SSA30 NGÔI GIÁO ĐƯỜNG VÀ CỐI XAY GIÓ
O’ Henry
Lakelands không được tìm thấy trong danh mục các khu nghỉ dưỡng dành cho khách hạng sang. Nó nằm trên đoạn đường thấp của dãy núi Cumberland, trên một nhánh sông nhỏ của dòng sông Clinch. Lakelands đúng như được gọi là một ngôi làng mãn nguyện gồm hai chục ngôi nhà nằm trên một tuyến đường sắt khổ đường ray hẹp, vắng vẻ. Bạn tự hỏi liệu con đường sắt nằm khuất mình trong rừng thông và chạy vào Lakelands từ sự sợ hãi và cô đơn, hay liệu Lakelands đã bị lạc lối và ẩn mình dọc theo đường ray để chờ tai bay vạ gió chở chuyên về nhà. Bạn lại thắc mắc tại sao nó được đặt tên là Lakelands. Không có hồ và các vùng đất xung quanh quá nghèo để có thể đề cập đến. Cách ngôi làng nửa dặm là Eagle House, một lâu đài cổ kính, rộng lớn do Josiah Rankin quản lý để làm nơi lai vãng cho những du khách ưa thích không khí miền núi với mức giá không quá đắt. Eagle House được quản lý tồi một cách thú vị. Nó mang đầy vẻ cổ kính thay vì những cải tiến hiện đại, và nó hoàn toàn bị bỏ bê một cách thoải mái và bị làm xáo trộn một cách dễ chịu như chính ngôi nhà riêng của bạn.
Nhưng bạn được trang bị bằng những căn phòng sạch sẽ, thoáng mát với giá tiền thuê phải chăng và dồi dào: bản thân bạn và rừng thông phải làm phần còn lại. Thiên nhiên đã cung ứng suối nước khoáng, ghế xích đu dưới giàn nho, và trò chơi bóng vồ, ngay cả những cửa nhỏ cũng bằng gỗ. Bạn có máu nghệ thuật để cảm ơn âm nhạc cho đàn vi-ô- lông và đàn ghi-ta một tuần hai lần tại buổi khiêu vũ trong một căn lều mộc mạc.
Khách quen của Eagle House là những người tìm kiếm sự giải trí như một nhu cầu thiết yếu cũng như một thú vui. Họ là những người bận rộn, những người có thể được ví như những chiếc đồng hồ cần được lên dây cót trong hai tuần để đảm bảo bánh xe của họ chạy trong một năm. Bạn cũng có thể tìm thấy ở đó những sinh viên từ các thị trấn vùng xuôi, thỉnh thoảng một nhà nghệ sĩ, hoặc một nhà địa chất học say mê tìm hiểu các địa tầng cổ đại của những ngọn đồi. Một vài gia đình cần sự yên tĩnh cũng trải qua mùa hè của họ ở đó; và thường là một hoặc hai thành viên mệt mỏi từ hội phụ nữ kiên nhẫn đến Lakelands như là một người “đàn bà hống hách”.
Cách Eagle House một phần tư dặm là nơi mà lẽ ra khách của mình được miêu tả như là “một đối tượng quan tâm” trong danh mục, khi Eagle House cho phát hành một danh mục. Đây là một nhà máy xay cũ, quá cũ để không còn là một nhà máy xay nữa. Theo lời của Josiah Rankin, đó là “ngôi nhà thờ duy nhất ở Hoa Kỳ với cối xay gió; và là nhà máy duy nhất trên thế giới có ghế dài có tựa lưng và đàn organ ống”. Những vị khách của Eagle House đến dự lễ ở nhà thờ cũ có cối xay gió vào ngày nghỉ Sa-bát (Sabbath) và nghe nhà thuyết giáo ví như một tín đồ Thiên Chúa giáo được thánh tẩy như một hạt bột được mài giũa để trở nên hữu ích giữa đống cối xay của kinh nghiệm và khổ đau.
Mỗi năm vào đầu mùa Thu Abram Strong đến Eagle House và lưu lại ở đó một thời gian như một vị khách danh dự và được kính mến. Ở Lakelands, ông được gọi là “cha Abram”, bởi vì mái tóc của ông rất trắng, khuôn mặt rất mạnh mẽ, tử tế và hồng hào, nụ cười rất vui vẻ, bộ quần áo đen, mũ rộng vành tạo dáng vẻ bên ngoài của ông một cách rất linh mục. Ngay cả những vị khách mới quen sau ba bốn ngày cũng gán cho ông cái danh hiệu quen thuộc này.
Cha Abram đã đi một chặng đường dài đến Lakelands. Ông ta sống ở một thị trấn lớn, sầm uất ở phía tây bắc, nơi ông sở hữu những nhà máy xay, không phải là những nhà máy xay nhỏ với ghế dài có dựa lưng và đàn organ ống bên trong, mà là những nhà máy to lớn, xấu xí giống như núi mà đoàn tàu chở hàng bò quanh quẩn suốt ngày như những con kiến quây quanh một tổ kiến lớn. Và bây giờ bạn phải được kể về Cha Abram và cối xay gió vốn là một ngôi giáo đường, vì những câu chuyện về họ diễn ra cùng nhau.
Những ngày ngôi thánh đường này còn là một cối xay gió, ông Strong là chủ nhà máy xay. Không có một chủ nhà máy xay xát nào ở khắp vùng này bận rộn hơn, vui vẻ hơn, bụi bặm hơn, hạnh phúc hơn ông. Ông sống trong một căn nhà gỗ nhỏ bên kia đường đối diện với nhà máy. Việc xay xát thì nặng nhọc nhưng phần thóc giữ lại cho tiền công xay thì nhẹ, và những người miền núi mang thóc của họ đến chỗ ông ta phải băng qua nhiều dặm đường đá đầy mệt mỏi.
Niềm vui trong cuộc sống của người chủ nhà máy xay này là đứa con gái nhỏ Aglaia của ông. Đó thực sự là cái tên dũng cảm dành cho một đứa trẻ có mái tóc hoe màu nâu vàng nhạt; nhưng những người miền núi yêu thích những cái tên gây âm vang và trang nghiêm. Người mẹ đã gặp cái tên đó ở đâu trong một quyển sách nào đó, và hành động đã được thực hiện. Khi còn nhỏ, chính Aglaia đã từ chối cái tên này, mãi đến khi được sử dụng phổ biến và kiên trì gọi chính cô bé là “Dums”. Ông chủ cối xay và vợ thường cố gắng thuyết phục Aglaia nguồn gốc của cái tên bí ẩn này nhưng không có kết quả. Cuối cùng họ đã đạt tới một lý thuyết. Trong khu vườn nhỏ phía sau ngôi nhà gỗ là một luống đỗ quyên mà đứa trẻ rất thích và thích thú một cách kỳ lạ. Có thể cô bé đã nhận ra trong cái tên “Dums” một mối quan hệ họ hàng với tên gọi một loài hoa yêu thích của mình.
Khi Aglaia lên bốn tuổi, cô và cha cô thường kinh qua một buổi biểu diễn nhỏ trong nhà máy xay mỗi buổi chiều, điều đó luôn luôn thực hiện được dù cho thời tiết có cho phép hay không.
Khi bữa tối đã sẵn sàng, mẹ cô thường chải tóc và mặc một chiếc tạp dề sạch sẽ và đưa cô đến nhà máy để đón cha cô về nhà. Khi ông chủ nhà máy xay thấy cô bước vào cửa nhà máy, ông sẽ đi tới, toàn thân trắng toát vì bụi bột, vẫy tay và hát một bài hát của người thợ xay cũ rất quen thuộc khắp những vùng đó như thế này:
“Bánh xe quay quay. Lúa đưa xay được xay. Người thợ xay vui vẻ. Anh ta khẽ hát cả ngày. Công việc của anh là vui khoẻ. Trong khi nghĩ về người trẻ thân yêu của mình”.
Sau đó Aglaia vừa chạy vừa cười đến chỗ ông và gọi: “Da-da, hãy đến và đón Dums về nhà” và người chủ nhà máy xay xốc bé lên vai và đi diễu hành đến bữa tối, hát bài hát của người thợ xay. Điều này thường xuyên diễn ra vào mỗi buổi tối.
Thế rồi một ngày nọ, chỉ một tuần sau sinh nhật lần thứ tư của cô, Aglaia biến mất. Lần cuối cùng nhìn thấy cô bé đang hái những bông hoa dại bên đường trước ngôi nhà gỗ. Một lúc sau, mẹ cô đi ra ngoài thấy rằng cô không còn đi lang thang quá xa nữa. Cô ta đã đi mất rồi.
Tất nhiên, mọi nổ lực đều được thực hiện để tìm kiếm cô ta. Những người hàng xóm tụ tập và chia nhau kiếm tìm hàng nhiều dặm xung quanh trong rừng và khắp núi. Họ kéo lê từng bước chân theo dòng nước chạy máy xay và khắp con lạch một quãng xa bên dưới con đập. Họ không tìm thấy bất cứ dấu vết nào về cô. Một hoặc hai đêm trước đó, có một gia đình của những người du mục lang thang cắm trại trong một khu rừng gần đó. Người ta phỏng đoán rằng rất có thể họ đã đánh cắp đứa bé; nhưng khi cỗ xe ngựa của họ đi qua, người ta lục tìm nhưng không có đứa bé.
Người chủ máy xay vẫn ở lại nhà máy gần hai năm và niềm hy vọng tìm thấy cô bé đã nhạt dần. Vợ chồng ông dọn lên phía Tây Bắc. Trong ít năm, ông đã là chủ sở hữu của một nhà máy xay xát hiện đại ở một trong những thành phố xay xát quan trọng của vùng đó. Bà Strong chưa bao giờ hồi phục sau cú sốc do mất Aglaia, và hai năm sau họ lại dọn đi, người chủ nhà máy xay đã phải gánh chịu nỗi buồn một mình.
Khi Abram Strong làm ăn trở nên phát đạt, ông đã đến thăm Lakelands và nhà máy cũ. Cảnh cũ còn đó, thật buồn đối với ông ta, nhưng ông là một người đàn ông mạnh mẽ, và luôn tỏ ra vui vẻ và tử tế. Chính lúc đó, ông được truyền cảm hứng để chuyển đổi nhà máy cũ thành ngôi nhà thờ. Lakelands quá nghèo để không thể xây nổi một ngôi giáo đường, và người dân vùng núi còn nghèo hơn để không thể hổ trợ. Trong khoảng gần hơn hai mươi dặm, không có lấy một nơi để thờ phượng.
Ông chủ nhà máy xay đã thay đổi dáng vẻ bên ngoài của nhà máy càng ít càng tốt. Một cối xay gió khổng lồ được thay thế vào vị trí của nó. Những người trẻ tuổi đến nhà thờ thường khắc ký tự đầu của tên họ lên phiến gỗ mềm, đang mục dần. Con đập nước đã bị phá huỷ một phần và dòng suối trong vắt róc rách chảy không bị cản trở xuống lòng đá của nó. Bên trong nhà máy, có những sự thay đổi lớn hơn. Các trục và thớt cối, đai và ròng rọc, dĩ nhiên, đều được tháo ra. Có hai hàng ghế dài với lối đi ở giữa, một cái bục được nâng cao hơn một chút và bục giảng ở một đầu. Ở ba phía trên cao là dãy hành lang có ghế ngồi, dẫn vào bên trong bằng một cầu thang. Bên trong còn có một cây đàn organ – một đàn organ ống thực sự - là niềm tự hào của giáo đoàn Nhà Thờ Old Mill. Cô Phoebe Summers là người chơi đàn organ, các chàng trai Lakelands tự hào thay phiên nhau bơm đàn cho cô vào mỗi buổi lễ ngày Chủ Nhật. Ngài Banbridge là nhà thuyết giáo, cỡi con ngựa già màu trắng của ông từ Squirrel Gap xuống mà không bỏ nhỡ bất cứ một buổi lễ nào. Và Abram Strong thanh toán cho mọi chi phí. Ông trả cho nhà thuyết giáo năm trăm đô la một năm, cho cô Phoebe hai trăm đô la.
Vì vậy, để tưởng nhớ Aglaia, nhà máy xay cũ được biến đổi thành nơi ban phúc lành cho cộng đồng nơi cô ta từng sinh sống. Dường như cuộc đời ngắn ngủi của đứa trẻ đã mang lại nhiều điều tốt đẹp hơn. Nhưng Abram Strong đã xây dựng một tượng đài khác để tưởng nhớ cô.
Từ các nhà máy của ông ở Tây Bắc, bột “Aglaia” được làm từ loại lúa mì cứng nhất và tốt nhất có thể được gieo trồng. Đất nước sớm phát hiện ra rằng bột “Aglaia” có hai mức giá. Một là giá thị trường cao nhất, và một là – không có gì.
Bất cứ nơi nào có thiên tai xảy ra khiến người dân nghèo khổ - hoả hoạn, lũ lụt, lốc xoáy, đình công hoặc nạn đói, thì sẽ có sự vận chuyển nhanh chóng một lô hàng độ lượng “Aglaia” với cái giá “không có gì” của nó. Nó được cho đi một cách thận trọng và đúng đắn, và nó được phát miễn phí và những người bị đói khát không phải trả một xu nào. Có một câu nói rằng bất cứ khi nào có một trận hoả hoạn thảm khốc xảy ra ở các khu vực nghèo khó của thành phố thì xe của cảnh sát trưởng cứu hoả đến hiện trường đầu tiên, tiếp theo là xe chở bột mì “Aglaia” và sau đó là xe cứu hoả.
Vì vậy, đây là một công trình kỷ niệm khác của Abram Strong cho Aglaia. Có lẽ đối với một nhà thơ, chủ đề này quá thiết thực đối với cái đẹp; nhưng đối với một số người ưa thích sẽ có vẻ ngọt ngào và tốt đẹp mà thứ bột mì tinh chất, thanh khiết, trong trắng bay trên sứ mệnh yêu thương và bác ái, có thể được ví như linh hồn của đứa trẻ bị mất tích, mà ký ức về nó đã được báo hiệu.
Đã có một năm đầy khó khăn cho vùng Cumberlands: cây ngũ cốc ở khắp nơi đều bị lép, và không có lấy một thứ cây trồng địa phương nào cả. Lũ lụt từ trên núi quét xuống đã gây ra nhiều thiệt hại về tài sản. Ngay cả thú săn trong rừng cũng khan hiếm đến mức những người thợ săn khó mà có thể mang về nhà đủ thịt săn để nuôi sống gia đình của họ. Đặc biệt tình trạng ở Lakelands vô cùng khắc nghiệt.
Ngay khi Abram Strong nghe về điều này, thông điệp của ông liền bay đến: những chiếc xe nhỏ cỡ hẹp bắt đầu dỡ bột “Aglaia” xuống đó. Lệnh của ông chủ nhà máy xay là bột mì phải được chứa ở hành lang nhà thờ Cối Xay; và mọi người đi lễ nhà thờ sẽ được mang về nhà một bao tải.
Hai tuần sau đó, Abram Strong làm chuyến thăm viếng hàng năm của ông đến Eagle House và trở thành “Cha Abram” một lần nữa.
Mùa hè năm đó Eagle House ít khách hơn thường lệ. Trong số đó có Rose Chester, cô đến Lakelands từ Atlanta, nơi cô đang làm việc trong một cửa hàng bách hoá. Đây là chuyến đi chơi xa lần đầu tiên trong đời của cô. Vợ của giám đốc cửa hàng đã từng nghỉ hè tại Eagle House. Bà rất thích Rose và đã thuyết phục cô đến đó trong kỳ nghỉ ba tuần lễ của cô ấy. Vợ của giám đốc đã đưa cô ấy một lá thư giới thiệu đến bà Rankin, người đã vui vẻ nhận cô ta trong sự phụ trách và chăm sóc của riêng mình. Cô Chester không quá khoẻ mạnh. Cô trạc hai mươi tuổi, xanh xao và thanh tú từ cuộc sống bên trong nhà. Nhưng một tuần lễ ở Lakelands đã cho cô một vẻ tươi sáng và tinh thần đã thay đổi cô một cách tuyệt vời. Thời gian là đầu tháng Chín khi mà Cumberlands đang ở vào lúc đẹp tuyệt vời nhất của nó. Những tán lá rừng đang trở nên rực rỡ với sắc màu của mùa thu, người ta hít thở một không khí nhẹ như rượu champagne. Những đêm mát mẻ tuyệt vời khiến ta khoái rúc mình vào chăn ấm của Eagle House.
Cha Abram và cô Chester đã trở thành những người bạn tuyệt vời. Ông chủ nhà máy xay già đã biết được câu chuyện của cô ấy từ bà Rankin và mối quan tâm của ông nhanh chóng chuyển sang cô gái mảnh mai cô đơn, một cô gái đang tự mình dấn thân trong cuộc đời.
Xứ sở núi đồi khá mới mẻ và lạ lẫm đối với cô Chester. Cô đã sống nhiều năm ở một thị trấn ấm áp, phẳng lặng của Atlanta; và sự hùng vĩ, đa dạng của Cumberlands khiến cô thích thú. Cô quyết tâm tận hưởng từng phút giây trong kỳ nghỉ của mình. Số tiền tiết kiệm ít ỏi của cô đã được ước tính cẩn thận liên quan đến các khoản chi tiêu của mình đến nỗi cô biết gần như từng đồng xu và số tiền thặng dư rất nhỏ của mình sẽ là bao nhiêu khi đi làm trở lại.
Cô Chester rất may mắn có được Cha Abram như một người bạn vừa là người bạn đồng hành. Ông biết rõ mọi con đường, đỉnh núi, sườn đồi gần Lakelands. Nhờ ông mà cô quen biết với niềm thích thú trang trọng của những lối đi nghiêng bóng mờ trong rừng thông, sự uy nghiêm của những vách núi trơ trọi, những buổi sáng pha lê như liều thuốc bổ tốt, những chiều vàng mộng mơ đầy vẻ u buồn bí ẩn. Vì vậy, sức khoẻ của cô được cải thiện rất nhiều và tinh thần trở nên sảng khoái nhẹ nhàng. Cô có được tiếng cười vui vẻ và nồng nhiệt theo cách nữ tính của nó như cái cười nổi tiếng của Cha Abram. Cả hai đều là những người lạc quan bẩm sinh; và cả hai đều biết cách thể hiện một khuôn mặt thanh thản, tươi vui với thế giới.
Một ngày nọ, cô Chester biết được từ một trong những vị khách về lịch sử của đứa con thất lạc của Cha Abram, cô vội vã đi tìm và thấy người chủ nhà máy xay đang ngồi trên chiếc ghế dài mộc mạc được ưa thích của ông cạnh dòng suối có nước chứa chất sắt. Ông rất ngạc nhiên khi người bạn nhỏ của mình luồn tay vào tay ông và nhìn ông với đôi mắt ngấn lệ.
“Ôi, Cha Abram,” cô nói, “con rất xin lỗi! Con không biết mãi đến ngày hôm nay về đứa con gái nhỏ của ông. Nhất định ông sẽ tìm thấy cô ấy một ngày nào đó không xa - Ồ, con hy vọng là ông sẽ làm được điều đó”.
Người chủ nhà máy xay nhìn xuống cô với nụ cười mạnh mẽ và sẵn sàng của mình.
“Cảm ơn cô, cô Rose,” ông nói, với giọng vui vẻ thường ngày. “Nhưng tôi không hy vọng tìm thấy Aglaia. Trong mấy năm qua, tôi hy vọng rằng nó đã bị những kẻ lang thang đánh cắp, và nó vẫn còn sống; nhưng tôi đã mất hy vọng đó. Tôi tin rằng nó đã bị chết đuối”.
“Tôi có thể hiểu,” cô Chester nói, “ sự nghi ngờ ắt hẳn đã khiến cho thật khó khăn đến mức có thể chịu đựng được. Thế mà ông vẫn rất vui vẻ và sẵn sàng để làm nhẹ bớt gánh nặng của những người khác. Cha Abram thật tốt biết bao!”
“Cô Rose thật đáng yêu biết bao!” người chủ nhà máy xay bắt chước câu nói của cô, miệng mỉm cười. “
“Ai có thể nghĩ đến người khác nhiều hơn cô?”
Một tâm trạng bất thường dường như ập đến với cô Chester.
Cô kêu lên,” Ôi, Cha Abram!” “thật không vĩ đại lắm sao nếu tôi chứng minh mình là con gái của ông?” “Thật không lãng mạn lắm sao? Và ông không muốn có tôi để làm con gái của ông sao?”
“Thực vậy, tôi muốn,” người chủ nhà máy xay nói một cách rất thật lòng. “Nếu Aglaia còn sống, tôi không thể mong ước gì hơn đối với nó là nó lớn lên để trở thành một thiếu nữ nhỏ bé như cô. Có lẽ cô là Aglaia,” ông tiếp tục, rơi vào tâm trạng vui tươi của cô; “cô không thể nhớ khi chúng ta sống ở nhà máy xay?”
Cô Chester nhanh chóng rơi vào trạng thái trầm tư nghiêm túc. Đôi mắt to của cô mơ hồ gắn vào một thứ gì đó ở phía xa. Cha Abram thích thú trước sự nghiêm túc trở lại nhanh chóng của cô. Cô ngồi như thế một hồi lâu trước khi nói.
“Không,” cô đã nói một hơi dài cùng với tiếng thở dài,” tôi không thể nhớ chút nào về bất cứ thứ gì ở nhà máy xay cả. Tôi không nghĩ rằng trong đời mình đã từng thấy một nhà máy xay bột mãi cho đến khi tôi thấy ngôi nhà thờ nhỏ vui nhộn của ông. Và nếu tôi là con gái của ông, tôi sẽ nhớ điều đó, phải không? Tôi rất xin lỗi, Cha Abram”.
“Tôi cũng vậy,” Cha Abram nói và đang chiều lòng cô. “Nhưng nếu cô không thể nhớ rằng cô là đứa con gái nhỏ của tôi, cô Rose, chắc chắn cô có thể nhớ lại mình là một ai khác. Tất nhiên cô phải nhớ đến cha mẹ mình”.
“Ồ, vâng, tôi nhớ họ rất rõ – đặc biệt là cha tôi. Ông ấy không giống Cha một chút nào, Cha Abram. Ồ, con chỉ đang giả vờ thôi. Nào, bây giờ, ông đã nghỉ ngơi đủ lâu rồi. Ông đã hứa sẽ cho tôi xem một ao hồ, nơi có thể thấy cá hồi đang đùa giỡn chiều nay. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy một con cá hồi lần nào”.
Vào cuối buổi chiều, Cha Abram trên đường đến nhà máy cũ một mình. Ông thường đến đó ngồi một mình và nghĩ về những ngày xưa cũ, sống trong căn nhà gỗ bên kia đường. Thời gian đã xoá mờ nét đau buồn của ông cho đến khi ông không còn thấy ký ức về những lần đau thương đó nữa. Nhưng bất cứ khi nào Abram Strong ngồi vào những buổi chiều tháng Chín u uất tại nơi mà “Dums” thường chạy hàng ngày với những lọn tóc vàng bay bay, nụ cười mà Lakelands luôn nhìn thấy trên khuôn mặt ông đã không còn thấy ở đó nữa.
Ông chủ nhà máy xay đi chầm chậm dọc con đường dốc ngoằn ngoèo. Cây cối mọc san sát nhau hai bên lề đường, phủ bóng râm trên bước ông đi, với chiếc mũ trên tay. Mấy con sóc nhảy nhót vui đùa trên hàng rào đường sắt cũ kỹ bên phải ông. Vài con chim cút đang kêu họp bầy trong đống rạ lúa mì. Mặt trời đã xuống thấp, tỏa những tia sáng vàng vọt lên khe núi mở ra hướng tây. Đầu tháng Chín! - chỉ trong vòng vài ngày sau ngày kỷ niệm Aglaia mất tích. Cái cối xay cũ chạy bằng sức nước đã bị dây thường xuân che phủ một nửa, bắt lấy vài mảng nắng ấm áp chiếu xuống qua cành cây kẽ lá. Ngôi nhà gỗ phía bên kia đường vẫn còn đấy, nhưng chắc chắn sẽ đổ sụp trước luồng gió thổi từ núi rừng trong mùa đông tới. Dây bìm bìm bò dọc ngang cùng khắp trên khung nhà, và cánh cửa treo lơ lửng trên một bản lề.
Cha Abram đẩy cánh cửa nhà máy xay mở ra và từ từ bước vào. Và rồi ông đứng lặng, tự hỏi. Ông như nghe thấy tiếng ai đó bên trong, đang khóc lóc thảm thiết. Ông nhìn quanh và thấy cô Chester đang ngồi trên một chiếc ghế dài có tựa lưng trong ánh sáng lờ mờ, với đầu cô cúi trước một bức thư để mở, cô đang cầm trên tay.
Cha Abram bước đến chỗ cô, đặt bàn tay mạnh mẽ của ông lên tay cô. Cô nhìn lên, gọi trong hơi thở tên ông, và cố nói thêm.
“Khoan đã, cô Rose,” người chủ nhà máy xay nói, giọng đầy tử tế. “Đừng cố nói chuyện. Không có gì tốt hơn cho cô bằng một tiếng khóc nhỏ, êm đềm dễ chịu khi cô đang cảm thấy ưu tư buồn bã”.
Có vẻ như người chủ máy xay già, người đã tự biết quá nhiều nỗi buồn, là một nhà ảo thuật trong việc xua đi nỗi buồn khỏi người khác. Tiếng nức nở của Chester trở nên dễ dàng hơn. Ngay lúc đó cô lấy chiếc khăn tay nhỏ có đường viền đơn giản và lau đi một hoặc hai giọt nước mắt đã rơi từ mắt của cô xuống bàn tay to lớn của Cha Abram. Cô nhìn lên và mỉm cười trong nước mắt. Cô Chester luôn có thể mỉm cười ngay trước khi nước mắt cô khô, cũng như Cha Abram có thể mỉm cười vượt qua nỗi đau của chính mình. Theo cách đó cả hai giống nhau rất nhiều.
Ông chủ nhà máy không hỏi cô câu nào, nhưng dần dần cô Chester đã bắt đầu kể cho ông nghe.
Đó là câu chuyện cũ luôn có vẻ rất trọng đại đối với những người trẻ tuổi, và luôn mang lại nụ cười gợi nhớ cho những người lớn tuổi. Tình yêu là chủ đề như có thể được cho là thế. Có một người đàn ông trẻ tuổi ở Atlanta, với đầy đủ mọi tính tốt và lịch thiệp, người mà đã phát hiện ra rằng cô Chester cũng sở hữu những phẩm chất này hơn tất cả những người khác ở Atlanta hoặc bất cứ nơi nào khác từ Greenland đến Patagonia. Cô cho Cha Abram xem lá thư mà đã khiến cho cô khóc. Đó là một lá thư dịu dàng, nhưng rất đàn ông, một chút gì đó cao siêu và khẩn nài, theo kiểu những bức thư tình được viết bởi những chàng trai trẻ đầy thiện chí và phong nhã. Anh cầu hôn cô Chester ngay lập tức. Anh nói cuộc sống, kể từ khi cô rời đi trong chuyến thăm viếng ba tuần đến đó, đối với anh không thể nào chịu đựng nổi. Anh khẩn cầu một câu trả lời ngay lập tức; và nếu điều kiện thuận lợi, anh hứa sẽ đáp máy bay, bỏ qua tuyến đường sắt khổ hẹp, để đến Lakelands ngay lập tức.
“Thế bây giờ sự rắc rối đến từ đâu?” ông chủ nhà máy hỏi sau khi ông đọc xong lá thư.
“Tôi không thể lấy anh ấy,” cô Chester nói.
“Cô có muốn kết hôn với anh ấy không?” Cha Abram hỏi.
“Ồ, tôi rất yêu anh ấy,” cô trả lời “nhưng …”. Cô gục đầu xuống và lại nức nở.
“Thôi nào, cô Rose,” ông chủ máy xay nói, “cô có thể tin tưởng nơi tôi. Tôi không hỏi cô thêm bất cứ câu hỏi nào nữa, nhưng tôi nghĩ cô có thể tin tưởng tôi”.
“Tôi tin tưởng ông,” cô gái nói. “ tôi sẽ cho ông biết tại sao tôi phải từ chối Ralph. Tôi không là ai cả; thậm chí tôi cũng không có tên; cái tên mà tôi tự gọi mình là một lời nói dối. Ralph là một người đàn ông cao quý. Tôi yêu anh ấy bằng cả trái tim mình, nhưng tôi không bao giờ có thể là của anh ấy”.
“Đây là nói chuyện gì?” Cha Abram nói. “Cô nói nhớ cha mẹ. Sao lại nói không có tên? Ta không hiểu”.
“Tôi rất nhớ họ,” cô Chester nói”. “Tôi nhớ họ quá rõ. Những hồi ức đầu tiên của tôi là cuộc sống của chúng tôi ở đâu đó tận miền Nam xa xôi. Chúng tôi đã nhiều lần chuyển đến các thị trấn và tiểu bang khác nhau. Tôi hái bông, làm việc trong các nhà máy, và thường xuyên không có đủ thức ăn và quần áo. Mẹ tôi đôi lúc cũng tốt với tôi, nhưng ba tôi thì rất tàn nhẫn và luôn đánh đập tôi. Tôi nghĩ cả hai vì nhàn rỗi và không ổn định.
“Một đêm, khi chúng tôi sống ở một thị trấn nhỏ, trên một con sông gần Atlanta, họ đã có một cuộc cãi vã lớn. Chính trong lúc họ nhục mạ và chế nhạo nhau tôi mới hiểu ra - ồ, Cha Abram, tôi hiểu ra rằng thậm chí tôi đã không có cái quyền là - ông không hiểu sao? Tôi không có quyền ngay cả đối với một cái tên, tôi chẳng là ai cả.
“Tôi đã bỏ trốn vào đêm đó. Tôi đi bộ đến Atlanta và tìm việc làm. Tôi đặt cho mình một cái tên Rose Chester, và tự kiếm sống kể từ đó. Giờ thì ông đã biết tại sao tôi không thể kết hôn với Ralph – và ồ, tôi không bao giờ có thể nói cho anh ấy biết tại sao”.
Còn tốt hơn bất kỳ sự cảm thông nào, còn hữu ích hơn bất cứ sự thương hại nào là sự đánh giá cao của Cha Abram về nỗi thống khổ của cô.
“Sao, cô gái thương mến ơi! Chỉ có vậy thôi à?” ông nói. “Thật xấu hổ, thật nhục nhã! Tôi nghĩ có điều gì đó cản trở. Nếu người thanh niên hoàn hảo này là một người đàn ông đúng nghĩa, anh ta sẽ không quan tâm đến một nhúm cám cho cây gia đình của cô. Cô Rose thương mến à, hãy nghe theo lời tôi. Chính cô mới là người anh ấy quan tâm. Hãy nói thẳng với anh ta một cách chân thành, giống như những gì cô đã nói với tôi và tôi đảm bảo rằng anh ta sẽ cười vào câu chuyện của cô và suy nghĩ nhiều hơn về cô vì điều đó.
Cô Chester buồn bã nói,”tôi sẽ không bao giờ nói với anh ấy và cũng không bao giờ kết hôn với bất cứ ai khác. Tôi không có quyền”.
Nhưng họ nhìn thấy một bóng dài nhấp nhô trên con đường ngập nắng. Và tiếp theo là một chiếc bóng ngắn hơn nhấp nhô bên cạnh nó: và lúc này hai bóng người xa lạ đến gần nhà thờ. Chiếc bóng dài là của cô Phoebe Summers, nghệ sĩ chơi đàn organ đến tập, còn cái bóng ngắn hơn là của Tommy Teague, mười hai tuổi. Đó là ngày Tommy đi bơm đàn organ cho cô Phoebe, và những ngón chân trần của cậu ta tự hào hất tung bụi đường.
Cô Phoebe trong chiếc váy vải hoa sặc sỡ phun màu hoa cà, với những lọn tóc nhỏ buông thõng một cách chính xác qua mỗi bên tai, cúi chào Cha Abram, và lắc lắc những lọn tóc của cô một cách theo nghi lễ với cô Chester. Rồi cô và trợ lý của cô bước lên một cầu thang thẳng đứng lên gác xép dành cho ban đồng ca.
Trong những bóng tối tụ tập bên dưới, Cha Abram và cô Chester còn nán lại. Hai người lặng yên không nói, và có lẽ họ đang bận rộn với những kỷ niệm của họ. Cô Chester ngồi, đầu tựa lên tay, mắt nhìn xa xăm. Cha Abram đứng ở hàng ghế sau, trầm ngâm nhìn ra khỏi cửa về phía con đường và ngôi nhà gỗ đổ nát.
Đột nhiên khung cảnh được chuyển đổi cho ông trở lại gần hai mươi năm trước. Vì, khi Tommy bơm đàn, cô Phoebe đánh một nốt trầm trên cây đàn organ và giữ nó để kiểm tra lượng không khí mà nó chứa. Nhà thờ đã không còn tồn tại cho đến nay như Cha Abram lo ngại. Chấn động sâu và bùng nổ làm rung chuyển toà nhà khung nhỏ, không phải do những nốt đàn organ mà do tiếng vang rền của máy móc máy xay. Ông cảm thấy chắc chắn rằng bánh xe của cối xay gió đang quay, rằng ông đã trở lại một lần nữa, một ông chủ nhà máy xay vui vẻ mình đầy bụi bặm trong một nhà máy cũ trên núi. Và bây giờ trời đã về chiều, và chẳng bao lâu nữa Aglaia sẽ đến với những chiếc áo màu bay bay, đang băng qua đường để đón ông về nhà ăn tối. Cha Abram nhìn chăm chăm vào cánh cửa bị hỏng của ngôi nhà gỗ. Và rồi đến một điều kỳ lạ khác. Trong dãy hành lang, những bao tải bột mì được xếp thành hàng dài. Có lẽ một con chuột đã ở một trong số chúng; dẫu sao thì sự rung động của nốt nhạc sâu của đàn organ cũng lắc xuống các kẽ nứt của sàn hành lang, một dòng bột mì phủ kín Cha Bram từ đầu đến chân với lớp bụi trắng. Người chủ nhà máy già bước vào lối đi giữa hai dãy ghế, vẫy tay và bắt đầu hát bài ca của người thợ xay:
Bánh xe quay quay tròn. Lúa đưa xay được xay ra bột. Người thợ xay đầy bụi bột vẫn vui vẻ tột cùng”.
Và rồi phần còn lại của điều kỳ diệu đã xảy ra. Cô Chester đang rướn người về phía trước từ chiếc băng dài có tựa lưng, nhợt nhạt như bột mì. Cô giương to đôi mắt nhìn chăm chăm vào Cha Abram như người vừa chợt tỉnh từ một giấc mơ. Khi ông bắt đầu bài hát, cô giang đôi tay ra đón ông, môi cô mấp máy, cô gọi ông bằng giọng mơ màng: “Da-da, đến dẫn Dums về nhà!”
Cô Phoebe phát ra phím trầm của cây đàn organ. Nhưng việc làm của cô đã được hoàn thành tốt. Nốt nhạc mà cô đánh đã phá vỡ cánh cửa của ký ức từ lâu đã khép kín; và Cha Abram ôm chặt lấy Aglaia, đứa con đã mất tích của mình trong vòng tay ông.
Khi bạn đến thăm Lakelands người ta sẽ kể cho bạn rõ hơn về câu chuyện này. Họ sẽ kể cho bạn nghe những đường hướng đã được truy tìm sau đó như thế nào và lịch sử của con gái người chủ nhà máy xay được tiết lộ sau khi những người du mục lang thang đã đánh cắp cô vào một ngày của tháng Chín, do bị thu hút bởi vẻ đẹp trẻ con của cô. Nhưng bạn nên đợi cho đến khi bạn ngồi thoải mái trên mái hiên nhà râm bóng mát của Eagle House, rồi bạn mới có thể nghe câu chuyện một cách hoàn toàn thư giãn. Dường như tốt nhất là phần của chúng ta về câu chuyện nên kết thúc trong khi nốt trầm sâu lắng của cô Phoebe vẫn còn vang lên nhẹ nhàng.
Tuy nhiên, theo suy nghĩ của tôi, điều tuyệt vời nhất trong tất cả đã xảy ra trong khi Cha Bram và con gái của ông đang đi bộ trở lại Eagle House vào lúc chạng vạng tối kéo dài, gần như quá vui mừng để không thể nói nên lời.
“Cha,” cô nói, có phần rụt rè và nghi ngờ, “cha có nhiều tiền không?”
“Nhiều tiền không?”ông chủ nhà máy xay cho biết. “Chà, điều đó còn tuỳ. Có rất nhiều trừ phi con muốn mua mặt trăng hoặc thứ gì đó dắt tiền như thế”.
Aglaia, người luôn đếm những đồng tiền xu của mình rất cẩn thận hỏi: “Có phải sẽ tốn rất nhiều tiền,” Aglaia hỏi, “để gửi một bức điện đến Atlanta không?”
“À,” Cha Abram nói, với một tiếng thở dài nhè nhẹ, “Ba hiểu rồi. Con muốn mời Ralph đến đây?”
Aglaia ngước nhìn ông với một nụ cười dịu dàng. “Con muốn yêu cầu anh ấy đợi,” cô nói. “Con vừa mới tìm thấy cha mình, và con muốn chỉ là hai chúng ta một thời gian. Con muốn nói với anh ấy rằng anh ấy sẽ phải chờ đợi”.
Phan Thiện Trì dịch
Jan. 2022
VThe Church with an Overshot-Wheel
by O. Henry
Lakelands is not to be found in the catalogues of fashionable summer resorts. It lies on a low spur of the Cumberland range of mountains on a little tributary of the Clinch River. Lakelands proper is a contented village of two dozen houses situated on a forlorn, narrow-gauge railroad line. You wonder whether the railroad lost itself in the pine woods and ran into Lakelands from fright and loneliness, or whether Lakelands got lost and huddled itself along the railroad to wait for the ears to carry it home.
You wonder again why it was named Lakelands. There are no lakes, and the lands about are too poor to be worth mentioning.
Half a mile from the village stands the Eagle House, a big, roomy old mansion run by Josiah Rankin for the accommodation of visitors who desire the mountain air at inexpensive rates. The Eagle House is delightfully mismanaged. It is full of ancient instead of modern improvements, and it is altogether as comfortably neglected and pleasingly disarranged as your own home. But you are furnished with clean rooms and good and abundant fare: yourself and the piny woods must do the rest. Nature has provided a mineral spring, grape-vine swings, and croquet -- even the wickets are wooden. You have Art to thank only for the fiddle-and-guitar music twice a week at the hop in the rustic pavilion.
The patrons of the Eagle House are those who seek recreation as a necessity, as well as a pleasure. They are busy people, who may be likened to clocks that need a fortnight's winding to insure a year's running of their wheels. You will find students there from the lower towns, now and then an artist, or a geologist absorbed in construing the ancient strata of the hills. A few quiet families spend the summers there; and often one or two tired members of that patient sisterhood known to Lakelands as "schoolmarms."
A quarter of a mile from the Eagle House was what would have been described to its guests as "an object of interest" in the catalogue, had the Eagle House issued a catalogue. This was an old, old mill that was no longer a mill. In the words of Josiah Rankin, it was "the only church in the United States, sah, with an overshot-wheel; and the only mill in the world, sah, with pews and a pipe organ." The guests of the Eagle House attended the old mill church each Sabbath, and heard the preacher liken the purified Christian to bolted flour ground to usefulness between the millstones of experience and suffering.
Every year about the beginning of autumn there came to the Eagle House one Abram Strong, who remained for a time an honoured and beloved guest. In Lakelands he was called "Father Abram," because his hair was so white, his face so strong and kind and florid, his laugh so merry, and his black clothes and broad hat so priestly in appearance. Even new guests after three or four days' acquaintance gave him this familiar title.
Father Abram came a long way to Lakelands. He lived in a big, roaring town in the Northwest where he owned mills, not little mills with pews and an organ in them, but great, ugly, mountain-like mills that the freight trains crawled around all day like ants around an ant-heap. And now you must be told about Father Abram and the mill that was a church, for their stories run together.
In the days when the church was a mill, Mr. Strong was the miller. There was no jollier, dustier, busier, happier miller in all the land than he. He lived in a little cottage across the road from the mill. His hand was heavy, but his toll was light, and the mountaineers brought their grain to him across many weary miles of rocky roads.
The delight of the miller's life was his little daughter, Aglaia. That was a brave name, truly, for a flaxen-haired toddler; but the mountaineers love sonorous and stately names. The mother had encountered it somewhere in a book, and the deed was done. In her babyhood Aglaia herself repudiated the name, as far as common use went, and persisted in calling herself "Dums." The miller and his wife often tried to coax from Aglaia the source of this mysterious name, but without results. At last they arrived at a theory. In the little garden behind the cottage was a bed of rhododendrons in which the child took a peculiar delight and interest. It may have been that she perceived in "Dums" a kinship to the formidable name of her favourite flowers.
When Aglaia was four years old she and her father used to go through a little performance in the mill every afternoon, that never failed to come off, the weather permitting. When supper was ready her mother would brush her hair and put on a clean apron and send her across to the mill to bring her father home. When the miller saw her coming in the mill door he would come forward, all white with the flour dust, and wave his hand and sing an old miller's song that was familiar in those parts and ran something like this:
"The wheel goes round, The grist is ground, The dusty miller's merry. He sings all day, His work is play, While thinking of his dearie."
Then Aglaia would run to him laughing, and call:
"Da-da, come take Dums home;" and the miller would swing her to his shoulder and march over to supper, singing the miller's song. Every evening this would take place.
One day, only a week after her fourth birthday, Aglaia disappeared. When last seen she was plucking wild flowers by the side of the road in front of the cottage. A little while later her mother went out to see that she did not stray too faraway, and she was already gone.
Of course every effort was made to find her. The neighbours gathered and searched the woods and the mountains for miles around. They dragged every foot of the mill race and the creek for a long distance below the dam. Never a trace of her did they find. A night or two before there had been a family of wanderers camped in a grove near by. It was conjectured that they might have stolen the child; but when their wagon was overtaken and searched she could not be found.
The miller remained at the mill for nearly two years; and then his hope of finding her died out. He and his wife moved to the Northwest. In a few years he was the owner of a modern mill in one of the important milling cities in that region. Mrs. Strong never recovered from the shock caused by the loss of Aglaia, and two years after they moved away the miller was left to bear his sorrow alone.
When Abram Strong became prosperous he paid a visit to Lakelands and the old mill. The scene was a sad one for him, but he was a strong man, and always appeared cheery and kindly. It was then that he was inspired to convert the old mill into a church. Lakelands was too poor to build one; and the still poorer mountaineers could not assist. There was no place of worship nearer than twenty miles.
The miller altered the appearance of the mill as little as possible. The big overshot-wheel was left in its place. The young people who came to the church used to cut their initials in its soft and slowly decaying wood. The dam was partly destroyed, and the clear mountain stream rippled unchecked down its rocky bed. Inside the mill the changes were greater. The shafts and millstones and belts and pulleys were, of course, all removed. There were two rows of benches with aisles between, and a little raised platform and pulpit at one end. On three sides overhead was a gallery containing seats, and reached by a stairway inside. There was also an organ -- a real pipe organ -- in the gallery, that was the pride of the congregation of the Old Mill Church. Miss Phoebe Summers was the organist. The Lakelands boys proudly took turns at pumping it for her at each Sunday's service. The Rev. Mr. Banbridge was the preacher, and rode down from Squirrel Gap on his old white horse without ever missing a service. And Abram Strong paid for everything. He paid the preacher five hundred dollars a year; and Miss Phoebe two hundred dollars.
Thus, in memory of Aglaia, the old mill was converted into a blessing for the community in which she had once lived. It seemed that the brief life of the child had brought about more good than the three score years and ten of many. But Abram Strong set up yet another monument to her memory.
Out from his mills in the Northwest came the "Aglaia" flour, made from the hardest and finest wheat that could be raised. The country soon found out that the "Aglaia" flour had two prices. One was the highest market price, and the other was -- nothing.
Wherever there happened a calamity that left people destitute -- a fire, a flood, a tornado, a strike, or a famine, there would go hurrying a generous consignment of the "Aglaia" at its "nothing" price. It was given away cautiously and judiciously, but it was freely given, and not a penny could the hungry ones pay for it. There got to be a saying that whenever there was a disastrous fire in the poor districts of a city the fire chief's buggy reached the scene first, next the "Aglaia" flour wagon, and then the fire engines.
So this was Abram Strong's other monument to Aglaia. Perhaps to a poet the theme may seem too utilitarian for beauty; but to some the fancy will seem sweet and fine that the pure, white, virgin flour, flying on its mission of love and charity, might be likened to the spirit of the lost child whose memory it signalized.
There came a year that brought hard times to the Cumberlands. Grain crops everywhere were light, and there were no local crops at all. Mountain floods had done much damage to property. Even game in the woods was so scarce that the hunters brought hardly enough home to keep their folk alive. Especially about Lakelands was the rigour felt.
As soon as Abram Strong heard of this his messages flew; and the little narrow-gauge cars began to unload "Aglaia" flour there. The miller's orders were to store the flour in the gallery of the Old Mill Church; and that every one who attended the church was to carry home a sack of it.
Two weeks after that Abram Strong came for his yearly visit to the Eagle House, and became "Father Abram" again.
That season the Eagle House had fewer guests than usual. Among them was Rose Chester. Miss Chester came to Lakelands from Atlanta, where she worked in a department store. This was the first vacation outing of her life. The wife of the store manager had once spent a summer at the Eagle House. She had taken a fancy to Rose, and had persuaded her to go there for her three weeks' holiday. The manager's wife gave her a letter to Mrs. Rankin, who gladly received her in her own charge and care.
Miss Chester was not very strong. She was about twenty, and pale and delicate from an indoor life. But one week of Lakelands gave her a brightness and spirit that changed her wonderfully. The time was early September when the Cumberlands are at their greatest beauty. The mountain foliage was growing brilliant with autumnal colours; one breathed aerial champagne, the nights were deliciously cool, causing one to snuggle cosily under the warm blankets of the Eagle House.
Father Abram and Miss Chester became great friends. The old miller learned her story from Mrs. Rankin, and his interest went out quickly to the slender lonely girl who was making her own way in the world.
The mountain country was new to Miss Chester. She had lived many years in the warm, flat town of Atlanta; and the grandeur and variety of the Cumberlands delighted her. She was determined to enjoy every moment of her stay. Her little hoard of savings had been estimated so carefully in connection with her expenses that she knew almost to a penny what her very small surplus would be when she returned to work.
Miss Chester was fortunate in gaining Father Abram for a friend and companion. He knew every road and peak and slope of the mountains near Lakelands. Through him she became acquainted with the solemn delight of the shadowy, tilted aisles of the pine forests, the dignity of the bare crags, the crystal, tonic mornings, the dreamy, golden afternoons full of mysterious sadness. So her health improved, and her spirits grew light. She had a laugh as genial and hearty in its feminine way as the famous laugh of Father Abram. Both of them were natural optimists; and both knew how to present a serene and cheerful face to the world.
One day Miss Chester learned from one of the guests the history of Father Abram's lost child. Quickly she hurried away and found the miller seated on his favourite rustic bench near the chalybeate spring. He was surprised when his little friend slipped her hand into his, and looked at him with tears in her eyes.
"Oh, Father Abram," she said, "I'm so sorry! I didn't know until to-day about your little daughter. You will find her yet some day -- Oh, I hope you will."
The miller looked down at her with his strong, ready smile.
"Thank you, Miss Rose," he said, in his usual cheery tones. "But I do not expect to find Aglaia. For a few years I hoped that she had been stolen by vagrants, and that she still lived; but I have lost that hope. I believe that she was drowned."
"I can understand," said Miss Chester, "how the doubt must have made it so hard to bear. And yet you are so cheerful and so ready to make other people's burdens light. Good Father Abram!"
"Good Miss Rose!" mimicked the miller, smiling. "Who thinks of others more than you do?"
A whimsical mood seemed to strike Miss Chester.
"Oh, Father Abram," she cried, "wouldn't it be grand if I should prove to be your daughter? Wouldn't it be romantic? And wouldn't you like to have me for a daughter?"
"Indeed, I would," said the miller, heartily. "If Aglaia had lived I could wish for nothing better than for her to have grown up to be just such a little woman as you are. Maybe you are Aglaia," he continued, falling in with her playful mood; "can't you remember when we lived at the mill?"
Miss Chester fell swiftly into serious meditation. Her large eyes were fixed vaguely upon something in the distance. Father Abram was amused at her quick return to seriousness. She sat thus for a long time before she spoke.
"No," she said at length, with a long sigh, "I can't remember anything at all about a mill. I don't think that I ever saw a flour mill in my life until I saw your funny little church. And if I were your little girl I would remember it, wouldn't I? I'm so sorry, Father Abram."
"So am I," said Father Abram, humouring her. "But if you cannot remember that you are my little girl, Miss Rose, surely you can recollect being some one else's. You remember your own parents, of course."
"Oh, yes; I remember them very well -- especially my father. He wasn't a bit like you, Father Abram. Oh, I was only making believe: Come, now, you've rested long enough. You promised to show me the pool where you can see the trout playing, this afternoon. I never saw a trout."
Late one afternoon Father Abram set out for the old mill alone. He often went to sit and think of the old days when he lived in the cottage across the road. Time had smoothed away the sharpness of his grief until he no longer found the memory of those times painful. But whenever Abram Strong sat in the melancholy September afternoons on the spot where "Dums" used to run in every day with her yellow curls flying, the smile that Lakelands always saw upon his face was not there.
The miller made his way slowly up the winding, steep road. The trees crowded so close to the edge of it that he walked in their shade, with his hat in his hand. Squirrels ran playfully upon the old rail fence at his right. Quails were calling to their young broods in the wheat stubble. The low sun sent a torrent of pale gold up the ravine that opened to the west. Early September! -- it was within a few days only of the anniversary of Aglaia's disappearance.
The old overshot-wheel, half covered with mountain ivy, caught patches of the warm sunlight filtering through the trees. The cottage across the road was still standing, but it would doubtless go down before the next winter's mountain blasts. It was overrun with morning glory and wild gourd vines, and the door hung by one hinge.
Father Abram pushed open the mill door, and entered softly. And then he stood still, wondering. He heard the sound of some one within, weeping inconsolably. He looked, and saw Miss Chester sitting in a dim pew, with her head bowed upon an open letter that her hands held.
Father Abram went to her, and laid one of his strong hands firmly upon hers. She looked up, breathed his name, and tried to speak further.
"Not yet, Miss Rose," said the miller, kindly. "Don't try to talk yet. There's nothing as good for you as a nice, quiet little cry when you are feeling blue."
It seemed that the old miller, who had known so much sorrow himself, was a magician in driving it away from others. Miss Chester's sobs grew easier. Presently she took her little plain-bordered handkerchief and wiped away a drop or two that had fallen from her eyes upon Father Abram's big hand. Then she looked up and smiled through her tears. Miss Chester could always smile before her tears had dried, just as Father Abram could smile through his own grief. In that way the two were very much alike.
The miller asked her no questions; but by and by Miss Chester began to tell him.
It was the old story that always seems so big and important to the young, and that brings reminiscent smiles to their elders. Love was the theme, as may be supposed. There was a young man in Atlanta, full of all goodness and the graces, who had discovered that Miss Chester also possessed these qualities above all other people in Atlanta or anywhere else from Greenland to Patagonia. She showed Father Abram the letter over which she had been weeping. It was a manly, tender letter, a little superlative and urgent, after the style of love letters written by young men full of goodness and the graces. He proposed for Miss Chester's hand in marriage at once. Life, he said, since her departure for a three-weeks' visit, was not to be endured. He begged for an immediate answer; and if it were favourable he promised to fly, ignoring the narrow-gauge railroad, at once to Lakelands.
"And now where does the trouble come in?" asked the miller when he had read the letter.
"I cannot marry him," said Miss Chester.
"Do you want to marry him?" asked Father Abram.
"Oh, I love him," she answered, "but -- " Down went her head and she sobbed again.
"Come, Miss Rose," said the miller; "you can give me your confidence. I do not question you, but I think you can trust me."
"I do trust you," said the girl. "I will tell you why I must refuse Ralph. I am nobody; I haven't even a name; the name I call myself is a lie. Ralph is a noble man. I love him with all my heart, but I can never be his."
"What talk is this?" said Father Abram. "You said that you remember your parents. Why do you say you have no name? I do not understand."
"I do remember them," said Miss Chester. "I remember them too well. My first recollections are of our life somewhere in the far South. We moved many times to different towns and states. I have picked cotton, and worked in factories, and have often gone without enough food and clothes. My mother was sometimes good to me; my father was always cruel, and beat me. I think they were both idle and unsettled.
"One night when we were living in a little town on a river near Atlanta they had a great quarrel. It was while they were abusing and taunting each other that I learned -- oh, Father Abram, I learned that I didn't even have the right to be -- don't you understand? I had no right even to a name; I was nobody.
"I ran away that night. I walked to Atlanta and found work. I gave myself the name of Rose Chester, and have earned my own living ever since. Now you know why I cannot marry Ralph -- and, oh, I can never tell him why."
Better than any sympathy, more helpful than pity, was Father Abram's depreciation of her woes.
"Why, dear, dear! is that all?" he said. "Fie, fie! I thought something was in the way. If this perfect young man is a man at all he will not care a pinch of bran for your family tree. Dear Miss Rose, take my word for it, it is yourself he cares for. Tell him frankly, just as you have told me, and I'll warrant that he will laugh at your story, and think all the more of you for it."
"I shall never tell him," said Miss Chester, sadly. "And I shall never marry him nor any one else. I have not the right."
But they saw a long shadow come bobbing up the sunlit road. And then came a shorter one bobbing by its side; and presently two strange figures approached the church. The long shadow was made by Miss Phoebe Summers, the organist, come to practise. Tommy Teague, aged twelve, was responsible for the shorter shadow. It was Tommy's day to pump the organ for Miss Phoebe, and his bare toes proudly spurned the dust of the road.
Miss Phoebe, in her lilac-spray chintz dress, with her accurate little curls hanging over each ear, courtesied low to Father Abram, and shook her curls ceremoniously at Miss Chester. Then she and her assistant climbed the steep stairway to the organ loft.
In the gathering shadows below, Father Abram and Miss Chester lingered. They were silent; and it is likely that they were busy with their memories. Miss Chester sat, leaning her head on her hand, with her eyes fixed far away. Father Abram stood in the next pew, looking thoughtfully out of the door at the road and the ruined cottage.
Suddenly the scene was transformed for him back almost a score of years into the past. For, as Tommy pumped away, Miss Phoebe struck a low bass note on the organ and held it to test the volume of air that it contained. The church ceased to exist, so far as Father Abram was concerned. The deep, booming vibration that shook the little frame building was no note from an organ, but the humming of the mill machinery. He felt sure that the old overshot wheel was turning; that he was back again, a dusty, merry miller in the old mountain mill. And now evening was come, and soon would come Aglaia with flying colours, toddling across the road to take him home to supper. Father Abram's eyes were fixed upon the broken door of the cottage.
And then came another wonder. In the gallery overhead the sacks of flour were stacked in long rows. Perhaps a mouse had been at one of them; anyway the jar of the deep organ note shook down between the cracks of the gallery floor a stream of flour, covering Father Abram from head to foot with the white dust. And then the old miller stepped into the aisle, and waved his arms and began to sing the miller's song:
"The wheel goes round, The grist is ground, The dusty miller's merry."
-- and then the rest of the miracle happened. Miss Chester was leaning forward from her pew, as pale as the flour itself, her wide-open eyes staring at Father Abram like one in a waking dream. When he began the song she stretched out her arms to him; her lips moved; she called to him in dreamy tones: "Da-da, come take Dums home!"
Miss Phoebe released the low key of the organ. But her work had been well done. The note that she struck had beaten down the doors of a closed memory; and Father Abram held his lost Aglaia close in his arms.
When you visit Lakelands they will tell you more of this story. They will tell you how the lines of it were afterward traced, and the history of the miller's daughter revealed after the gipsy wanderers had stolen her on that September day, attracted by her childish beauty. But you should wait until you sit comfortably on the shaded porch of the Eagle House, and then you can have the story at your ease. It seems best that our part of it should close while Miss Phoebe's deep bass note was yet reverberating softly.
And yet, to my mind, the finest thing of it all happened while Father Abram and his daughter were walking back to the Eagle House in the long twilight, almost too glad to speak.
"Father," she said, somewhat timidly and doubtfully, "have you a great deal of money?"
"A great deal?" said the miller. "Well, that depends. There is plenty unless you want to buy the moon or something equally expensive."
"Would it cost very, very much," asked Aglaia, who had always counted her dimes so carefully, "to send a telegram to Atlanta?"
"Ah," said Father Abram, with a little sigh, "I see. You want to ask Ralph to come."
Aglaia looked up at him with a tender smile.
"I want to ask him to wait," she said. "I have just found my father, and I want it to be just we two for a while. I want to tell him he will have to wait."
8.9
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét