổi chính mình. Tại sao mình không nắm tay anh ấy, nói với anh ấy rằng “Em yêu anh?” Tại sao cô ấy không muốn làm những gì cô ấy rất muốn làm? Điều gì có thể xảy ra sẽ còn tệ hơn là chịu đựng cái chết trong khi còn đang sống này? Tại sao cô ở đây? Tại sao cô đành phải chết mà chưa nhận được cái hôn? Không chỉ hôn thôi, mà phải thực sự được hôn. Cô phát sáng, toàn thân phát sáng, trái tim như căng phồng. Cô cởi cúc áo trước gương và nhìn bộ ngực trắng ngần trong chiếc váy màu đen, và giữ chặt chúng trong hai tay. Cô thuần khiết và nguyên sơ. Thật quá khôi hài! Và trong cơn hoang mang tột độ, cô cầu xin Chúa, hãy phá trinh tiết cô đi. “Tôi sắp điên rồi?

Áo khoác cô tuột khỏi giường và đáp xuống sàn với sự va chạm không ra tiếng. Đó là chìa khoá. Một ý nghĩ vụt qua đầu cô như một ngọn lửa bùng cháy: Anh ấy đã nói lời tạm biệt cô, có chút gì đó không ổn, cô phải đi về. Cô bình tĩnh, toé một ít nước vào mặt và mặc lại quần áo.

“Tôi đã quên một vài thứ, và tôi sẽ trở lại trong vòng nửa tiếng nữa”.

Lúc tám giờ, cô đang đứng trước cửa nhà anh trở lại và cô bấm chuông. Không có tiếng động bên trong nhà. Cô bấm chuông một lần nữa và rồi kiên quyết mở cửa bằng chìa khoá. Không có ánh sáng ở bất cứ đâu. Ngôi nhà trống vắng, tối om và im lặng khiến cô rùng mình, tim cô đập thình thịch nhưng cô vẫn dũng cảm đi lên lầu. Cửa vào phòng trước để mở toang, ánh sáng từ ngọn đèn đường vẫn còn chiếu lên trần nhà và ánh sáng màu đỏ từ bếp lò vẫn còn toả sáng trên sàn nhà. E. , anh đang ở đâu?” Âm vang nghe thật kinh khủng làm sao!  Cô chạy khắp các phòng, vừa sợ hãi vừa dũng cảm. Sau đó cô chạy thẳng lên cầu thang thứ hai. Cửa phòng ngủ để hé mở, bên trong có ánh sáng chiếu vào. Cô vội đẩy cửa bước vào, hoảng sợ, cô quay đầu bỏ chạy.

“E.  anh đang làm gì vậy?”  Anh ngồi hoàn toàn bất động bên mép giường, nhìn chằm chằm xuống giữa hai đầu gối vào tấm thảm trên sàn nhà. Anh đứng dậy: “Dora”. Có tất cả mọi thứ trong một từ đó và cô đã nghe thấy nó. 

Rồi cả hai cùng rơi xuyên qua ánh sáng vào những vực sâu không đáy và cảm thấy cơ thể mình như những mặt trời đang ca hát.

Nhưng đằng sau tâm trí anh là một góc lạnh như băng, và trong góc đó anh nghĩ: “Đó là sự báo thù, cô ấy phải gánh chịu để chuộc lỗi với thế giới” ….

Quỷ dữ đang ngồi trong một quán Cafe De Kroon, ở giữa phòng kế bên một cây cột. Anh ta đặt chiếc đồng hồ vàng mỏng của mình trên bàn trước mặt anh. Hai mụt ruồi to trên trán trở nên lớn hơn bao giờ hết. 

“Tám giờ mười lăm. Thoải mái hoàn toàn”. Ai đó vỗ vai anh. Thượng Đế của Trời và Đất đã đứng sau lưng anh. “Hãy đến và xem”.

 

XII.

 

Lúc mười giờ rưỡi, Bonger và Graafland đã tìm thấy anh ta. Bonger đã nhận được chìa khoá từ mẹ vợ. Anh ta đứng trần truồng ngay giữa phòng. Cánh tay trái buông thõng một bên hông, siết chặt nắm đấm; cánh tay phải giơ lên, ngón tay chỉ lên trời. Có mùi hương hoa loa kèn của thung lũng thoảng đưa. Một chiếc mũ bê-rê nằm trên sàn nhà. Chiếc giường trong tình trạng lộn xộn.

Cả hai cùng kêu lên một lúc, “Eduard!” 

Ta là Thượng Đế đây,” anh nói. “Ta còn vĩ đại hơn cả Thượng Đế. Ta là kẻ không dễ gì lay chuyển, là kẻ không khoang nhượng. Ta không biết thiện và ác. Ta làm những gì ta phải làm. Những gì ta làm đều tốt”.

Bonger nhặt tấm ra trải giường rồi bước tới chỗ anh.

“Cút đi,” anh nói và lùi lại một bước.

Bonger vẫn không di chuyển.

“Chẳng phải tôi đã nói tôi là Chúa sao? Tôi là cuộc sống vĩnh cữu. Tôi đang tạo một sự sinh sản. Chúa đã gửi tôi đến để làm việc này. Khỏi cần phải che kín thân tôi”. 

Một lần nữa anh ta lùi lại.

“Đừng che cho tôi. Tôi đang làm công việc sinh sản. Mang tất cả phụ nữ đến đây, tất cả phụ nữ trẻ. Tôi nói tất cả họ. Tôi biết bạn là ai. Bạn là Bonger, còn bạn kia là Graafland. Tôi biết hai bạn đều ổn cả. Hãy đặt tấm ra trải giường ấy lên giường. Cô ấy phải nằm lên trên đó.

Người đầu tiên, hãy đặt cô ấy lên đó, khoả thân. Những người khác không cần phải rời đi. Bonger, bạn có thể đi, bạn cũng vậy, Graafland”.

Bonger đặt tay lên vai anh. “Đứng yên. Bỏ cánh tay xuống”.

Cánh tay buông thõng, Bonger choàng tấm ra trải giường quanh người anh ta.

“Ngồi xuống chiếc ghế”. Anh ta đã ngồi. Graafland thu nhặt quần áo, từ giường, từ ghế, từ sàn nhà lên.

“Mặc quần áo vào”.

Anh nhu mì, từ tốn mặc lại tất cả quần áo của mình.

 

Nhà thơ nhỏ bây giờ đã chết. Những người ở Delft hoặc ở Oldenzwaal đã được chứng minh là đúng một cách vẻ vang. Anh ta nhất định không bao giờ hoàn toàn đúng trong đầu. 

Quyển sách của anh được in lần thứ tư, và những bài thơ sưu tầm của anh cũng đã được xuất bản với lời giới thiệu của Giáo sư Scharten hoặc một người nào đó tương tự. Một kẻ ranh mãnh nào đó đã xoay sở mọi cách để trở thành một biên tập viên tài chính của tờ báo tỉnh Arnhem và Gelderland Courant nói với bất cứ ai lắng nghe rằng họ đã đi học cùng trường với nhau. Và mỗi lần anh ấy đến Amsterdam, việc này rất thường xuyên, anh đều vội vã đến với Bonger và đọc một mạch về nhà thơ nhỏ, về tác phẩm và những hoạt động quan trọng của nhà thơ nhỏ, và luôn nói rằng anh đã từng ngồi kế bên anh ta ở trường.

 

Coba là người có lòng tử tế, dễ tha thứ và chơn chất, cái cách mà cô luôn như vậy. Cô rất sùng đạo, dù không có những câu châm ngôn ở trên tường để giúp cô, và cô đến Nhà thờ Cải Cách Hà Lan ở  Boezemsingel mỗi Chủ nhật, kể từ khi cô sống ở Rotterdam cho đến nay, như một sự trừng phạt vì đã một lần tán tỉnh ai đó trong khi cô đã kết hôn. Tốt bụng và tha thứ, cô nghĩ về việc cô cũng đang đi trên bờ vực thẳm.

Dora là một “bà mẹ đơn thân”. Cô ấy làm việc tại một văn phòng ở Rotterdam, nơi sếp của cô biết rõ câu chuyện của cô đã không coi thường cô vì nó, mà trái lại còn tôn trọng cô. Điều này rất bất thường đối với một người Rotterdam.

Nhờ ở người đàn ông đó, dường như đối với tôi, rằng sự đồi bại của một thành phố có thể được tha vào Ngày Phán Xét, nhưng thực ra như vậy là quá tệ.

Cô và con sống với Coba và Bobi và cô bước đi trong đời với sự ngẩng cao đầu, tự hào và trầm lặng. Cô dự định lấy bằng tốt nghiệp và sau đó, với số tiền để lại từ người cha đã chết, cô sẽ theo học ngành luật. Chắc chắn không phải là văn học. Cô muốn làm việc, không muốn suy nghĩ.

Nhưng tôi không tin rằng cô ấy sẽ bóp ngạt tâm hồn mình. Những người thân yêu với trái tim của Đức Chúa Trời hơn tất cả những người khác phải gánh chịu gánh nặng đó cho đến cùng.

                   Tháng Sáu – Tháng Bảy 1917

Tái bút:

Những ai muốn biết thêm về cách thức hoạt động của tình yêu, tôi sẽ liên kết rằng nàng Dora của nhà thơ nhỏ bắt nguồn từ một phiên bản được lý tưởng hoá của một cô gái trẻ mà tôi cảm kích, từ một khoảng cách, từ một yêu thương của một người đàn ông lớn tuổi.

Sau khi cô đọc bản thảo tôi kể cho cô về điều đó, và câu trả lời của cô ấy là: “Nhưng tôi đã chưa bao giờ chơi đi-a-bô-lô”. Cô nói điều đó không phải vì tính hay làm dáng hay vì sự bối rối, cô ấy chỉ đơn giản là không hiểu một điều.

 

                 Nescio , 5 tháng Giêng, 1918

                     

                        Phan Thiện Trì dịch

                                Jan. 2022

 

LITTLE POET

The third year of the war.

Bellum transit, amor manet.Z

TWICE the God of the Netherlands shook his venerable head and twice his long venerable muttonchops slid back and forth across his vest.

It didn’t add up. There must be a mistake somewhere. A poet with no hair, that was very strange. The God of the Netherlands hadn’t cared much for poets for thirty years. You could no longer tell what to make of them. Re­spectable or disrespectable? Impossible to say.

“He said he was filled with me. That used to be a given.”

God sighed. He’d have to talk it over with a real poet tomorrow. Maybe Potgieter. These days he had nothing but worries on his mind.

A girl was walking down there, on Leidsestraat. God looked down upon her with fatherly satisfaction. The girl was like hundreds of other girls that summer, all in white, silk blouse and short knit skirt and white stockings, delicate little ankles and flat white shoes, and she had lovely eyes like hundreds of other girls in Amsterdam. Eyes that looked like they knew something very special. They didn’t like that. Our Dear Lord had never thought about it be­fore. But now it bothered him. It had started with a line of poetry about “knowing eyes,” then one of them said that it was all a trick, a pious trick of God’s. That they didn’t know any­thing, they just looked as though they knew, they couldn’t help it. God had never thought about that before.

Now they had gotten him thinking about everything. And just when it was so important to stay focused. The Kaiser himself had said it again, just recently: “Der Tüchtigkeit ist die Welt.”*

But once you start puzzling over something it’s not so easy to stop. Now that he was paying attention, he saw hundreds, thousands of those girls, each one different and every one the same. Sometimes he no longer knew if he had seen ten thousand girls or one girl ten thou­sand times. “God in Heaven, had he created all these girls? Or was it a trick of the devil, all

those knowing eyes?”

Look, there goes the little poet. A handsome young man, you have to admit: thin, with a nicely shaved boyish face except for a pair of flying buttresses in front of his ears, and so suntanned. He greets someone, tilting his straw hat a fraction above his close-cut hair.

Bizarre—so little hair—but it definitely was a little poet because God couldn’t figure him out, or Potgieter either. And Professor Volmer wanted nothing to do with him.

And he suffered terribly from those know­ing eyes, more than any decent upstanding per­son would. The devil had him in his clutches. He was a weak little poet and they drove him insane. He was respectable out of weakness. Another strange thing that God had never thought about before—respectable was respect­able, full stop. The little poet didn’t know which one he should fall in love with, no sooner had he looked into one pair of knowing eyes than he saw another. He was so weak, so won­derfully weak. But after he saw the twenty-fifth girl he felt something strange in his brain. He had already spitefully kicked over a chair on the sidewalk while walking past a cafe. Because

he knew perfectly well that they didn’t know a thing, that they burst out in stupid giggles whenever he doffed his hat to them, or just stared at him, stinking of bourgeois-young-lady conceitedness. And still he couldn’t leave them alone. Then he had to flee somewhere where there were no women, and he raged against God and the devil too, and he said that he’d end up as a lunatic at this rate and sit slobber­ing for years with his mouth hanging open wearing a leather bib without even realizing it. But the next day he would look again, and think: Mon âme prend son élan vers l’infini.”*

Potgieter said that the guy was crazy and that back in Piet Hein’s day....

The little poet took his course through the wastelands of Amsterdam, poetizing all the way. Nothing but Dutch people as far as the eye could see. Again he greeted someone, a gentle­man in a top hat and tails straight out of an Eduard Verkade play. They spoke briefly, there on the square in front of Centraal Station.

On the ground floor God came strolling by in his yellow Panama hat, with a silver-handled walking stick and a shabby coat of an indefin­able brown color draped loosely across his


back, dandruff on his collar, his trousers too wide and too long and bunched on the tops of his shoes. You could see his muttonchops from behind and when he slowly climbed the two steps up to the station hall, the evening sun, low in the sky, glowed in God’s polished left shoe.

“Who was that gentleman?” asked the little poet. “God,” said the devil, and the knobby bumps on his forehead grew bigger. The little poet said nothing. “Your God, your boss’s God and your father-in-law’s God and your boss’s accountant’s God and the manager of the Nieuwe Karseboom’s God. Your aunt’s, the one who told you you had to doff your hat when you walked past your boss’s house in Delft or Oldenzaal, or wherever it was, even if no one was there, because you never knew if someone might see. Your aunt who always makes your sister knit: ‘An idle woman is the devil’s plaything.’ The God of all those people who say ‘1 never expected that from you’ when you try to live a little, and who say ‘I thought so, that was bound to end badly’ when you end up in the poorhouse later. The God who resents that you have Saturday afternoons off, the God of

Professor Volmer, lecturer in accounting and business, who thinks you spend too much time looking up at the sky. The God of everyone who has no other option besides work or boredom. The God of the Netherlands, of all of the Neth­erlands, from Surhuis moor down to Spekholz heath, the patron and benefactor of the League of Heads of Large Families and of the Associ­ation for the Reclamation of Fallen Women. They call it falling. I’m fallen too.”

“It’s not a very accurate metaphor, you’re right,” the little poet said absently.

He had been looking all this time at a lady who was standing there waiting. At the won­derful sharp edges of the tendons on her ankles, right above her flat white shoes. Of course she was wearing white flats with a short skirt and stockings with a terribly open weave so that her white legs shimmered through. “Now’s not a bad time to fall,” the little poet thought.

“Mon âme prend son élan vers l’infini,” said the devil with an ironic smile, the way he had smiled for all eternity.

Then the little poet saw the square in front of the station again, and saw the devil, and


heard what he had said.

“Devil,” he said, “don’t try to trick me.”

The devil just shrugged his shoulders and looked at the station clock. Ten past seven. He held his hand over his mouth and yawned. Eternity wasn’t going anywhere. And the fact is, he knew all too many little poets already. Why bother giving such big speeches?

The little poet set off for home and looked up at the wheel with little wings on it, on the railing of the high railroad bridge over the west passage, the wheel on a little iron post that wants to fly and never leaves its place and can be seen from the distant places it never reaches, even the Torensluis, looking up the Singel. The blue sky was still so hopelessly far above it. Even the lampposts at either end of the bridge hold their arc lights high above the little wheel. There’s not much you can do if you’re mounted on a little iron post on a rail­road bridge. At best you can sit there and think, and that doesn’t get you anywhere. The little poet thought that it’s better to be a wheel on a post than a little poet. The wheel is made of iron, a little poet isn’t.

Meanwhile God sat by himself in a first-

class compartment on the train to Delft and stared out the window and saw nothing. He had never been much for sightseeing. He held a report in his hand and files lay next to him on the seat.

The God of the Netherlands thought. These were strange times. God started reading again:

“Man’s fate is to feel regret when he fails to reach his goal and to feel regret when he succeeds.

“There is no consolation in virtue and no consolation in sin.

“Therefore, cheerfully renounce all expecta­tions. Place your hope in eternity: there is no awakening from this dream.”

These were truly strange times. It couldn’t end well. And now he’d gone and said that a new age had dawned. The age of Ironic Dilet­tantism was over, a new age of Trailblazing Op­timism and Dynamic Vigor had begun. That’s what he’d gone and said. And then, with a sigh, God turned back to the manuscript of a thick book about Taylor’s Principles of Scientific Management and started reading.

The little poet had never fallen.

To be a great poet, and then to fall: When the little poet thought about what he actually wanted most of all, it was that. To astound the world, just once, and to have just once an affair with a poetess. He thought this thought again and again, for years, he was so naive.

The little poet was respectably married to an adorable, unaffected, lively young woman. Of course he had fallen in love right away, as soon as he started to see the world. Mornings he saw her while he was walking to the office and she to school; afternoons at a quarter past one, during “market hour” when the stock mar­ket was in session and he was allowed out of the office and she was coming out of the dairy where she ate her sandwiches with a glass of milk and sometimes a cream puff or a piece of apple pie with whipped cream. Her sandwiches.

And she was so mad at him for always standing there like that, he was simply ridicu­lous. The other girls called him “Mr. Right” be­cause he wore a cape and had such beautiful black hair (he didn’t wear it cut short back then), and they looked at him as they walked

past, three of them arm in arm, just looked for a second and then giggled at each other, the two outer girls with their heads bent in toward the middle girl, who looked at the ground, gig­gling too. But she walked grandly past and nev­er looked and told Mien Bus that he had come for her, for Mien, and then they all laughed be­cause they knew better. She stamped her little seventeen-year-old schoolgirl foot on the ground. “For me? That creep?” and she threw back her head.

And he was unhappy. He counted the hours. At eleven at night he looked up at the sky. It was exactly halfway from one thirty in the afternoon to eight thirty in the morning. And he wrote poetry.

He composed poems imitating Heine, in Dutch and German, poems after Hélène Swarth and Kloos and Van Eeden.

THE HOURS How heavily tread the hours with pond’rous gait.

THE CRUSADERS (this one in German)


Down below, the Holy City Lay outspread in all its glory.

That was her. Unfortunately the gates were shut tight. He wondered why he should go on living. And he rebelled against God.

My God, will my torments never find an end?

He couldn’t bear to look at the people in his office; as soon as he arrived at a quarter past nine he felt like hitting someone. And then he would suddenly be transformed from gloomy to ecstatic. And he wrote more poems.

My sacred love...

Now is the world an endless land of sum­mer ...

God throws open the gates of Heaven,

My love sits there on a throne of gold.

This went on for eleven months or so. Then came three months when he had a job in a pro­vincial town where they still today talk about

what a crazy guy that was.

Then he got her. He was nineteen years old. He wrote her a letter saying that he would be in Amsterdam for two days and he would very much like to speak with her. They knew each other’s names, Amsterdam really is just a vil­lage. She had missed him a lot in those hun­dred days and she came. Her mother didn’t ob­ject: “as long as he’s nice with a good job and she likes him ... but no fooling around!” She came to Muiderpoort one evening and he could see that she definitely knew what he wanted to ask her. It was so strange, so ordinary, he was utterly unable to poetize. And of course she said she didn’t understand, but they walked to­gether up Sarphatistraat anyway. The conver­sation was halting, what did they have to say to each other, they hardly knew each other yet.

He had imagined that he would speak wonders, that the words would hurtle out of him like the broad Waal River rushing past the boats on the pontoon jetty at Nijmegen.

But they talked about his job in the other town and about her parents. And they said goodbye in front of her house and he gave her a kiss, all the way on the left side of her forehead.

And she was so pleased, she had a boyfriend, and so handsome, what would Lou say. Too bad he lived out of town. So annoying, espe­cially on Sunday afternoons when he didn’t come see her so she had to stay at home.

The second evening he was allowed to come upstairs. Things had to move fast because he only had two days off.

His father had paid her father a visit and now he was allowed to come upstairs. Her fath­er was sitting there, and his, and her mother and grandmother and an aunt. Her two little sisters had been sent to bed early. And then he got her, and the aunt said afterwards, “What a nice young man.”

The next Sunday afternoon, they went to his house, of course, and a hunchbacked wo­man happened to be there, a cousin, wearing trousers and a lorgnette and drinking beer. Coba was as sweet as can be to her future mother-in-law and her future mother-in-law was as sweet as can be to her.

“What a cute bag you have. Is it from City?” “No, from Liberty.” “I see a lot of those bags with the little pouch on the top these days.” “To tell you the truth I don’t like that kind of bag very much.” “Yes, well, to each his own. Our Riek has one and I quite like it.” He sat there with them and didn’t understand a thing. Was he the same person who had walked the streets at night and said that God had thrown open the gates of Heaven? Strange.

But she was very adorable and unaffected and lively and young and did not kiss him on the forehead but right on his lips and his neck, in the hall, before they went into the room. She had to stand on her tiptoes and put her hands on his shoulders to do it. And she began to love him very much and he loved her very much too and hugged her close.

The situation remained mysterious to him, though, and he didn’t write any more poetry until after he was married.

And now they had been married for six years and had a child, an adorable five-year-old girl all the aunts liked to cuddle. She had a little money and he had a little money and he’d found a job in Amsterdam that he wasn’t half bad at, in his opinion, and they were more or less happy.

But since he was a true little poet some­thing had to be missing. What is anything that a little poet actually has ever worth to him? That he just has, day in and day out. All those days. And forever is a terribly long time to be married. And a very adorable, unaffected, and lively young woman who loves her husband and copies out his manuscripts in nice hand­writing but has slept next to him for two thou­sand nights already and knows that he can’t stand a drafty room and can’t get out of bed in the morning and can’t ever leave any jam un­eaten in the jar—if he is a poet, a woman like that is truly something fit for the devil.

Ill

A great poet, and then to fall. But nothing ever came of that, because if you’re a little poet the prettiest girls are always walking on the other side of the canal. And so his whole life turned into one long poem, and that can be tedious too.

He was sitting in a streetcar, quietly poetiz­ing away, sitting and staring, with his hands on the knob of his walking stick and thinking all the while, as little poets are wont to do, that he had such nice, pale, delicate, thin hands. It was

around six o’clock on a Sunday evening in November, the streets were dark and empty. A lady, twenty-six or so, stepped onto the street­car, stately, tall, in a brown suit with a stand- up collar, the cuffs and hems trimmed with black fur and her hands in a large matching muff, made of the same brown fabric with the same fur trim, and her delicate little face under a small brown hat with black fur. The whole ensemble was textbook Line Two, Museum District.

The little poet looked up for a moment, straight into her eyes, but she saw only the empty seat in the corner and walked right past him, tall and stately. Her husband followed be­hind her, clean-shaven, in black, with a tall hat on his graying, short hair.

When she sat down the little poet couldn’t see her, because he was sitting on the same side, farther forward, with four people between them.

Monsieur sat directly across from her, as was proper, and looked at his watch and said something. The time, obviously. Then they said nothing more. No question about it, they were married.

The little poet decided they must have gone out for a visit and were now on their way home for dinner. Did they have a child, or children? Did her husband behave as was proper in the bedroom too? God let it happen: the little poet saw the man clear as day in front of him there on the streetcar, in nothing but a shirt and socks—a flannel shirt, of course, yes, gray flan­nel, not pretty and white—in his forties he must be, with weird hairs sticking up on his bare legs, and his tall derby hat on. Too bad he didn’t wear glasses. And he heard the man ask in his proper Museum District voice, “Shall I leave the light on, Clara?” Her name, after all, must be Clara, the dazzling. And the little poet thought that Monsieur would say “Excuse me!” to her at a certain moment. Yes, God lets a per­son’s thoughts wander so bizarrely. Strange, outlandish passages turn up in never-ending poems like his.

Then the little poet looked up at the window across from him in the streetcar. The houses were all dark, and the ladies reading this know perfectly well that in such circumstances you see all the passengers in the streetcar reflected in the window, outside.

The contemplative eyes of the little poet then looked straight into the contemplative eyes of Clara, the dazzling, which looked as though they knew something very special, but that was just an illusion. For a moment, the four contemplative eyes grew bigger and more dazzling, then the little poet lost his nerve, he was a well-behaved young man after all, even if there were such strange meanderings in his never-ending poem, and he looked at the brown fabric and black fur and at the vague shape of her legs under her suit and then wrenched his gaze toward a dairy outside. The curtains were drawn, it was Sunday. You can always look through people’s reflections if you want, and P. C. Hooftstraat has really come down in the world, in the past there would nev­er have been a milkman there, now there’s even a greengrocer.

But when he looked back at how one of her hairs had come loose and was hanging down over her left temple, so lovely, so softly wavy, their eyes met again, for a moment. “I think you’re handsome, do you think I’m pretty?” “I want you, if I had the courage, do you want me too, if you had the courage?” “I want to live,

really live for once, be free, be a Goddess and not a lady from the Museum District, not so- and-so’s daughter, so-and-so’s sister, so-and- so’s wife, so-and-so’s mother, Mrs. So-and-so’s friend. Just for a little while, in my thoughts. My thoughts go out to you, through my eyes, my thoughts range far and wide, forwards and backwards in time, through all veils and cover­ings. No one can stop them, no one can harm them, they go out to you through my eyes.”

And his thoughts went out to her like that too, through his eyes into hers, in those few short seconds. And no one knew.

A tall tower surged up from his spirit and a tall tower surged up from hers. And they looked out far and wide over everything and saw only each other.

And so the little poet poetized away at his never-ending poem and even the silliest wo­man could poetize along with him. But they couldn’t be together. And maybe that was what made it so beautiful.

At Hobbemastraat her husband glanced at the conductor and his hand went straight to the cord. And she stood up and walked through the streetcar, behind her husband, proper and

stately and without seeing anyone.

But while Monsieur stepped off the tram and she had to wait on the step in front of the door, her left shoulder towards the little poet, and it was almost over, she vanquished the Museum District for just one infinitesimal mo­ment and looked.

“I think you’re handsome and you think I’m pretty too. My heart sings in my breast and my brain sings beneath my hair. Pretty hair, hmm?” The little poet kept poetizing his poem, without end. But the poem took a somber turn and Amsterdam was dark and empty.

Like a true ridiculous little poet he wandered around the Museum District on a few afternoons after that, always feeling ter­ribly poor and never quite sure if his tie was tied straight and his collar was clean and if he looked polished enough in general. But he nev­er saw her again, of course, maybe she didn’t even live in Amsterdam. There was a house on the corner, surrounded by a small garden, and growing against the wall was a climbing vine that bloomed without leaves in the soft Novem­ber air, flowering in little yellow stars. He de­cided that this was the house where she lived

and he named the vine “Clara.”

Still, he did love his wife and his wife loved him very much and they gave each other everything they wanted.

Why did God ever make anyone a little poet?

IV

The devil always has a good time with ador­able, unaffected young women who love their lawfully wedded husbands very much. When they’ve been married for a year or so they start to feel a strange homesickness for a land they know. But they’ve never been there. How can they miss something they don’t know? How can you know something you don’t actually know? Strange. What do they long for? They fling open the balcony doors one spring morn­ing, singing, and suddenly feel vaguely sad, and why? C’est là, c’est là qu’il faut être. Là?* Where? “I’m crazy.” And they hug their child tight and kiss it all over.

Coba is sitting at an outdoor table at the Beursbengel café on the Damrak, one of those tables with a heavy round marble top and a

copper band around the edge. Her little girl is sitting across from her and the girl’s bare little legs in low white socks dangle off of the chair. She has a piece of pie and a glass of milk and is eating with her little fingers. Her adorable eyes are so big and look around at everything. The child is awed by the special treat and all the people, but is very lively and cheerful. Mama looks to make sure she isn’t making a mess and gently helps her but doesn’t say much.

In the corner sits the devil, twisting the ends of his mustache. I once heard a woman, a high-minded, principled woman, say: “A man like that, what does he take me for? Does he think I’ll fall in love with him just because he tugs at a wisp of hair? Bah!” Don’t trust this woman too much. Now she’s lying awake at night clenching her wet pillow in her teeth.

Coba takes off her jacket and lays it across her knees; it’s too warm out for a blue twill suit. She is wearing a white blouse and her arms show through it, so pinkish brown, and the very top of her back and her chest too. You can see where her undershirt ends and that it’s hanging from her shoulders on lace ribbons. Now she sucks in her upper lip, sticks out her lower jaw, and smoothes down her hair with her right hand, she turns her head a little and the tip of her tongue appears, brushes along her upper lip, and quickly disappears again.

The devil twists his mustache. Now she says something sweet to her little girl and laughs, showing all her teeth; she has a good set of teeth—strong, even, dazzling white—so that you want to hold out your hand for her to bite, on the outside between pinkie and wrist. It is early May. For the first time this year she is wearing a V-neck blouse and her chest is white, so intensely white that the devil cannot help but think of heavenly light. And her collar­bones stand out so perkily next to the indenta­tion in her neck. She brushes the edge of her blouse with her slender fingers. Now she wipes the dessert off her child’s hands with her lace- fringed handkerchief. She takes her child’s little hand in her own two hands and squeezes it and gives the child a kiss on her big eyes and the child asks, “Mommy, why did you do that?” And she blushes and asks, “Do what, Bobi?” “Why did you suddenly kiss me?” “But Mommy kisses you like that all the time, doesn’t she?

Do you want another piece of pie, honey? But you can’t make such a big mess, okay? Should Mommy go choose one for you? Stay right here, okay?” And Mommy goes inside, her hips just barely swaying, her blue twill skirt swinging back and forth. Then she comes back out holding a plate and laughs at her little girl from the doorway and sits back down. The dev­il twists the ends of his mustache. And sud­denly she is afraid. What if he says something to her? What should she do? “Come on, Bobi, finish up, wait, should I help you?” And she picks up half the piece of pie on the tines of her fork and sticks it in the girl’s mouth. She feels the fat lady next to her looking. The child has a face full of whipped cream. “Bah, what a messy girl!” “But Mama, you did it!” And there’s Papa. He says hello and doffs his hat to the devil and the devil doffs his hat to Papa. Mommy blushes again, this time down to the indentation in her neck, but the little poet doesn’t see it. He’s been married too long.

She stands up and helps the child from her chair. “You want to leave right now?” “I have to go buy some wool to finish knitting my sweat­er. I can’t find the color anywhere. I’ve already been to four stores and then I thought I should

come here first, it was getting late.” The little child’s eyes open very wide and she looks up at Mommy. “All right, we can go. Did you pay? Waiter!” The little poet doffs, the devil doffs, Mommy nods stiffly. Bobi waves her little hand and says in a high-pitched little voice, “Good­bye, mister.” The devil nods and smiles and winks. “Mommy, that man was looking at you the whole time.”

Luckily the little poet didn’t hear a thing, his poem without end has once again reached a stage that is driving him out of his mind. He sees all the women sitting at the outdoor tables and walks past them to the street. “Oh God,” he thinks, “what if you performed a miracle now, what if all their clothes suddenly fell off?” A nearly mad little poet thinks the strangest things. You and I, dear reader, never think such things. And my lady readers.... Mercy me, perish the thought.

Six years they’d been married. And while she sliced the bread every morning and spread the butter and poured tea, for him and for Bobi and for the maid, and sometimes for the clean­ing lady... Youtry slicing bread and making sandwiches for four kids just once, if you’re not used to it, the way the unfortunate writer of these pages has done on occasion, it’ll drive you insane. Over time you’d probably get used to it, but dear God, over time it would also get horrifically boring if you were unfortunate enough to think about it.

All right, so, while she was doing these things over and over again, it pleased God—the true God, God of heaven and earth—to make Dora, her sister, grow up and turn into a wo­man, beautiful as a racehorse. She was one of the two little sisters who had been sent to bed early on the evening he was allowed to come upstairs for the first time.

It took a long time before he saw her. But she had seen him long before. It was when she was fifteen. He was recently married, just over a year, and he came back from a trip where he’d gotten a lot of sun. He was wearing a light gray suit and brown shoes and a white hat with the brim folded down all the way around. Back then they still threw stones at you on Rein- wardtstraat if the brim of your hat was folded down all the way around, but now it’s allowed. His in-laws lived in the country then, some­where along the IJssel River in a white house with a sunroom and a porch along the second floor. She was still barely more than a child, her skirt came down halfway between her knees and her ankles. Now grown women walk around like that. She was wearing a sundress with straps over her shoulders, wide vertical red stripes with thin white stripes between them; the shoulder straps were just red. Under this high-cut dress she had on a white blouse with a stiff raised collar. And her face was tanned too. She wore her dark hair with a part and loose in the back with a black bow. She was bareheaded and playing on the grass in front of the house like a child, playing diabolo, for the last time, though she didn’t know it.

It was in early June, the tall trees behind and on either side of the house were a solid green mountain. Here and there a brown beech tree stood amid the green. The pink hawthorn was in bloom, the red flowers of the chestnut trees had fallen while the delicate empty ca­lyxes left on the branches stood straight up.

The acacias were in bloom, and the jasmine.

The sunroom and all three porch doors were open wide. There was a little round pond in front of the house with leaves and white petals from the water lilies floating on it and reeds and yellow irises along the edge. The gravel road ran past the garden and on the other side of the road, flanking the garden on this side too, there was green rye everywhere as high as your head.

With raised arms spread wide she caught the spinning diabolo on the string, but it fell, and when she was about to bend down to pick it up she saw her sister’s husband.

“Hi, Dora, don’t you recognize me?”

He saw a child and a lawn and the pond and the white house and the tall trees and the aca­cia and jasmine in bloom to one side. He was recently married and hadn’t yet started his poem without end. But she saw him, her eyes grew wide, the blood rushed upwards in her body. Why didn’t she throw herself around her brother-in-law’s neck and give him a kiss? She had always done that before, whenever he was a sweet brother-in-law who brought her bon­bons and brooches and rum balls. The rum balls were their little secret.

“Hi E.,” she said and held out her hand.

“Dora, how pretty you look, are your mom and dad home?” He wanted to pinch her cheek, the way he’d always done with “the children,” but she ran off and burst into the house. “E.’s here.”

The diabolo lay on the walkway and the sticks with the string were on the grass. He gathered them up and kissed his mother-in-law and vigorously shook the old man’s hand. “Here, sis, your toy! Is Em still at boarding school?” And Mother-in-Law, who always liked very much to see people kissing decently and honorably, said, “Have the two of you said hello properly?” But Dora rushed out of the room with her toy and ran upstairs and stood in front of the open window in her room.

Crazy, she was never out of breath and now she was panting and gasping. And she felt with her hands that her breasts were getting big. And the lawn in front of the house and the pond with the leaves and the white petals, with the reeds blowing gently back and forth, and the yellow lilies and to the left past the edge of the garden the blossoming acacias and the jasmine next to the rhododendron bush in bloom and the rye across the street, waving and shining in the sun, all these things looked so new and so beautiful. The larks were singing everywhere, a heron flew past, the sky was so high and the trees were rustling all around the house and the light—could you catch the light and hug it tight and take it inside you? She clasped her hands behind her head and felt her breasts pulled up. Then she stretched as far as she could. Arms high and spread wide, like when she was playing diabolo. And she felt the air penetrate down to the bottom of her lungs.

She calmly came downstairs singing the chorus from Handel’s Judas Maccabaeus,

“Day of light and Heaven’s glow,” which she had sung so many times without ever really thinking about it. Then she walked into the room and said “Hi, E.,” and stood on her tip­toes and stretched up and gave him a kiss on the mouth, like before, like a sister. And he, who had just been having a conversation with his father-in-law about linseed oil—he was just back from his trip, the things a little poet has to do!—he only said:

“How big you’ve grown, child! I don’t even need to pick you up anymore.”

And she loved him so much that she wasn’t even mad when he said that. Her breasts were already getting bigger, weren’t they? Just wait....

“Dora, the milk’s boiling. Maartje went into town.” And Dora flew to the kitchen to turn off the stove.

VI

Now before I go any farther I should probably mention that my manuscripts too are recopied by mywife, and that she does not see the po­etry in this story. Coba’s flirting is not so ter­rible, she thinks, it’s because the little poet was neglecting her. The lady on the tram deserved a slap in the face and the little poet too. It’s strange, in other stories she reads she doesn’t think things along these lines are that bad. I think it’s because I’m the one who wrote this story. Of course she knows that there’s a differ­ence between the author and Mr. Nescio him­self, but to her that’s splitting hairs. It’s a diffi­cult situation. My domestic bliss is somewhat troubled—but still I’ll keep going.

There’s the God of the Netherlands again,

strolling across the Damrak’s burning-hot pavement. Again he’s wearing the same brown­ish suit and the same hat and has flakes of dandruff on his collar. This time he’s put a handkerchief over his collar, he’s sweating. He puts the tip of his walking stick down a long way from his body as he walks. His gray mut- tonchops stroll along with him.

God of heaven and earth, of land and sea, take this oppression from me, gather it up in your hand and carry it far away from the Dam- rak and lay it gently down on a garbage heap next to the blue pots with holes in the bottom and the crushed tin cans and rusty barrel hoops and ashes and shrimp shells. Some­where I never go.

Now my spirit can abandon my damned self and rise straight up into the sky like blue smoke on a windless summer night, while a distant cow sorrowfully moos.

And now everything is gone that once was and I am Dora and I am in a new world, the same as the old world but seen from the feet of the Father, and I look down from there at Dora, who I myself am, a woman now, a girl, for as long as the state of grace lasts.

And just as the world itself is new for me, so too did it lie outspread and untouched and be­nevolent for Dora after that day. Oh, she accep­ted the miracle, but she didn’t understand it or understand herself, just as the earth doesn’t understand itself, the wheat grows out of it and is green and turns yellow and is mowed and the tall sheaves rest on the yellow wheat stubble and the earth knows nothing about it.

And her breasts did get bigger, they moved when she walked. But she was still a slender girl with the indentation in her neck clearly vis­ible, and her tendons and the tips of her collar­bones stood out clearly, just like on her sister. And when she turned her head to the side you could see a deep hollow in her shoulder, if she had on her loose boatneck blouse. In her tan face her eyes were so white and so blue, dark blue. I saw the Zuiderzee frozen over once, and it was the same white. But all the warmth of her young body shone out of the blue of her eyes, without it cooling her body down at all. And when she stood with her hands on the small of her back, square on her two legs with her feet a little ways apart, you saw the points of her shoulder blades and a hollow between

them like a poem that drew your thoughts into the distance, like a river lying outstretched, far away, then winding onward, you can’t see the end of it. And when she tilted her head forward —she wore her hair up now—the God of heaven and earth himself looked up for a moment from his eternal contemplation of the eternal lands and seas and propped his right elbow on his thigh and rested his head on his right hand, thumb under his chin and index finger along the length of his cheek, and he beheld the tan little bumps above the hollow that was a poem, and the fine hairs that glinted in the sunlight, and he smiled. Then he looked gravely back down past his feet at his Rhine winding back and forth between his mountains, and he mused: “What’s going on here? How did I let the Germans found another empire? Those Prussians....”

And his noble, hairless visage darkened. Two deep furrows appeared above his strong straight nose.

But she wasn’t thinking about any Prussi­ans. She thought how sweet her sister’s hus­band was and that it was good that she loved her brother-in-law. He was her brother after

all. And a poet. Coba had told her that. And a poet was someone dear to God’s heart. She had read that in a book somewhere.

She was old enough now to read edifying books, with chocolate in her mouth and the rest of the chocolate bar on the table.

If only she could write poetry too someday, or—a novel. A book about young love. Every­body was reading about young love back then. And one evening as she lay on the IJssel dike, her bicycle next to her on its side on the grass, with a blade of grass in her mouth that she turned around and around, looking out over the water at a tjalk’s sail clattering down along the mast and falling limp, she tried. But noth­ing much came of it. It made her feel all soft and weak inside, made her heart and her lungs feel so big and so melancholily full. She felt the evening landscape along the length of her spine, from top to bottom. The cows standing in the water and drinking and looking at each other, the rattling of the anchor chain, the light hung high on the mast of the ship—it all brought tears to her big eyes. But nothing came of it. She took the blade of grass in her mouth and split it lengthwise with her thumbnails but

nothing came of it.

She stood up. The stars were shining in the pale sky, the water was rippling and swirling and turning and flowing as though there was no Dora standing in the colorless summer evening. A heavy wagon crunched laboriously over the gravel road in the distance. Melan­choly rose up out of the darkening land; the water still held a little light.

Then she stretched out her arms but there was no one to answer her. Then she didn’t know if she wanted to live or die and she slowly rode her bike home, where Mother sat yawning over her Daily News under the gas lamp with her glasses on the tip of her nose. She looked hard at Dora, then took off her glasses, wiped them, felt for the top of the glasses case on the newspaper and bent down since the other half of the case had fallen on the floor. “Here,

Mom.” Then Mom stood up, yawned, and fol­ded the paper in half, looked at the little clock on the mantelpiece, and said, through another yawn, “Quarter past ten.”

Back in her room Dora took off her clothes and smelled the scent of her own clean warm body. And a great desire filled her again, the

same way the evening landscape had filled her with a great desire, and the dark river that flowed out to a point that was light for a mo­ment and then it turned and was gone. But what it was she desired, that she didn’t know.

She suddenly saw it all before her eyes again in the darkness of the room: the water with the ship at anchor and the light on the mast, the cows across the water, nearby. She saw that dusk didn’t fall, it crept up out of the land, it was the first time she had realized that. She especially saw the end of the river, flowing out to a point where there was a patch of greenish light in the water, where the riverbank curved round. And she heard the distant crunching of the heavy wagon on the gravel road.

“God, if only I could be dear to your heart,” she said childishly. And she had a dream that night. She dreamt that E. was taking a walk with Coba in a meadow, she in white linen, he all in white flannel with the cuffs of his pants legs turned up and a flat straw hat on and brown shoes. She dreamt that they were smil­ing and laughing at each other, and he kissed her on the mouth, four kisses one after the oth­er until she laughingly pulled free. And that she, Dora, ran up to her sister and threw her arms around her neck and lay her head on her shoulder and said: “Coba, how sweet you are.” Then suddenly her mother was standing there, with her glasses up on her head now, and she said, “Thirteen minutes to two.”

VII

Meanwhile our well-loved little poet calmly wended his way along the road to the grave like a good little citizen and the traffic on the Dam- rak and on the Rokin and all throughout Ams­terdam took its course as though he didn’t mat­ter in the least.

He was promoted at the office and inherited a little money and gradually started buying his clothes and shoes from different stores. That was when he bought that white flannel suit. He took to smoking four-cent cigars instead of two-and-a-half-cent cigars, he had a box of them at home, and he wore nice shirts and stopped wearing those thick wool socks, washed his hands before and after each meal, and spent a few guilders every week in cafes, 


both alone and with his wife. He took pleasure in his tobacconist’s polite greeting and the re­spectful cordiality of the conductor on Line Two. He had started working harder at the of­fice over the years, started to get better at it, and it even sometimes happened that he went back after dinner and worked late though his boss never asked them to. His concierge held him in higher and higher esteem, and con­sidered him a very educated man. Even his aunt from Delft or Oldenzaal began to respect him and nodded benevolently when Coba told her about how her nephew was getting ahead. He never talked about it himself. He had sub­scriptions to the The People and the Handels­blad and the Groene by that point and was a member of the Party and of the Dutch General Union of Mercantile and Industrial Workers. He never attended meetings but when they came to see him and asked him to sign a peti­tion in support of a strike or to contribute an hour’s wages to the Party he offered them a ci­gar and Coba poured them a cup of tea and he had a chat with them without talking down to them in the slightest and pledged one or two rijksdollars and walked them to the front stairs

and even held the door for them. He himself was just a salaried worker, and as a young man he too had worn taps to make his shoes last longer, and a very long time ago he had lived in a building where the neighbors always left their front door open and he’d sat down to a plate of rice for dinner, before his father had found that job that paid so well.

And when he got another raise they ate soup every day from then on, and Coba bought three silver napkin rings, one for Bobi too, and from then on she didn’t want to pack lunch anymore when they went for a Sunday walk in the country, the way she always used to.

Their friends had moved up in the world too: Bonger, the doctor, and Graafland, who was head clerk in the Postal Service and had given up writing books, and van der Meer, who sold cars and wanted nothing to do with po­etry. The ones who hadn’t moved up in the world they never saw anymore. There was Kool, for instance, who always scarfed down his sandwiches and who had schemed to re­form the world for so long that he ended up shipped out to the colonies, God knows where. They wrote to each other at first, but that stopped after a while, they ran out of things to write about. He had run into Hein again a while ago, who was determined to be a painter. He painted the inner essence of things’ souls but that didn’t bring in any money and after his father died he was flat broke. The little poet hadn’t seen him for years.

One day he was walking down Pieter Vlam- ingstraat and saw him, dressed like an under­taker: Hein, who had shown a painting at a gal­lery once, called Portrait of a Young Tubercu­lar Syphilitic (in French no less) and “theo- sophical in conception.” They were burying a local grocer. The men in black stood on the sidewalk holding umbrellas. Hein too. It was drizzly. He had a mourning hat on his head, a top hat, crooked, too small. His formal mourn­ing coat with knotted cords was buttoned up tight, it was much too small for him and was almost bursting open, it stretched over his rib cage with ridiculous creases everywhere. “My goodness,” Hein said, “what a fine fellow you’ve turned into.” Right then, thank God, they carried the dead grocer out of his house. It’s not so easy to move up in the world, even if you know deep down that you’re still a little

poet. In any case, he didn’t like walking around in that neighborhood very much and after that day he never wanted to set foot there again.

And then you sometimes had to let yourself be taken out to eat, and be handed a menu you couldn’t make heads or tails of, not a single line. During the first course you take too much of everything since you don’t know what’s com­ing next or how far along you are, and then you try to do better in the next course and end up with too little of everything, and then you have to smoke a big heavy cigar on an empty stom­ach. That’s when you wish your father had just gotten you a job in the sanitation department where you could walk around on a quiet, sunny canal street in the morning in a blue smock, with a garbageman’s rattle and a shiny leather cap with a brass number on it, rattling your rattle without thinking about it, in thick double-soled shoes.

And twenty-eight years farther on down the road to the grave he saw his father’s gray head. He had always done well too and had not ac­complished anything special either. He saw himself with exactly the same head having trudged along for another twenty-eight years

and felt like he was his own father. And twenty- three years behind him trudged his daughter, still just a little girl. Bobi wouldn’t get any­where in the next twenty-three years either and yet she would walk the same road he was walk­ing, the same and yet different. It was an abso­lutely meaningless procession, the little poet thought. It weighed on his soul.

But inside this harmless, proper, bourgeois young gentleman there still lived something that wasn’t a gentleman but a person, someone who didn’t want to just die, who wanted to build a tower of his own that reached up into the blue sky and would stand forever. And who was a wild animal too, who wanted to devour all the indifferent creatures, living and dead, who acted like he wasn’t there, and wanted to keep devouring and devouring until it was all wolfed down and he was the only thing left with nothingness.

But he didn’t know how to start, so nothing ever came of it. He never got any farther than having a poem accepted in a magazine now and then. The Handelsblad praised him, but they praise so many people; Professor Scharten, thank heavens, called him “very promising”;

his friends, who had turned into serious men, said an appreciative word or two about it when they saw him, but they no longer got very worked up about anything. And slowly the is­sues of the magazines began to crumble away, just like the little poet’s life, and other than that nothing happened. The people in the office didn’t read any magazines but he wrote under a pen name anyway.

One time, on a pleasure cruise, he saw a young couple, fiancés, sitting and looking at the water—the boy had his right arm around the girl’s shoulder and held her right wrist tight and she had put her left hand on his right hand and they sat like that, pressed close together. The little poet looked at them, it’s so lovely to see a nice young couple like that. That these children are excited because they want more, that they are only getting each other worked up for what they can’t do and don’t dare to do, that they never know where to stop— no one ever notices that or thinks about that. It was very lovely, and maybe the truth was that they had just recently gotten engaged and were still satisfied with being madly in love with each other. Then they looked at each other and he


I look aslant into the pools of your eyes And see a blue and golden spark

and he kissed her on the lips. She blushed: “That man is watching.”

That was the only time in his life that the little poet ever felt his own life being lived in someone else’s head, and he was even more embarrassed than the girl and blushed too and gave a quarter to the man who came around collecting money for the musicians.

After that there was no one, among the dead or among the living, who showed that they had any idea of what the little poet felt in that poet’s head he was dragging around with him to his inglorious grave.

The little poet had had enough. He had one good thing left:

My dead heart is so hard to bear ...

But he threw it into the kitchen stove. There was no fire in the fireplace since it was summer.

And then he got so enraged at everything,

living and dead, that he interrupted his endless eroticism and wrote a grim and bitter little book that made him famous right away. But that happened later, we’ll get to that.

For the time being he only gritted his hand­some teeth and then he said out loud, alone in his room, “To become a great poet and then to fall, dammit!” He had untied the laces of his shoes and he kicked one of them off with such violence that it startled the missus downstairs.

VIII

That was in the summer. By fall the little poet had gotten to the point that it was “impossible” to get away from the office. His aunt had reas­on to be pleased—her nephew was “terribly busy.” He spent three or four evenings a week at the office. He was supposed to spend a week with her, in Velp (she was living in retirement at the time, having sold the family business), but he couldn’t get away, just like a real businessman.

On Sundays he read the mail, anything so as not to have to think. When visitors dropped by, Coba would say, “I think from Shanghai.

Shanghai, isn’t it, Eduard?” And Auntie could already see in her mind’s eye an announcement saying that “our esteemed colleague of many years is hereby, as of 1 January”—that was a bit quick—“as of 1 July, a member of our board of directors.”

But it didn’t turn out that way.

His father-in-law was dead. Dad had always wanted to live in the country and for four years he raised chickens and fed the peacock and planted fruit trees, which died. And he kept the accounts. Eggs cost six cents each in the village store while theirs cost them eight cents each, but when he walked into his kitchen with a half dozen eggs and wiped his feet on the mat, he felt that for twelve cents extra you do get something.

And Mom went along with it, she shared his new life as much as she could and didn’t let anything show, just like good old-fashioned moms from the old days. At night, alone by the lamp, she gazed at the paper over her glasses and thought about Linnaeusstraat in Amster­dam. She could never go to bed at nine. She used to see the streetcars moving across the square down by Mauritskade in the evening when she looked out from her upstairs apart­ment, see the lights gliding by. And the trees in the Muiderbosch, waving back and forth against the dark sky, bare of leaves, full of crows’ black nests. That’s when you really longed for summers in the country. And she thought about the shops on Saturday evening and the crowds shopping and how she herself used to walk down Van Swindenstraat with her shopping basket under her apron back when they weren’t doing so well.

You could really talk to people back then. Yes, oh, and Dapperstraat market with the two rows of carts, produce and fish and cheese and cups and saucers, and smoky oil lamps and se­rene white gaslight from homemade gas in little globes. People jostling and hurrying everywhere. After they had been posh a long time she still went on Saturday evenings to buy smoked eels from the cart with the tall black poles sticking up with the jaunty copper knobs on top. Until a girl in a big multicolored skirt and short hair with no hat on said, “Jeezus, the millionaires’re out buyin’ eels.” A tramp like that, with brown shoes on.

And then Mom began to drift off, in the whispering silence, and sat nodding off with her glasses in her right hand until she bent too far forward and woke herself up with a start. “Oh! I thought I heard the streetcar bell...”

Meanwhile, up in her bedroom, Dora was writing a short story about “Him” in a ten-cent schoolbook and she told herself that He was someone she didn’t know, someone still to come. And the notebook was shoved away into the back of a drawer that no one could get to, and she blushed even though she was alone and no one knew anything about it.

Em was engaged to a bookkeeper in Ams­terdam and talked about her house, which they hadn’t found yet. She was thinking about hav­ing a baby. Weird, a boyfriend like that, who said “insofar as that is concerned” and “altern­atively,” and stood with a sharp crease in his black worsted wool pants next to the henhouse, and always had something to say to Dad about “the Bovenkerks,” Mr. Bovenkerk the coal mer­chant and Mrs. Bovenkerk who summered in Zandvoort at the Mon Desir and Bovenkerk Ju­nior who was about to take his final exams.

And so on. Em got very angry when Dora once said, “Look, it’s the Bovenkerk.” She’d

answered “Go make love to the IJsseldijk” and almost added “you old prune”— Dora was one year older—but luckily her upbringing kept the upper hand. Dora turned bright red but said nothing. “Could she have read one of my note­books? But I never leave them lying around!” Yuck, what a brother-in-law. And when he wore that white sweater! And those eyes! A real gentleman, the kind who never looked at any­thing while he walked down the street except to see if someone he knew was coming in the oth­er direction. And so spineless. How could Em stand a man like that! She would rather stand against a pine tree. No, Coba had done much better. A husband like an ocean! And suddenly she had a vision of white sand and sun and sea and surf and red and blue swimsuits and white dresses and white and red parasols. And of dunes with hollowed-out sides, with tufts of grass on top bowed down by the wind. And of a wave that knocked her down in the water. She could taste the salt.

Now Dad was dead and they were moving. Mom was planning to live back on Lin- naeusstraat, across from Oosterpark. Em was going to get married the following year and


Dora had to get a job. Just helping around the house and staying with people here and there and not actually doing anything only makes you restless. First she was planning to go visit a friend in Berg en Dal for a few weeks, to recov­er a little from the unpleasantness of the past few weeks, and then she’d be ready to join her mother in Amsterdam.

E. would bring her. It wasn’t easy to get an­other day off from the office but he would have to just do it.

Dora looked at him—how strangely he was talking!

In the train they were polite and obliging to each other but said very little. They rode over the IJssel and the Rhine and Dora looked out at the rivers with her big quiet eyes, sitting straight up in her black dress, hands in her lap, until she could no longer see them and still she sat there and looked out.

And he glanced at her face now and then and then back out the window so as not to bother her. Then he tried to see if he could pic­ture her in his mind, bit by bit at first, her fore­head, and how her hair lay above it, slightly wavy, and her eyelids and her long dark lashes and then her black eyebrows up above, and then all that together with her eyes, especially her eyes, he saw them floating above the corn­fields, and her nose just the least bit upturned, so delicate, and her mouth, the pursed red lips, and the little ears pink and translucent, visible through the hair hanging over them, and the stray hairs in front of them and her jaw, so noble and long, with a sharp little chin with a dimple in it. And then he couldn’t keep himself from looking back at the two little vertical ridges under her nose.

He shut his eyes for a moment and saw her whole face clearly, her tan cheeks too now. And it was also visible perfectly clearly outside, in front of the row of poplars, which had only a very few leaves left on them. Since it was Octo­ber already. He had to laugh at the people who thought he was a respectable, upstanding gentleman.

“Say, is it true you stay late at the office every day now?” He nodded. “Do you have to?” He shrugged. “Why do it then?” He laughed again. “To get ahead in the world. You don’t get it for free.” Didn’t sound like much fun to her. “What do you want to do, then?”

“Look at things ... and think ... and write ...” she said, with the slightest hint of a blush ...” at least if you can.”

He gave a nastily knowing smile. “Im­possible, Dora. That won’t get you anywhere. The dumb animals are better off. Don’t you think Bovenkerk is a happy man?”

Her big eyes opened wide with quiet shock. “Oh, but to write what you think is so amazing —whoosh, whoosh, you don’t even know how you’re doing it and suddenly there it is, exactly the way it has to be. And when you read it later you’re right back in your own earlier life again and yet you don’t know if you’re yourself or someone else.” Her eyes sparkled, there were tears in them. She wasn’t blushing self-con­sciously anymore. She sat there with her head on her right hand and her elbow on the little shelf in front of the window and gazed out. And the little poet thought: “She’s the real thing,” and: “Now they think I’m a respectable, up­standing gentleman.”

But he stayed bitter and knowing. “God car­ries us up to the heights only to hurl us back down again. The path over the summit is short but the valleys are long. Anyone who has been to the mountaintop spends the rest of his days in misery.”

She shook her girlish head slowly, so sweetly, and at the same time so thoughtfully. “I’ll alwayslive on the mountaintop.”

He wanted to say “Good!” but said nothing. She looked out at the Waal River. “Beautiful, huh?” And suddenly she stood up, took her hat off the rack, pinned it quickly in place, and, holding it with both hands, feet wide apart for balance, suddenly laughed a reckless laugh like a mischievous girl, her eyes locked with his:

“No Bovenkerks for me!” Then she leaned her upper body out the window and looked toward Nijmegen spread across the hills along the river, so un-Dutch, so wanly romantic, house upon house and tree upon tree, and she sang into the wind and the clattering of the train over the bridge.

IX

To be a great poet and then to fall. In the full­ness of time.

It was certainly a day to forget about 36" white shirts and colored satin for a while.

There was no one there to pick them up.

The friend couldn’t leave the house since her mother was bedridden and they didn’t have a maid. A maid is a sister, not yours or mine but a typesetter’s or a mailman’s, who crawls around rooms on her hands and knees wiping the floor and takes out the trash and breaks the teacups.

So Dora and the little poet had a cup of cof­fee in Lent, overlooking the river and with a view of the city and the hills. It had turned into a still, sunny autumn afternoon. The chestnut trees were already bare, their yellow five­fingered leaves with thick gummy stems lay on the ground and dry golden leaves lay every­where. There was a smell of decaying leaves, which always made the little poet’s heart flutter as if he was about to die and awaken, immortal, in just such a still blue and gold autumn day that would never end. He wiped a thread of gossamer from his forehead. The sky was so blue and cloudless and it looked down at itself in the water and the sun shone golden.

The city rose up out of the water into the blue sky, quay and houses and then more houses farther up, half visible or all visible above the houses lower down, with red roofs everywhere and over there an enormous church like a sign by which God could recog­nize his city. It had two sharp spires, tall and powerless, reaching up even higher. The way a little poet reaches up, powerful and powerless, from the raging river of his poethood toward God, who never does come out from behind the blue sky and show himself. The little poet had to laugh at the miracle before his eyes, the eyes that saw a monument to God’s majesty where actually there was nothing but shacks full of measly small-town life, not even in civilized Holland but out east.

They looked straight down a street that ran steeply uphill from the quay. Shadows were starting to appear on the right side. And up on the hill was a terrace with an iron fence around the edge and over there, on another terrace, a washtub, and someone more than halfway from the river to God opened a window that fiercely reflected the bright sun for an instant.

To the left of the city was a low ridge of green hills in a straight line “ins grosse Vater­land

A golden alley cut gently up across the

slope. The golden letters of the French board­ing school, “Notre Dame aux anges,” shone far above in the distance, on a tall building at the foot of the hills, where the grassy plain ended. “Notre Dame aux anges,” innocent naked little angels and innocent fully clothed students. The God of the Netherlands is right after all, you can never tell with poets. Are they respectable or disrespectable, decent or indecent?

Then the little poet recaptured the wan ro­mance of the whole situation. God didn’t mean anything by it. He was only playing around, only getting everything ready for a new produc­tion of The Sorrows of Young Werther if the little poet was up for it.

So they chatted and played with words and thoughts and flights of fancy and looked at the sparkling in each other’s eyes whenever a new flash of inspiration struck. Then they stood up and crossed the river. She wanted him to have a nice present to take home to Coba that night, so they went to go buy it together. She hung on his arm, her left arm through his right and her little hands clasping each other tight in their black kid gloves.

A light-purple silk shawl with a knotted

fringe—that’s what he should buy, oh yes, Coba would be so happy with that. Come on, be a nice brother-in-law. She looked into his eyes and pressed his arm, for her sister. There was no duplicity in her head, there was blood rush­ing in her head but no duplicity. “Look, it’s so pretty.” They were standing in the valley and looking up at the hill, and the arch of the bridge up there that led to the Belvédère framed a little picture: a stretch of gravel road, deserted, climbing gently, with the blue ribbon of a footpath on either side, and trees with blazing orange-yellow crowns, the branches clearly visible through the leaves, and a pair of streetlamps far apart with frosted glass globes, bright white— like a tinted engraving just wait­ing for someone to write “October 5” underneath.

There was no duplicity in her thoughts when she suddenly fell silent, the engraving having derailed their conversation. Even though she felt it herself. But she didn’t under­stand it, just as Adam and Eve didn’t under­stand their nakedness, or the “anges” of Notre Dame their angelic state, or the boarding- school students their fully-clothedness. My

God, what is a woman who understands herself.

But he understood himself all right, it was horribly clear to him, and that is why nothing happened. He looked at her and the poet in him worshipped her and raised her up to the throne alongside the God of heaven and earth and he didn’t dare touch her.

And at the same time, deep inside the little poet, the wild animal crouched, ready to pounce and devour all the things that taunted him, everything that stood around him and walked past him and didn’t notice him. First of all, her—the beautiful, the beloved, first—so that there would be no reason not to devour everything else. To lift her up as high as the stars in the winter night and do his worst with her and then let her fall down into the un­fathomable deeps. To avenge upon her, in his pleasure, the whole world’s taunting indiffer­ence. And besides, what would a little poetess want more than to fall like that?

Those were his thoughts while a little spar­row flew from a piece of horse dung on the gravel road up into one of the orange trees. But he said, “Do you know a nice shop around

here?”

They bought a very beautiful shawl, elegant and fine. Too bad she was wearing black. She tried the same shawl on herself, but in black, to see how it looked, and her upper body bent the tiniest bit back as she tried it on. But the purple one, that was gorgeous. Coba would definitely squeal with pleasure.

And so on that day she was simultaneously and alternately sister and wife and little poet­ess and courtesan and she did not know her di­vided nature and did not understand any of it.

But what a day to end all days it was.

She sang out loud on the road to Beek, which was also deserted, and she skipped as she went, she couldn’t help it, she could move mountains around for fun and snatch the sun from the sky with one hand and toss it over her shoulder into the Waal just to hear it hiss.

The electric tram gathered them up and trailed a long stream of dry yellow leaves whirl­ing and shuffling and rustling behind it, a little joke of God’s, one he could easily permit him­self on a day like this.

From Beek they climbed to Berg en Dal, winding through the hills. And the hills were

not nearly high or steep enough, how could you tire yourself out on those? And she had to tire herself out or else she would burst apart with power, shatter into fragments of little poetess and wife and sister and courtesan. At the sum­mit they looked down into a little valley with black and yellow and green rectangular fields sloping up and down the hills, stands of pine and copses of oak between them. And past that, down on the plains, hours and hours away with no distinguishing features except a straight stretch of wide river that ran off until losing it­self in a bend. There, very small, the red roofs of a brickyard and its chimneys, tall but still lost in the distance.

There they stood, and then they realized that there was nothing to do now except go back.

But that night in bed she couldn’t sleep, the brilliant clarity in her head just would not go away. She relived the whole day over and over again and saw everything again, perfectly clear. And all at once it was like the sun itself was in­side her skull: “I love him. I can’t help it. I want to. God be with me.” She got out of bed and drank down her whole carafe of water.

The next morning she sat in her nightie on the edge of the bed and looked down at her ankles and pondered. “That’s the way it is, I guess.” But the brilliant clarity was gone.

He didn’t want to think. As a proper, re­spectable gentleman he sat quiet and aloof on Line Two on his way to the office.

“Mornin’, ladies and gentlemen.” And he grimly went to his desk and started sorting his mail.

It was the end of March when the fullness of time arrived.

All day long they had corrected proofs, Dora and he. They were all business. Coba was with Bobi in The Hague visiting a rich cousin from the Indies. They had both taken a few days off from the office.

At five o’clock she had gone home to eat and afterwards she came back to finish their work. When twilight fell they were done, the stack of paper lay on the table with the letter to the publisher next to it, all it needed now was stamps.

It was in a room upstairs in the city but on the edge of the city— the canal in front of the house had an open field on the other side. Dora sat on a chair by the stove, in a coat and hat, and looked into the fire and thought about the fullness of time, a fullness that lay a long way off for her. He lay flat on the couch between the window and the stove, so flat that she could hardly see him in the dark room, and he looked at the yellow light of the streetlamps on the ceiling and the red glow from the stove on the floor.

Behind the house was the city, lamps lit in many of the windows, but they didn’t see them because they were sitting at the front of the house. When Dora looked up she saw the coun­tryside where the high sky was losing its last light and darkness already lay across the earth.

The little poet had had enough, of everything. His book was finished, he had murdered his never-ending poem, his position in society was a farce. Coba and Bobi had enough to live on without him. God would con­sole them; time heals all wounds. That was a proverb on the wall of his aunt’s house in Velp.

It was spring. It still looked like winter but

it was spring. It still snowed here and there and it was a bit cold at night, with a frost some­times, but that was just a little pleasantry, nothing to take too seriously.

The days were growing longer, people turned on their lights at seven o’clock. At six thirty the gas lamps were lit along the canal, they hung there pale and astonished. The snow swirled around them, in little spring snow­flakes and melted before it fell onto the street.

And they both thought about the summer rains that would come, and their noses, the noses of incorrigible bohemians who couldn’t stifle their souls, smelled the fresh hay. He, grim as the title of his book, Genghis Khan, and as grim as the book itself, thinking that he would never smell that smell again, that this too he had forsaken in kingly abdication; she full of vague longings and so, so moved in her heart. She folded her hands on her skirt where it was stretched tight between her knees; she sat there like that, bent forward on her chair.

The cows had already been out in the fields, he and she had seen them one sunny day. The land had recognized them right away and they stood trustingly on it and the sun was happy to


see them too. After that the days had grown colder again and the cows had had to go back inside for a time. But in the end the hail couldn’t stop the spring.

The birch trunks were silvery white, but prettier than silver. Language is poor, fatally poor. Anyone who knows the Father’s work knows that.

The meadows looked less waterlogged, the farmers had spread manure, the sun rose high­er and set more slowly. And Dora thought about how the sun had been big and red and cold in the sky in December, and low near the horizon at four o’clock, and had passed into a cold mist and vanished, weak and defenseless. But that was a long time ago. And she thought about how in winter people turned on their lights at four o’clock and hoped that daylight would eventually return. But now she knew for certain that the sun would come up the next morning. And after that, well, what then?

Still they said not a word.

He thought back to the time when he had worked, “worked hard” as people like to say. And how his family had said that he was start­ing to become more reasonable now. That he’d complained once about all the pressure he was under and about all sorts of things going wrong at the office, he’d said he was dreaming about them at night, and that his aunt had replied: “Yes, my boy, life is a serious business.” She would surely read his book, and expect to re­ceive a signed copy, and wait to see if it would be included in the subscription library. She would want to be horrified by it, but wouldn’t dare since so many other people had praised it. He saw himself already circulating among the library subscribers in Velp and that really made everything worthwhile.

“What now?” Dora thought. She had seen the snow melt once more and the buds grow bigger on the trees. Next the crowns of the tall trees would turn brown all over.

It seemed to her that she had seen the same things a very long time ago, the same way, with her hands folded on her skirt, knees apart, bent forward on her chair.

The sun was shining again, she saw the houses in the light and the trees and the golden glow on the pond. She saw the weeping willow turn yellow, its branches hung down and they reached for the water, they hung in deathly si­lent yellow adoration over the pond and they saw their own yellow light in the water. The woolly white clouds sailed in the pond, they skimmed across the blue sky but didn’t conceal it. And those were the weeping willows in the city in early spring, a material embodiment of God between the clog-like buildings, so tall, awakening a longing that is grace and misery at once. You turn the corner, a foul, disgusting corner next to a fish stall that stinks of marin­ated herring, and suddenly something blazes from your eyes into your heart, you see gold crash down like an ocean and you stand there and a little boy wipes his nose with the back of his hand and yells: “Fancypants!” That is Ams­terdam, the capital of the Netherlands, in early spring.

It was almost night. The lumps of coal in the stove suddenly shifted with a thump and little flames shot up and their light filled the room.

“Dora,” he said without warning, “what do you think of Penning?” Penning was another friend from his youth. He hadn’t seen him in years and knew only that he’d become an en­gineer. And now he’d run into him two weeks

ago and he had dropped by a few times while they were busy with the proofs, and each time he stayed and chatted for an hour. He was a big fresh-faced young man, well on his way to a fine career but still youthful outside of work. He’d told them that in a few months he was off to South America for a year or so, to dredge something somewhere or build a pier or some­thing like that. The little poet had also brought him to see his mother-in-law, and she was in­stantly taken with him. Em didn’t like him.

“What do you think of Penning?” “He’s all right,” Dora said absently. Silence. In the light the streetlamp cast on the ceiling you could see the shadows of falling snowflakes. They were bigger now.

“Em’s getting married next month.” She looked up. He was talking so strangely again, it was like Bovenkerk with Em. She didn’t answer.

She suddenly saw before her eyes, like a long-forgotten thing, a wide river rushing to­ward the sea. Its waves propelled the sunlight toward the sea but the water and the light were without end. A little tugboat pulled a long train of boats along a blue and gold trail. The boat

was tiny and insignificant, its steam pipe barely reached the sky and its smoke was only just visible, its hoarse cry was lost in space. For hours and hours it moved through the water, between the fields, under an awe-inspiring sky.

And she saw a long road full of dust and sunlight and solitude. And then something else again: a meadow, endless, and an alley of au­tumn trees a bit farther down, there in the sun, from the side, and all of it full of living gold and of blue sky. And then: a river down in a valley, already dark in the east and the day was dying in the west, yellow at first, far sadness, pale green above that, a day that did not want to die, the darkness powerfully rising, it rose from the land into the eastern sky and hurtled west, and there was the river, red and crying, it wanted to hold on to the light, the light that wanted to stay. And so the river flowed, with the light, down to the ocean she couldn’t see.

Then he said: “Penning keeps coming by because of you.” She was taken aback. It took a second before she understood what she had just heard him say.

“Listen, Dora. Accept him. He’s going to ask you, I know he will. Accept him, marry him.

Don’t waste your life on art or anything to do with art.”

She sat the same way she had been sitting. The only difference was that she held her head up slightly higher. She looked at the window, which gleamed darkly with a few little dots of yellow light here and there, from the light of the streetlamp. One of the rare large snow­flakes touched the pane and melted. She didn’t understand.

He laid his hand on her folded hands, his fingers touching hers along their whole length. And a wild desire surged up out of her body into her head, carried there by her blood, so strong that all of the clothes on her body were unbearable to her. For an instant. But she stood up calmly, holding on to the back of the chair with one hand. “I’m not going to marry.” She said it as though she were telling someone that the accountant had quit. As though he hadn’t said anything, he got up from the couch. “Here,” he said, “take this key? It’s for the front door. Bonger will come by your apartment to get it around ten. He’s staying here tonight. He had to move out of his old place today and can’t move into his new place till tomorrow. I told

him I wasn’t sure if I’d be at home.”

“You’re going back out tonight?” She was now completely calm. She felt around on the table for the matches and lit the gas lamp. You couldn’t see a thing! “You’re going back out to­night?” He shrugged. “Maybe.” She looked straight at him but there was nothing unusual in his face, he looked the same as he often had during the past few days, when he was reciting one of the good bits from Genghis Khan and she looked up from correcting the proofs for a moment.

He brought her to the stairs.

“’Night E., see you tomorrow night at Mom’s.” He pressed her hand. “G’night Dora, au revoir camarade.” For an instant she heard something in his voice that was always there whenever he repeated something his aunt had said. Strange. “Okay, bye.” “Bye!” he called after her as though imitating a sixteen-year-old girl. Then the door slammed shut.

XI

She walked fast and had to dodge around all the puddles. It had almost stopped snowing,

the wet flakes that were still falling swirled slowly down, a few landing on her face, which felt good. In the light of a streetlamp she saw the fat buds on one of the chestnut trees along the canal, with little glints of light where the buds were thickest.

There was a straight yellow band of light on the trunk, from top to bottom.

What had happened, actually? Another puddle, how deep it looked with the reflection of the sky in it, a reflected star twinkling in a gap between the clouds. You could get dizzy from staring at puddles all the time while you walked. She knew a sentimental German song about the happiness that was “Behind the Stars.” Or maybe it was deep in a puddle like this, all the way at the bottom. Nonsense, there was probably not even half an inch of water. Her day would come too. She wanted. But what did she want? Could she want something?

It was lovely to walk in the evening alone like this and let your thoughts come and go and come again. And since she was a little poetess she quoted Jacques Perk to herself as she dodged again to avoid a puddle and almost stepped right into another one: “To feel your­self bound to yourself through yourself alone.” The mild wet wind blew all around her and she took a deep breath. “Easy for you to say.” And honestly, she almost bumped right into a couple standing under a streetlight, kissing.

She suddenly felt like a lady: “What a vulgar pair!” Der minnen vruchten ic u mildelijck gaf, Maer een ewich zuchten houde ic daer af— “The fruits of love I graciously gave to you, But kept for myself only sighs that last forever.”

The lady had vanished but still Dora blushed, all alone under the dark sky, at the “fruits” the woman in the poem had apparently given. And she suddenly remembered the feeling she had just had, my God, not ten minutes before: that all her clothes were absolutely unbearable on her body. She felt her cheeks burn. “It’s not go­ing to happen.” Just then she found herself standing on her front stoop. Half past seven. “Hi Mom, I’ll be right back down.”

But when she was up in her room and had thrown off her hat and coat, it became clear to her what had just happened. A powerful feeling of desolation and abandonment came over her, the sense that life was not worth living. She did not understand herself.

Why hadn’t she taken his hand and said “I love you”? Why didn’t she want to do what she wanted so badly to do? What could happen that would be worse than enduring this living death? Why was she here? Why must she die unkissed? Not just kissed, really kissed. She glowed, her whole body glowed, her heart swelled. She unbuttoned her clothes in front of the mirror and looked at her breasts, so white in her black dress, and held them in her hands.

She was pure and untouched. What a joke. And in her great confusion she begged God to defile her. “Am I going crazy?”

Her coat slipped off the bed and landed with a muffled bump. It was the key. A thought shot through her head like a burst of flame: He had said goodbye to her, something was wrong, she had to go back. She calmly splashed some water on her face and put her clothes back on.

“I forgot something, I’ll be back in half an hour.”

At eight o’clock she was standing in front of his door again and she rang the bell. No sound from inside. She rang the bell again and then resolutely opened the door with the key. No light anywhere. The empty, dark, silent house

made her shudder, her heart was pounding, but she bravely went upstairs. The door to the front room stood open, the light from the streetlamp still shone on the ceiling and the red light from the stove still glowed on the floor. “E., where are you?” How horrible that sounded. She ran through the rooms, scared and brave. Then she went up the second flight of stairs. The bedroom door was open a crack, there was light coming from inside. She rushed to push the door open, afraid she would turn around and run away.

“E., what are you doing?” He sat in total si­lence on the edge of the bed, staring down between his knees at the rug on the floor. He stood up: “Dora.” There was everything in that one word and she heard it.

Then they fell together through the light into unfathomable deeps and they felt their bodies like singing suns.

But in the back of his mind was an ice-cold corner, and in that corner he thought: “It’s re­venge, she suffers to atone for the world” ...

The Devil was sitting in Café De Kroon, in the middle of the room next to a pillar. He placed his thin gold watch on the table in front

of him. The two bumps on his forehead were bigger than ever.

“Quarter past eight. Consummatum est.”* Someone tapped him on the shoulder. The God of heaven and earth was standing behind him. “Consummatum est, come see.”

XII

At ten thirty Bonger and Graafland found him. Bonger had gotten the key from the mother-in- law.

He stood stark naked in the middle of the room. His left arm hung at his side, beside his body, fist clenched; his right arm was raised, finger pointing upward. There was a faint scent of lilies of the valley. A blue barrette lay on the floor. The bed was in chaos.

“Eduard!” they both cried at the same time. “I am God,” he said. “I am greater than God. I am the Immovable, the Merciless. I know no good and evil. I do what I must do. What I do is good.”

Bonger picked up a sheet from the bed and stepped over to him.

“Go away,” he said and took a step back.

Bonger didn’t move.

“Didn’t I say I was God? I am the eternal life. I am procreation. God has sent me. Do not cover me.”

Again he stepped back.

“Do not cover me. I am procreation. Bring all the women here, all the young women. All of them I say. I know who you are. You’re Bonger, the other one’s Graafland. I know you all right. Put the sheet on the bed. She must lie on it.

The first one, put her on it, naked. The others don’t need to leave. They need to see. You can go, Bonger, you too Graafland.”

Bonger put his hand on his shoulder.

“Stand still. Put your arm down.”

The arm dropped. Bonger threw the sheet around him. “Sit down on this chair.” He sat. Graafland gathered up his clothes, from the bed, from the chair, from the floor.

“Get dressed.”

He meekly, slowly put on all his clothes.

The little poet is dead now. The people in Delft or Oldenzaal were proven gloriously correct.

He was definitely never quite right in the head.

His book is in its fourth printing and his collected poems have been published too, with an introduction by Professor Scharten or someone like that. The weasel who managed to become the financial editor of the Provincial Arnhem and Gelderland Courant tells anyone who will listen that they went to school togeth­er. And whenever he comes to Amsterdam, which is fairly often, he hurries up to Bonger and rattles on about the little poet and his work and acts important and always says that he sat next to him in school.

Coba is kindhearted and forgiving and un­affected, the way she always was. She has be­come devout, even without proverbs on the wall to help her, and she goes to the Dutch Re­formed Church on Boezemsingel every Sunday, since she lives in Rotterdam now, as punish­ment for having flirted with someone once while she was married. Kindheartedly and for­givingly she thinks about how she too was walking right on the edge of the abyss.

Dora is an “unwed mother.” She works at an office in Rotterdam where her boss knows her story and doesn’t look down on her for it, on the contrary. Which is very unusual for a Rotterdammer.

Thanks to that one man, it seems to me,

that abomination of a city may be spared on the Day of Judgment, which is too bad, actually.

She and her child live with Coba and Bobi and she moves through her life with her head held high, proud and silent. She plans to get her diploma and then, with the money from her father, who is dead, study law. Definitely not literature. She wants to work, not think.

But I don’t believe that she’ll ever stifle her soul. Those dear to God’s heart above all others have to bear that burden to the end.

June-July 1917

A POSTSCRIPT

For those who would like to know more about how love works, I will relate that Little Poet’s Dora originated as an idealized version of a young girl for whom I felt, from a distance, an old man’s affection.

After she read the manuscript I told her that, and her response was: “But I never played diabolo.” She said it not out of coquetry or em­barrassment, she had simply not understood a thing.


NESCIO January 5,1918

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                     

 

 

 

                 

 

 

 

                 

 

 

 

                 

 

 

 

 

 

 

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

MUA RAO  - Hwang sun Won (uo) https://gtvh51.blogspot.com/2024/10/rao-sun-won-han-quoc-ngay-khi-cau-be.html