DSS36. CĂN PHÒNG CỦA RIÊNG TÔI
Joost De Vrie
Translated from Dutch into English by David Colmer
Translated from English into Vietnamese by Phan Thien Tri
Joost de Vrie (b.1983) nhà văn, tổng biên tập và nhà phê bình văn học, lần đầu tiên ra mắt với cuốn Clausewitz (2010) được cảm hứng bởi tác phẩm của Harry Mulisch. Quyển tiểu thuyết thứ hai của ông, The Republic (2013) đã giúp ông đoạt giải Golden Owl và một vài đề cử cho những giải thưởng văn học khác, sẽ được dịch sang chín thứ tiếng bao gồm tiếng Anh.
Henry Kissinger có cái miệng nhỏ, mềm dẻo mà ông thích dùng nó để đưa ra những bình luận khôi hài, như ông gọi quyền lực là loại thuốc kích thích tối thượng nhất, một câu cách ngôn mà ông thường lập đi lập lại nhiều lần khiến người ta bắt đầu tin nó, được khuyến khích bởi xu hướng riêng của ông để làm tư thế cho những tay săn ảnh tại các bữa cơm tối, hoặc tại các bữa tiệc rượu chiêu đãi với những nhân vật có vai vế trong xã hội hay các ngôi sao đang lên trong thế lực của ông.
Giờ nhìn lại những tấm ảnh đó, bạn thấy một bộ côm-lê đen to ngang với một người đàn ông được độn vào nó. Một khuôn mặt hiện rõ ra, không nói tới cổ, cặp mắt ti hí đằng sau cặp mắt kính khổng lồ, mái tóc gợn sóng kiểu cổ điển, và một trong những cô bé Barbarella đứng cạnh ông, trong chiếc áo đầm đẹp, răng của nó bị cản bởi một nụ cười, quá căng thẳng, trông giống như cô bé ấy đang đưa khuôn mặt của mình qua một buổi tập thể dục nhịp điệu.
“Quyền lực là loại thuốc kích thích tối thượng nhất”. Ông đang đề cập đến những người phụ nữ đó, nhưng không nghĩ lý thuyết của ông có thông suốt đủ để nhận biết nó được áp dụng cho ông nữa. Trong cuộc chạy đua vào cuộc bầu cử tổng thống năm 1968, ông gọi Richard Nixon “không thích hợp để làm tổng thống”, nhưng khi tổng thống Nixon gọi ông ba tuần sau khi thắng cử để bổ nhiệm ông làm Cố vấn An ninh Quốc gia, ông đã không ngần ngại. Ông cũng cảm thấy hai đầu gối của mình run rẩy và tim mình đập thình thịch khi đối mặt với quyền lực thực sự trong Nhà Trắng.
“Ông sẽ giúp tôi trong vai trò Cố Vấn An Ninh Quốc Gia được chứ?”
“Vâng, được, ngài Richard. Vâng, tôi sẽ”.
Chúng tôi nhận ra ông ta từ khoảng ba mươi mét, có lẽ hơn. Ông đang đi về phía chúng tôi từ điện Louvre. Một người đứng tuổi, dáng nhỏ, với gậy chống, được hộ tống bởi ba người trẻ hơn nhiều, rõ ràng là ba nhân viên an ninh. Bên phải chúng tôi, dòng sông Seine êm đềm chảy, bên trái, Jardin des Tuileries, Orangeries, Rue de Rivoli với những khách sạn lộng lẫy và các cửa hiệu Armani, Đằng sau chúng tôi, Place de la Concord với đài kỷ niệm khổng lồ của Napoleon, xa hơn về hướng đó, Grand Palais, Champs-Elysees với Arc de Triomphe, mà Hitler đã diễu hành vòng quanh đó, thay vì chỉ đi ngang qua, vì để tỏ lòng tôn kính nấm mồ của Chiến Sĩ Vô Danh. Chúng tôi bị bao bọc bởi những tiếng vọng của quá khứ. Đó hẳn phải là một trong những nơi thu hút khách du lịch khắp nước Pháp. Sát bên kim tự tháp kính ngược của viện bảo tàng, cách khoảng một trăm năm mươi mét từ đài kỷ niệm những người Liberia và người Senegale không có giấy tờ đến chỗ vòng móc khoá gần tháp Eiffel, đến chỗ những du khách bàng quan. Nếu bạn có hai tiếng đồng hồ để giết thời gian tại Paris này thì đây là nơi đến thích hợp, và đó là lý do chúng tôi có mặt ở đây – một tiếng rưỡi trước khi tôi đến báo cáo tại Gare du Nord – nhưng khách du lịch ít khi để con đường chính chạy xuyên qua các khu vườn dinh thự xưa thông suốt, vì vậy bạn chỉ còn có thể đi dạo một cách bình thản dọc theo các lối đi lát sỏi đẹp, loại sỏi chắc chắn rất tốt cho việc chơi môn ném bi sắt.
Kìa, thật có thể, chắc chắn là không thể, đó là, rất có thể đó thực sự là, chúng tôi nói với nhau, nhưng chắc chắn ở trong tâm trí chúng tôi, đã bốn thập kỷ kể từ khi ông giữ một chức vụ trong nội các, và hơn cả là không thể nhớ lần mới đây nhất chúng tôi thấy ông trên truyền hình, chúng tôi không thể nhớ đã từng thấy ông trên truyền hình ngoài cảnh phim lưu trữ.
Ông đang đi chậm và chúng tôi cũng bước chậm nữa. Chúng tôi muốn lúc đó được làm chậm lại, lúc mà lối đi của chúng tôi sẽ vượt qua, và chúng tôi có thể nhìn vào mắt ông. Mười mét, sáu mét, rồi ba mét và rồi – trước sự ngạc nhiên của tôi – em trai tôi bước tới trước mặt ông.
“Xin lỗi, ngài Kissinger, chúng tôi có thể chụp một tấm hình?” Liền đó nói thêm rằng, “Tôi là một fan lớn của quyển sách Thuật Ngoại Giao của ngài”.
Mấy nhân viên an ninh ngăn lại một lúc. “Ồ, được rồi, tốt,” vị cựu Bộ trưởng Bộ Ngoại Giao nói lầm bầm trong miệng, người mà chỉ đứng tới vai em trai tôi. Ông có vẻ vui lắm. Em trai tôi đưa lên tấm ảnh có nụ cười toe toét đầy giả tạo của ông, trong khi một trong những trợ lý của Kissinger mỉm cười một cách chuyên nghiệp và nói chắc nịch, “Vâng, chỉ một tấm thôi nhé”.
Mặt của hai người sát nhau trên màn hình của chiếc iPhone của tôi. Tôi biết Hugo khá rõ nhưng mặt của Kissinger làcả một bữa tiệc cho đôi mắt. Da mặt của ông ta như da thục sần sùi, nhàu nát và có góc cạnh, trông giống như một túi xách du lịch bằng da cũ kỹ. Trọng lực đã giữ chặt mí mắt của ông lại và không buông; chúng luôn ươn ướt và rũ xuống. Tương tự như vậy đối với môi dưới của ông. Một thời rất mạnh, khuôn mặt ông đã sụp đổ, nhưng mắt ông rất sáng và xanh như băng, đốt cháy xuyên qua thấu kính của cặp mắt kiếng hình vuông đậu trên lỗ mũi khoai tây của ông giống như hai cái ti- vi song sinh vậy.
Ngay lúc đó tôi nghĩ đến tất cả những thứ bạn có thể biết về ông ta. Trong thập kỷ ba mươi, ông cùng với gia đình trốn khỏi nước Đức để thoát khỏi Phát xít Đức, ông đã trở thành một học giả xuất sắc nhất tại Đại học Harvard, tham gia vào chính quyền của Nixon vào cuối thập kỷ sáu mươi, theo đuổi thành công tình trạng bớt căng thẳng với Trung Hoa và Liên Bang Sô Viết, để cho cuộc chiến tranh Việt Nam leo thang (phí phạm hàng chục ngàn mạng sống) vì vậy ông có thể giảm leo thang nó sau này theo các điều khoản của riêng mình và đã đoạt giải Nobel vì Hoà Bình về việc này.
Những cuộc đàm phán về hoà bình đã được tổ chức tại Paris. Bất cứ ai thấy ông đi bộ ở đây tại Tuileries này đều biết điều đó. Lịch sử đã nhân cách hoá chiến tranh và hoà bình. Ông già này đã ủng hộ các chế độ Phát xít ở Châu Mỹ La Tinh, có lẽ đã cho ám sát Salvador Allende, đã trì hoãn việc thông báo cho tổng thống để ông không làm trung gian trong cuộc chiến ở Yom Kippur, cố tình để hàng ngàn người phải chết đói ở Bangladesh. Và ông đã ở đây.
Cạch, tiếng máy ảnh vang lên.
“Cảm ơn, cảm ơn,” Kissinger nói “Chúc một ngày tốt đẹp,”
“Thật tuyệt vời được gặp ông, thưa ông,” chúng tôi nói.
Chúng tôi không tiếp tục bước đi, nhưng đứng nhìn ông đi với đội ngũ bảo vệ ông. Họ rời khỏi khu vườn cách đó xa hơn một chút, tiến ra phía đường nơi một chiếc xe chắc chắn đang chờ. Chúng tôi không nói gì, tôi có thể tưởng tượng rằng ông đang mua sắm, ông có những địa chỉ quen thuộc trên đường Saint Honore, Place Vendome.
“Ồ, Henry Kissinger,” cuối cùng Hugo đã nói.
“Vâng, tuyệt vời,” tôi nói.
“Siêu việt.”
“Chắc chắn rồi”.
Chúng tôi nhìn nhau một lần nữa.
“Đáng lẽ hắn đã bị tống cổ vào tù cách đây nhiều năm rồi”.
“Về chuyện bánh mì và nước, sự ăn uống kham khổ, tên khốn”.
Chúng tôi cười, dĩ nhiên.
Khoảng mười sáu ngày đầu tháng Sáu, trời mưa như thể Thượng Đế muốn xoá sạch những vết nhơ khỏi trái đất, nhưng tới ngày thứ mười bảy mây tan, mặt trời khoang dung toả ánh sáng khắp những ngọn đồi giữa nước Pháp và nước Bỉ. Mùa hè hé lộ chính nó, một lời hứa đã được thực hiện. Có những cách nhanh hơn để từ Amsterdam đến Waterloo, nhưng chúng tôi đã đăng ký vào một trung đoàn – “trung đoàn” là một từ hoàn toàn không đúng, nhưng đó là những gì chúng tôi đã gọi nó – cùng với nhiều người Anh tái nhập ngũ, tụ tập tại Gare du Nord, nơi tàu hoả từ Luân Đôn đến và một đội nhỏ những chuyến xe khách đường dài đang chờ để chở chúng tôi đến trại lính của chúng tôi ở Bỉ.
Có những người đã trải qua một tiếng đồng hồ đầu tiên của họ trên xe buýt hoàn toàn bận tâm với ánh đèn và các lỗ thông gió bên trên chỗ ngồi của họ. Có những người đàn ông (và chỉ có những người đàn ông) liền chộp lấy những tác phẩm về lịch sử dày cộm và bắt đầu đọc ngấu nghiến hoặc mải mê nhìn sát vào những tấm bản đồ, nhưng hầu hết những hành khách liền tựa lên lưng ghế ngồi phía trước họ, tạo mối liên kết nam giới ngay lập tức. Có những câu chuyện đàm thoại về những gì chúng ta có thể mong đợi, những sự kiện đã vạch định, mọi thứ đã được công bố về diễn đàn trên các trang mạng khác nhau về Ngày Chính thức ở Waterloo, bắt đầu vào ngày mai.
Đối với những ai đang tự hỏi loại người nào di chuyển đến Waterloo để tái ngũ, những người trước đây đã xảy ra ở đó, loại người nào đang ngồi trong xe buýt, tôi chỉ có thể nói: những người đàn ông chính xác, những người đã không quên bố mẹ họ đã nuôi dưỡng họ như thế nào, những người biết rõ những quy luật của cuộc sống, những người đã sắp xếp tiền trợ cấp và bảo hiểm hoả hoạn của họ, những người có lẽ đã có một lá thư trong một ngăn kéo ở đâu đó mà đã có ở đó kể từ sinh nhật lần thứ bốn mươi của họ và trong đó có chứa đựng những chỉ dẫn về sự mai táng “trong trường hợp họ”, những người đàn ông đã mua cùng một đôi giày mỗi năm. Một vài người trong số họ đã mang con trai theo với họ, những cậu con trai rụt rè, vẫn còn trải qua buổi tối thứ bảy đằng trước TV tại nhà. Họ là loại đàn ông rất dễ dàng để bị.chế diễu, với đôi ủng Gore-Tex và quần dài cài bằng khoá kéo, áo khoác lót bằng lông cừu, và các túi xách hạng bét của họ - nhưng điều đó đang tạo cho họ một sự bất công. Có lẽ họ là những người đàn ông đã bỏ ra hàng giờ đồng hồ trên sân thượng để tạo cây từ giấy xốp, giấy bìa dùng để làm hộp và những que kẹo để kiến tạo những toà lâu đài, những lữ quán thu nhỏ, tạo toàn bộ cảnh quang cho các chiến sĩ bằng thiếc nhỏ xíu họ đã sơn bên dưới một tấm kiếng phóng đại. Đồ chơi nhưng không phải để trẻ con chơi, mà có ý nghĩa để làm sống lại lịch sử. Những người này bỏ ra hàng trăm tiếng đồng hồ và hàng ngàn eu-ro vào trong nó. Tóm lại, những người mà tôi rất ganh tị với họ ở ý nghĩa cơ bản, bởi vì mỗi người đàn ông nên có một căn phòng của riêng mình nơi anh ta có thể vứt bỏ công việc và gia đình để chơi, và vui theo cái cách mà thường chỉ được dành cho những cậu bé.
“Chào cả thế giới. Chào các chiến sĩ anh dũng”.
Giọng nói đến từ loa phóng thanh chậm rãi một cách khác thường, được phát âm rõ từng âm tiết bởi một người Pháp.
“Chào mừng tất cả mọi người”.
Nó xuất phát từ hàng đầu nơi một người đàn ông đã đứng nghiêm, một tay đang giữ chặt trên giá chất hành lý, tay kia nâng chiếc mi-cờ-rô lên miệng. Cao ráo và thon thả một cách thanh lịch, ông đang mặc một chiếc áo khoác dài xuống tới đầu gối, một loại áo choàng của bác sĩ. Trong khi đang nói chuyện, ông e thẹn nhìn xuống đôi giày, có một sức quyến rủ nào đó cho thấy ông ắt hẳn ít nhất là đã sáu mươi và có những nét nổi bật, thô kệch, rất có thể ông đã là một đại tá trong Quân đoàn Nước ngoài
“Hoan nghênh đã đến với Trận chiến Waterloo”.
Ông đang cố gắng giải thích cho chúng tôi nơi chúng tôi phải đăng ký khu đóng trại, nơi chúng tôi nhận quân phục, mấy giờ ngày mai chúng tôi phải báo cáo. Nhưng trước tiên ông muốn cho chúng tôi lời chào mừng đặc biệt, xét thấy chúng tôi, những người Anh và Hà Lan, đã rất hào hiệp khi chiến đấu ở bên phe của nước Pháp của Napoleon. Mỉm cười, ông giơ nắm tay lên không trung , “Hoàng Đế muôn năm! Hoàng Đế Napoleon muôn năm!”
“Hoàng Đế muôn năm! Hoàng Đế Napoleon muôn năm!” chúng tôi hô đáp lại.
Dĩ nhiên, ông tiếp tục bằng tiếng Anh đặc mùi phô ma ca- măng-be không thể cưỡng lại được của ông, sau đó tất cả chúng tôi sẽ bị treo cổ như những kẻ phản bội
Sau đó tất cả chúng mày sẽ bị treo cổ như những kẻ phản bội.
Tất cả chúng tôi cười lớn, và những chỉ huy trưởng của chúng tôi coi đó như một dấu hiệu của một tinh thần đồng đội tuyệt vời và chuyền quanh một cái hộp của những cuốn sổ tay với chương trình cho trận đánh ngày mai.
Không ai trên xe buýt chần chừ trước việc lao vào quyển sổ tay của mình, mà có nghĩa là một sự kết thúc ngay lập tức đối với tình đoàn kết dễ dàng; một chuyến tham quan đã trở thành mục tiêu nghiên cứu một lần nữa. Năm tới sẽ là lễ kỷ niệm thực sự. 18 tháng sáu 1815- 18 tháng sáu 2015 . Quân đội
Pháp đã hứa một số trung đoàn kỵ binh, trong mọi trường hợp, tổng thống sẽ đến, có lẽ ngay cả Nữ Hoàng Anh, nhà vua Hà Lan cũng sẽ đến.
Khán đài có sức chứa hàng chục ngàn du khách sẽ được dựng lên. Tất cả những người trưởng thành khắp Châu Âu đã theo học những bài học về cỡi ngựa trong lúc rỗi rảnh của họ bởi vì họ đã may mắn được chỉ định các vai trò chính thức theo lô – không như Napoleon hay Blucher, toàn bộ các cơ quan tuyển chọn đã được triển khai cho những người đó, các nhân vật nổi tiếng đang bay đến, Benedict Cumberbatch đã cam kết đóng vai Wellington, nhưng như các đại tá, đại uý những người được ghi tên vào sử sách với tên tuổi và cấp bậc bằng cách ngã xuống ngựa và tất cả diễn ra vào chính ngày hôm đó. Nhưng điều đó đã không làm cho chúng ta ngày nay ít nghiêm trọng hơn.
Vì vậy chúng tôi nghiên cứu cửa hàng y phục, các bãi đất đóng trại, các bài đọc ngoài trời theo lịch trình, các tours . . .
‘Chào, nhân tiện, xin giới thiệu tôi là Raymond, đến từ Rotterdam”.
Người khổng lồ bên cạnh tôi đã bắt đầu chuyển động, ông chìa cái xẻng xúc than ra và bảo tôi rằng ông đã bỏ ra ngày cuối tuần để thăm viếng tất cả các tượng đài có liên quan tới Napoleon ở Paris.
“Lăng ông ở Les Invalides”. Ông đặt một bàn tay lên trái tim.
“Goosebumps”.
“Đẹp lắm, có phải không?”.
“Thật không một chút tì vết, quá trong sạch. Như thể họ mới chôn cất ông ngày hôm qua vậy.”.
“Hay là giống như ông ở đây mãi mãi vậy,” tôi nói. “Như thể ông luôn ở đó và sẽ mãi mãi ở đó”.
“Ông ta sẽ ở đó mãi mãi, hãy tin điều đó ở tôi. Không ai sẽ di dời ông ta”.
Tôi rất thích những điều như thế đó, “lấy nó từ tôi” của ông. Tôi quyết định rằng tôi thích Raymond theo cái cách mà bạn thích một tài xế tắc xi – bởi vì bạn chẳng có liên quan gì đến ông ta, nhưng vẫn còn đang đặt mạng sống của mình vào đôi bàn tay của ông ta. Mối ràng buộc được tăng cường bởi việc mặc chiếc áo khoác màu tím xám với mẫu hình học giống như kiểu áo thầy giáo được ưa thích của tôi ở trường tiểu học đã mặc. Ông có cái đầu to, hói và hai má giống như hai túi yên ngựa, nhưng một lỗ mũi hẹp, cứng và nhọn, sụn thuần tuý – bạn có thể tưởng tượng gắn một lỗ mũi như thế vào một ổ khoá và lắc lắc nhẹ nó mở ra, hai bọc màu đậm dưới mắt giống như chúng đã có ở đó hằng nhiều thập kỷ.
“Lần đầu ở Waterloo?”
“Lần đầu tôi đi chiến đấu. Còn bạn?”
“Lần đầu. Luôn muốn thử một lần. Bây giờ tôi có thời gian”. Hắn vỗ vào ngực hai lần. “Phổi, không được tốt”.
Tôi bảo với hắn em trai tôi đang ở trong một trong những chiếc xe buýt khoảng hai trăm mét đằng sau chúng ta; chú ấy mua vé trễ và, Chúa tôi, những người tổ chức rất nghiêm khắc. Raymond cười: người Pháp không để Waterloo có cơ hội.Vợ và hai con trai của anh ta đã lái xe đến đó bằng xe mooc có thể bị sập. Con gái anh ta thích ở nhà hơn bởi vì, bạn biết đó, phụ nữ và Waterloo, chúng không cùng đi với nhau.
Từ trong iPhone đưa ra những tấm hình của các tượng đài, hình chụp selfies của anh ta trước các tượng đài, những bức ảnh tự chụp của anh ấy bên cạnh một tấm bảng màu xanh trên mặt đất. “Thống chế Ney, ông hoàng của xứ Moskva, bị ám sát ở đây”. Đó là những gì đã xảy ra, ha, anh ta bảo tôi. Khi Ney thấy rằng trận đánh đã thất bại, ông đi tìm cái chết anh dũng, nhưng mặc dầu hết ngựa này đến ngựa khác bị bắn từ bên dưới ông, ông vẫn được cứu – chỉ bị hành quyết bởi chế độ mới sau cuộc tháo chạy của Napoleon - nhẫn tâm, vị chỉ huy trưởng trung thành nhất của Napoleon.
“Lòng dũng cảm của những người dũng cảm”. tôi nói.
“Ông ra lệnh bắn vào đội quân hoả lực của ông. Họ đã không làm theo mệnh lệnh đó nữa”.
Ý nghĩa chắc chắn của lịch sử này đã kích hoạt điều gì đó trong những người đàn ông xung quanh chúng ta, như thể nó là một tín hiệu đối với họ để tham gia vào cuộc đàm thoại , và họ đã trình bày những thông tin riêng về Ney, Murat, Talleyrant và Fouche – và tại sao không? Chúng ta ở đây vì chúng ta có điểm chung, một cái gì đó trong quá khứ xa xôi, ngoài tầm với của chúng ta. Chúng tôi càng thảo luận về nó, nó càng trở nên hiện thực hơn, chúng tôi càng ít cảm thấy mình đang trên đường làm một cái gì đó khó xử hơn. Tôi quay ra phía cửa sổ, phía xa lộ và những ngọn đồi xanh tươi bên ngoài.
Tôi gần như chết ngay tức khắc như một trong những người trước tôi.
Chúng tôi đang tiến lên ngọn đồi thành ba hàng năm mươi người, về phía pháo binh Anh. Ba mươi mét về một bên ba hàng khác đang tiến lên, bên cạnh họ, ba hàng khác nữa cũng đang tiến lên. Chúng tôi đang ở đợt thứ nhất. Hoàn toàn phù hợp với tiến trình của những sự kiện lịch sử. Nhiệm vụ của chúng tôi sẽ được theo sau bởi một cuộc tấn công trực diện lớn hơn nhiều với kỵ binh ở hai bên sườn; hai ngàn tình nguyện quân Pháp khác đã có sẵn ở vị trí. Sáng hôm đó chúng tôi đã nhận quân phục từ một nhà kho lớn. Chúng đến với hai cỡ: quá lớn và quá nhỏ. Quần dài của tôi thì quá bự và xệ xuống quá thấp nó giống như được nhất thẳng lên từ một Yo! Video MTV Raps. Mũ của Hugo sụp xuống tới mắt. Đôi ủng vỗ phần phật trước mỗi bước đi. Bạn cảm thấy như có mỗi quả thông, mỗi cành cây xuyên qua lòng bàn chân. Trên đồi Waterloo, đôi ủng của Hugo cho ra tiếng cót két lạ tai, nó vang lên như thể anh đang nhảy múa – sáng hôm đó chúng tôi gần như đã tách ra hai bên vì nó, nhưng lúc bấy giờ chúng tôi không cười.
Không ai nói một lời. Có ai đang đánh trống ở đâu đó, một loại trống trận đánh bằng hai tay, có vẻ như đang tác động từ từ về phía cao trào, một loại âm thanh khiến bạn bước cao chân hơn và nhìn thẳng về phía trước.
Chúng tôi tập trung vào những người đàn ông đằng trước chúng tôi hai trăm mét. Tôi cố không nghĩ về họ một cách quá chi tiết. Họ cũng đang mặc quân phục họ tự may hay thuê ở đây. Mặt trời giữa trưa đang thiêu đót trên cổ chúng tôi. Loại vải cứng, rẻ tiền của bộ quân phục của tôi đã chà xát lên da thịt tôi. Bầu trời trong sáng như băng xanh và đã khiến cho cỏ cũng có vẻ xanh hơn trước.
Tôi đã thức dậy sớm sáng hôm đó. Tôi đã mơ tôi đang săn đuổi bởi một đoàn làm phim và phải làm gián đoạn chuyến bay của tôi vì phải đi tiểu, nhưng tôi rất sợ quay phim nó - và thức dậy với bàng quang phình to, thúc giục. Mùi cao su của giường hơi của tôi vẫn còn ở trong miệng tôi, em trai tôi đang ngáy một cách nhẹ nhàng và nhịp nhàng. Mái tóc bạc, cứng và khô bám sát vào trán của nó, miệng mở rất to tôi có thể thấy những chỗ lởm chởm trong vòm miệng.
Tôi nhẹ nhàng mở dây kéo nắp lều ngủ và bước ra ngoài qua những sợi dây thừng của những chiếc lều mái vòm xung quanh. Tôi có thể nghe những người khác đang ngáy nữa, một mặt trời kín đáo thò đầu ra khỏi chân trời, có những lều trại và xe rờ-mooc gần như xa tận đến cuối tầm mắt. Tôi tận hưởng cái yên tĩnh. Thật tuyệt vời khi đứng đó lúc thức dậy, chung quanh mọi người còn say ngủ, như thể ngày là của riêng tôi, như thể tôi đã biết một cái gì đó mà họ không biết.
Nước tiểu của tôi đang sột soạt trên lá thông khô với âm thanh như đá vỡ thì bỗng tôi giật mình khi thấy một người cỡi ngựa. Mặc đầu ông ta đã sát bên, nhưng tôi không nghe tiếng vó ngựa.
Một người đàn ông trong bộ quân phục kỵ binh Pháp, với một cây kiếm kỵ binh và tất cả, một điếu thuốc trên miệng và một ly cà phê trên tay.
“Chào buổi sáng, thưa ngài,” tôi nói.
Ông gật đầu (một trong những cử chỉ nhỏ nhất, thực sự cộc cằn, như thể sự có mặt của tôi đã quấy rầy ông, có lẽ ông muốn ngày là của riêng ông nữa), thúc ngựa, và trước khi ông biến mất khỏi góc của toà nhà đầy tiện nghi, ít nhất đã có hai mươi lính kỵ binh khác đã phi nước đại qua khỏi đó.
James Salter đã viết rằng điều không thể cưỡng lại được về một phi công chiến đấu là rằng mọi thứ xoay chung quanh bạn – tàu sân bay đặt ngoài khơi cho bạn, thợ máy trên tàu, kỹ thuật viên, nhân viên vô tuyến, đầu bếp, nhân viên tạp dịch, tất cả đều ở đó và vì vậy bạn có thể cất cánh.
Tôi vừa có chính cái cảm giác đó trong cả cuộc đời tôi: gia đình nơi tôi lớn lên nhất định xoay quanh tôi, trường học, trường đại học đều có ở đó cho tôi, nhật báo hiện hữu ở đó cho tôi, hiệu sách, các liên hoan văn học – những đoàn kỵ binh đang phi nước đại qua khỏi tôi và phớt lờ như thể tôi là một kẻ vô hình. Mặt đất rung chuyển, ngựa hí, chúng vẫy đuôi, những người cỡi ngựa ngồi thẳng lưng nhưng thư giãn, họ đi qua mà không thèm hạ cố nhìn tôi – nhưng tôi đứng đó với một nụ cười toe toét đầy hạnh phúc trên khuôn mặt.
Đường biên giới của Anh giờ đây chỉ còn cách một trăm hai mươi mét. Cũng như tôi đã cố gắng không nghĩ về những chiến sĩ người Anh, tôi cố gắng không nhìn những người đứng xem cũng cách khoảng một trăm hai mươi mét phía sau băng màu cam với khả năng thu phóng và ống nhòm của họ. Tôi tự hỏi liệu gia đình Raymond có mặt trong số họ không, tôi tự hỏi tình trạng sức khoẻ của anh ta thực sự tồi tệ đến mức nào, với “ phổi, không tốt” của anh ta. Anh ta chỉ cách tôi ít mét, nhưng tôi không muốn nhìn anh ta.
Tôi đã có thể tập trung đặc biệt tốt ở đây và bây giờ, sự tồn tại, bộ quân phục của tôi, cái cách chúng tôi đang đi diễu hành, sự căng thẳng ở sau lưng mà tôi đang giữ thẳng hơn bình thường rất nhiều. Như thể một miếng vải ướt đã lau qua tấm bảng đen của tâm hồn tôi sạch bóng. Đó là một phần của dòng cảm xúc biết bao của tôi. Nó gần như thuộc thể chất, một cảm giác ngứa ran từ cột sống đến thân não của tôi. Dần dần cảm thấy chính mình hoà tan vào trong một giấc mơ.
Lúc này chúng tôi đang diễu hành xuống đồi. Thung lũng giữa chúng tôi và người Anh thì khó khăn hơn vì bạn phải giữ lại để tránh đi quá nhanh và phá vỡ đội hình. Đây chính là lúc mà người Anh khai hoả. Lúc một giờ ba mươi chiều, dĩ nhiên, giống như một trăm chín mươi chín năm trước, Le bapteme de feue, cuộc thử lửa đầu tiên.
Một khẩu đại bác ngay trước mặt chúng tôi đã khai hoả về phía chúng tôi, như thể ai đó đang hắt hơi vào mặt tôi, âm vang nghe như gió rít ngang qua trước khi một chùm khói trắng xuất hiện từ thùng thuốc nổ.
Điều điên rồ là lúc nào tôi cũng có cảm giác như đã từng kinh qua điều này trước kia. Những đám mây của khói thuốc nổ từ những chỗ trống chìm dần cho đến khi toàn bộ phòng tuyến của người Anh bị che khuất khỏi tầm nhìn và sẽ không xuất hiện trở lại cho đến khi chúng tôi cách khoảng bảy mươi mét, và Thống soái Erlon ngồi trên lưng ngựa đằng sau chúng tôi thổi còi và chúng tôi biết đến lượt chúng tôi tấn công.
“Pháp quốc muôn năm!”
“Hoàng đế muôn năm!”
“Cố lê, hỡi các chiến sĩ, tiến lên!”
Bỗng tôi nhận biết mình sắp chết – chúng tôi đã thoả thuận trước rằng ở khoảng cách tám mươi mét chúng tôi sẽ tăng tốc và vào trong tầm hoả lực có tính cách lịch sử và trên mỗi mười mét sẽ có năm chiến sĩ sẽ ngã gục. “Ai tình nguyện?” chỉ huy của chúng tôi ngày hôm trước đã hỏi. Tôi đã giơ tay và chỉ lúc này tôi đã hiểu tại sao.
Những chiến sĩ vụt chạy qua bãi cỏ, hai tay ôm chặt súng như thể chúng là những mái chèo họ đang sử dụng để đẩy chính họ tới phía trước. Chúng tôi có thể thấy những người Anh đang chiếm mục tiêu, trống lệnh của chúng tôi lúc này vang lên lớn hơn nhiều, những đôi ủng được thuê của chúng tôi đang có nguy cơ sắp tuột khỏi chân, một sĩ quan người Anh giơ kiếm lên, chúng tôi đã đến khoảng năm mươi mét, hàng ngũ gọn gàng của chúng tôi đã tan rã, chúng tôi đã tới khoảng cách bốn mươi lăm mét và thấy một lưỡi kiếm vung xuống, những tiếng beng beng lớn vang lên, chúng tôi thấy những ánh lửa và những cột khói bốc lên từ những người lính Anh – tôi để chính mình ngã tới phía trước ở độ nghiêng hoàn toàn. Tôi ôm chặt khẩu súng nòng dài trước ngực bằng cả hai tay, mặt tôi chạm lên cỏ, mũ bay mất, tôi đã nếm mùi đất.
Tôi đã đề nghị được chết bởi vì cảm giác đó được cho là cảm thấy như thể tôi đang hy sinh. Các chiến sĩ ở các hàng phía sau bước qua người tôi mà không ngoái nhìn lại, và một lần nữa tôi cảm thấy một cảm giác ngứa ran xuyên khắp cơ thể tôi, đó là một cái gì thuộc bệnh căng thẳng thần kinh. Tôi đang nằm đó một cách ngon lành trơ trọi trên bãi cỏ mềm. Tôi cảm nhận lực vạn vật hấp dẫn, tôi cảm thấy thế giới đang xoay, và tôi cảm thấy cô đơn vô hạn, và hoàn toàn vô vọng. Đó là một loại cô đơn đầy thú vị và chẳng chút u sầu, một cảm giác của việc ở giữa đám đông mà không bị cuốn hút bởi nó, và kết quả là cảm thấy riêng lẻ hơn.
Những chiến binh người Pháp càng chạy xa khỏi chỗ tôi, tôi càng trở nên sung sướng hơn. Thực sự là như thế đó: tôi có thể cảm thấy chính mình đang trở nên hạnh phúc thực sự, như thể có ai đang chuyền serum cho tôi, tôi cảm thấy nó đang chạy khắp người tôi.
Pháp quốc – đất nước này đã cho tôi quá nhiều. Đã rất lâu kể từ khi tôi kinh qua đất nước này. Mùa hè năm đó, tại nước Pháp, khởi đầu cho những tuần lễ hạnh phúc nhất của đời tôi. Không quá phức tạp. Sự có mặt của em trai tôi ở đây đã làm tăng thêm cảm giác đó, như thể tôi đã trở về kịp lúc. Tất cả những kỳ nghỉ hè đó. Từ các địa điểm cắm trại thường xuyên của chúng tôi đến ngôi làng gần nhất là một cuộc đi bộ đường dài khoảng năm hay sáu ki-lô-mét, một con đường ngoằn ngoèo dẫn tới một ngọn núi. Gần như không có bất cứ một sự lưu thông xe cộ nào. Cây hoa oải hương mọc ở ven đường, những con dế vô hình phát ra âm thanh lạo xạo. Bạn đi ngang qua một trang trại nhỏ, nơi bạn có thể mua những lọ mức. Không thấy người nhà nông nào, bạn chỉ phải để lại vài franc. Có một sự tin tưởng vào sự chân thật của con người. Gần như mỗi ngày tôi đã đi bộ đến làng dưới ánh nắng chói chang của mặt trời, gần như chỉ có một chiếc khăn quàng qua hai vai để khỏi bị nắng thiêu đốt.
Tôi nói với bố mẹ tôi là tôi đã chơi bóng đá với bạn bè hay đi tắm ở ngoài sông, nhưng tôi đã không. Tôi chưa bao giờ có bất cứ một mục đích gì. Tôi đã đi bộ và muốn làm điều đó một mình. Tôi cũng không bao giờ mang theo máy nghe nhạc. Trong một ngôi làng luôn buồn ngủ, tôi đã mua nhiều nhất là một cuộn Mentos, rồi đi bộ trở về. Tôi đã trở nên da nâu sạm và tóc màu bạch kim. Tôi rất gầy. Tôi muốn tất cả cho chính mình: đất nước, những ngày và cuộc sống của tôi.
Vào buổi tối hát karaoke hàng tuần, tôi đã hát “The Tide Is High” của Blondie, cùng với Hugo, và với bạn bè. Tôi đã chơi sáu ngàn ván bàn tròn trên một cái bàn bóng bàn nghiêng bằng bê tông phía sau nhà vệ sinh. Trong suốt kỳ nghỉ đầu tiên của tôi, tôi phải là một trọng tài biên cho vòng thi đấu bóng đá thường niên, lúc lên mười sáu tuổi tôi đã được phép chơi cho một trong những đội bóng đá. Chúng tôi nghe Greatest Hits của Phil Collins, London Years của Rolling Stones, đĩa CD duy nhất mà chúng tôi có. Chúng tôi viếng thăm các chợ trong những ngôi làng không tên, mua những bao dược thảo tươi, gửi hai tá bưu thiếp mỗi ngày. Chúng tôi không bao giờ mua kẹo que, nhưng dừng lại ở các siêu thị để mua những bình kem vanila và ăn bằng những chiếc muỗng nhựa dùng một lần mà chúng tôi mang theo cho mục đích đó, ăn ngấu nghiến rất nhanh, nó làm cho chúng tôi đóng băng cả não bộ. Tôi còn nhớ những kỳ nghỉ hè và bố tôi hỏi thế nào nếu tôi có muốn làm một chuyến lái xe và đi vòng trở lại bằng đường tỉnh mà không có điểm đến nào cả, băng qua các vùng nông thôn, qua khỏi những ngôi làng nhỏ, uống coca cola ở đâu đó . Bố tôi đánh trống nhịp trên tay lái, tôi nhìn ra cửa sổ.
Mùa hè trước sinh nhật mười tám của tôi, tôi đã mất trinh tiết với một cô gái người Pháp, mặc dầu tôi không bao giờ thực sự muốn âm vang của sự trong trắng đó bị “mất”. Tôi đã không mất bất cứ thứ gì, tôi đã đạt được một cái gì đó. Đó là việc lúc ấy tôi thấy nó như thế nào, đó là việc bây giờ tôi thấy nó ra sao; cô ta tặng tôi một món quà và món quà đó là cô ta và tôi đối xử nó với sự hấp tấp và vụng về - chỉ giống như xé giấy gói quà ra khỏi món quà mà bạn đang vui mừng đón nhận – hân hoan và cười toe toét. Cô ta cũng cười nhăn nhở vì thích thú và nói rằng chúng tôi chỉ phải chờ một lát và cố gắng làm lại. Và đó là những gì chúng tôi đã làm, gần như cả một buổi chiều, mãi cho đến khi bố mẹ cô ta đi mua sắm trở về.
Sau đó chúng tôi đi đến một dòng sông nhỏ chảy ngang qua khu cắm trại và nằm ngửa, tay trong tay, thả nổi bềnh bồng, để dòng nước mang chúng tôi xuôi dòng. Bầu trời trong xanh, mặt trời, trông lên qua hai hàng mi dày đến những ngọn núi xa ở mỗi bên bờ sông Gorges du Verdon. Chúng tôi đi xa đến nỗi chúng tôi kết thúc bằng việc phải đi bộ bằng chân trần trở lại khoảng năm hoặc sáu ki-lô-mét, nhưng chúng tôi đã ở bên nhau, chỉ hai chúng tôi, nắm chặt tay nhau và khi chúng tôi về đến nhà thì đã đến giờ ăn tối. Rửa chén bát, tôi rơi vài giọt nước mắt âm thầm, tôi còn nhớ, bởi vì ngày đã qua, vì tôi đã để nó tuột khỏi các ngón tay tôi.
Nằm trên vuông cỏ mềm tôi nghe thấy tiếng vó ngựa, mà ắt hẳn giống như âm thanh của một trận động đất nhỏ, tôi nghe tiếng la to, nhưng nó không đến chỗ tôi – tôi không đang nằm đó trong vai trò của tôi bởi vì vai trò của tôi cảm thấy hiện thực hơn bất cứ thứ gì khác. Tôi đang ở trong quá khứ, hoàn toàn, chỉ không phải là quá khứ đã được chiến đấu ở đây, mà là một thứ gì đó nhỏ hơn nhiều, một quá khứ ít xa xôi hơn nhiều.
Pháp quốc – đất nước này đã cho tôi quá nhiều. Đó là những gì tôi đã đang nghĩ khi tôi nằm đó, mãi đến khi tôi nhận biết tôi hoàn toàn không ở Pháp: Waterloo là ở Bỉ, một quốc gia có lịch sử bằng cách nào đó đã bị lãng quên một cách sâu sắc, một đất nước mà tôi đã không bao giờ làm bất cứ thứ gì tôi thực sự yêu thích. Nhưng tôi đã nằm ở đó trong bộ quân phục Pháp, đã ngã xuống vì vinh quang của đế chế Pháp.
Sự thoả thuận là rằng bạn phải ở tại nơi bạn ngã xuống; các yêu cầu y tế sẽ đến để hôn bạn trở lại cuộc sống như trước. Rồi những nhà ban hành lại luật pháp được phép trở lại các chức vụ khởi đầu, và tham gia vào nhiệm vụ tiếp theo. Hãy để họ thư thả, tôi nghĩ, hãy để tôi nằm ở đây càng lâu càng tốt.
Bên ngoài khoé mắt của tôi, tôi thấy những người bị thương khác nằm trên mặt đất, cách đó mấy mét. Rất có thể tôi đã cố gắng để thấy liệu có bất cứ khuôn mặt thân quen nào trong số họ, nhưng tôi nhắm mắt. Một chiếc trực thăng bay bên trên đầu, khá thấp, tôi đã giả định một vị trí trong bào thai và tập trung một cách rất hài lòng vào cái chết của riêng tôi.
Phan Thiện Trì chuyển ngữ
:September, 2021