DSS9. XANH MÀU LÁ
A. Alberts
Nhà văn, nhà báo, nhà dịch thuật A. Alberts (1911-1996) đã đến làm việc tại Dutch East Indies (Đông Ấn Hà Lan) như một viên chức nhà nước. Sau trận Battle of Java (1942) ông bị người Nhật giam giữ từ tháng Tư 1942 đến tháng Chín 1945, ông trở lại Hà Lan vào năm 1946. Năm 1953 ông ra mắt công chúng bằng tập The Islands, một tuyển tập truyện ngắn về một quần đảo tưởng tượng, cơ sở trên sự trải nghiệm của ông ở Guinea và Indonesia. Ông viết một tác phẩm cổ điển, gồm nhiều truyện ngắn, tiểu thuyết đoạt giải, tiểu thuyết, hồi ký và nghiên cứu lịch sử.
Cả buổi sáng chẳng có gì ngoại trừ đường biển, một đường biển cục kỳ thú vị và xinh đẹp, một mảng thiên nhiên thực sự với những hàng cây cọ, đứng lặng yên không lay động. Tôi sẽ thích ngay cả còn nhiều hơn nếu chúng lay động, và nếu tôi không biết rằng vạch đường màu trắng bên dưới những cây cọ trở nên bụi bẩn và dơ dáy khi bạn đến gần hơn, và rằng những túp lều bẩn thỉu xuất hiện bên dưới những cây cọ đó. Tôi biết tất cả, và tôi chào tạm biệt thuyền trưởng, mà điều này thật chẳng cần thiết vì trong một tiếng đồng hồ nữa ông cũng sẽ lên bờ, và tôi bước vào một chiếc thuyền buồm, rồi chúng tôi chèo vào bờ.
Biển cũng bẩn, điều này không làm tôi ngạc nhiên, và cạn đến nỗi thuyền chúng tôi cào sát đáy. Những người chèo thuyền nhảy xuống và đẩy thuyền tới, chúng tôi có lẽ chỉ còn cách bờ khoảng một dặm.
Thoạt đầu họ vén quần lên đến thắt lưng, lội xuyên qua nước, nhưng rồi biển trở nên mỗi lúc một cạn hơn và tôi đã có thể thấy đôi chân của người bự con nhất đang bước gần bên tôi. Cuối cùng chúng tôi bị mắc cạn vĩnh viễn.
Tôi thấy một đám đong người đang đứng dưới những cây cọ, không làm gì cả, chỉ đứng đó, nhưng rồi tôi thấy hai người đang tiến về phía tôi với một cái kiệu để khiêng người. Họ đi dọc theo mạn thuyền. Chiếc kiệu là một cái ghế dựa ở bàn giấy đã cũ kỹ, không còn lớp sơn nào trên đó, được đóng đinh vào hai cây sào bằng tre, và với mặt ghế đan bằng mây. Tôi ngồi vào trong, và chúng tôi đi lắc lư về phía bãi biển, một lát sau tôi đang đứng trên bãi cát cũng bẩn thỉu như tôi đã nghĩ nó sẽ là.
Đối diện với tôi là một người đàn ông tự giới thiệu mình là: Peartree. Ông là đồng nghiệp của tôi, cũng sống trên bờ biển này, nhưng cách đây sáu mươi dặm về phía Tây. Hai ngày đi bộ, ông nói, và tôi biểu lộ sự thán phục trước một tốc độ như thế. Vâng, ông có thể đi dạo quanh đây, ông nói, rồi ông hỏi tôi đã mang theo những gì. Thì cũng một ít rượu bia và rượu gin, tôi kết luận, bởi vì tôi chưa biết thái độ của ông thế nào đối với bia và rượu mạnh. Bao nhiêu? ông hỏi. Số lượng nhiều hơn ông mong đợi dù rằng tôi chỉ báo cáo phân nửa số ấy, nếu không ông sẽ ở lại đây thêm hai tuần nữa, và trong khi thật có thể, nếu không, chắc có lẽ là một tháng từ bây giờ tôi sẽ lao tới bất cứ người Châu Âu đẫm mồ hôi vì người đàn ông da trắng duy nhất mà tôi gặp một lúc nào đó. Tôi đã đủ cho lúc này rồi.
Đây là trưởng thôn, Peartree nói, và chỉ vào người khiêng cáng đi trước tôi, và tôi tặng ông một cái gật đầu thân thiện. Bây giờ có lẽ ông muốn biết ông sẽ ở đâu. Rõ ràng là ông ta đã quyết định trở nên vui vẻ hơn bởi vì ông có thể mong ngóng món bia và rượu gin mà một người ở đất liền sẽ cung ứng. Bây giờ tôi cũng chú ý thấy từ giọng nói và cử chỉ rằng ông rất nôn nóng; thực vậy, thần kinh của ông đang bị nhức nhối.
Chúng tôi đi bộ xuyên qua những cây cọ, vì nhà tôi có vẻ ở bên ngoài những đám cọ trong một khu rừng bình thường. Những hàng cây cọ giống như một bức màn giữa bờ biển và khu rừng.
Tôi xem ngôi nhà của tôi. Nó không giống như một ngôi nhà mà là một phần của khu rừng, dưới một mái nghiêng, được phân thành hai gian. Có một chiếc bàn nhỏ và mấy chiếc ghế dựa đằng trước. Trong chốc lát, tôi tưởng tượng những cái ly đã đặt lên bàn, nhưng không hoàn toàn tệ như thế, dù rằng sẽ không quá lâu sau đó.
Chỗ này trông có vẻ mát mẻ và mát mẻ thật và cũng khá thú vị. Hai người dân làng đang canh gác. Họ là những người phục vụ ông, Peartree nói, người tiền nhiệm của ông đã để họ lại. Người ấy là ai? Tôi hỏi. Tôi đã gặp người tiền nhiệm của tôi cách đây một thời gian và tôi biết bây giờ ông ấy sắp rời đi, nhưng tôi nghĩ thật tốt hơn nên phớt lờ như một sự thiếu kinh nghiệm trong trường hợp như thế này.
Không thể nhớ tên ông ta, Peartree nói. Thực vậy, ông ấy tự uống say như chết. Tôi nói: Đến thế sao? Và một lát sau lại hỏi: Đến thế sao? Bấy giờ ông ấy biết tôi đã biết mọi thứ quanh đây rất khó khăn. Và có lẽ tôi đang cho thấy rằng tôi có thể giải quyết nó, cũng như mọi vấn đề trong tương lai. Bằng cách bắt đầu uống đến mức cao nhất có thể. Tình huống được đưa ra, có vẻ không mấy lịch thiệp, vì vậy tôi nói: Thế nào, bia nhé? Và chúng tôi ngồi vào bàn. Có lẽ người tiền nhiệm của tôi đã không hoàn toàn uống cho đến chết, nhưng những người phục vụ ông chắc chắn đã tự biết làm thế nào để tìm một thùng bia trong hành lý của tôi, để mở và khui bia. Sau khi mọi thứ đã trở nên thân thiện hơn giữa Peartree và tôi, tôi thấy mình có thể để cho anh ta một mình một lúc. Lui vào bên trong nhà, tôi cần nghỉ xả hơi một chút, tôi nằm xuống chiếc giường trong phòng để hành lý của tôi. Lần đầu tiên kể từ lúc tôi đến đây, tôi đang trải nghiệm một cảm giác cô đơn. Tôi nằm ngửa, hai tay lót dưới đầu, mặc dầu vậy, dĩ nhiên, tôi sẵn sàng ngồi phắt dậy trước tiếng động của bước chân Peartree, bởi vì tôi không muốn ông thấy tôi như thế này. Tôi nghĩ đến một cô gái mà trước đây tôi quen biết, và tôi không ngại nếu cô ấy bước vào ngay lúc này. Tôi sẽ chỉ cho cô ta khu rừng, tôi tin chắc nó đẹp thực sự, và chúng tôi ngồi cạnh nhau trong khu vườn, chỗ này ở giữa rừng xanh. Vả rồi rượu bia bắt đầu có hiệu lực – chúng tôi uống khá nhanh, rốt cục – kết quả là chúng tôi tiếp tục uống.
Tôi ra ngoài và nhận thấy tôi nên tự kiềm chế một chút vì thuyền trưởng của tàu chúng tôi cũng vừa đến và ông với Peartree đang thảo luận công việc kinh doanh. Giải quyết những đơn đặt hàng cũ và thiết lập những đơn đặt hàng mới. Tôi rót rượu thêm một vòng nữa và tham gia thảo luận với họ để chứng tỏ rằng tôi cũng quan tâm. Cuối cùng khi tôi phát hiện rằng Peartree chỉ nói về công việc làm ăn riêng, tôi vào bên trong trở lại, nhưng lần này tôi đi ra phía sau nhà và vào trong rừng. Đúng thực là một khu rừng rất xinh đẹp với vô số cây cao, đứng cách nhau, mặc dầu ngọn cây chạm vào nhau khắp nơi, kết quả là khoảng không bên dưới chúng ngập tràn ánh sáng màu xanh lá cây trong suốt. Sau khi đi bộ một lát, tôi có cảm giác rằng nếu tôi tiếp tục bước đi, không sớm thì muộn gì tôi cũng sẽ đến bìa rừng, và tôi sẽ ngồi ở mép rừng, phóng tầm mắt ra một vùng thảo nguyên mênh mông. Nhưng lúc này tôi không còn thấy nhà tôi ở đâu nữa, vì vậy tốt hơn là nên trở lại.
Peartree và thuyền trương giờ đã chuyển sang rượu gin, và sự đàm thoại đã trở nên chung chung hơn, những câu chuyện về những nơi hiu quạnh, chuyện về các đô thị lớn, và rồi thuyền trưởng nói ông phải để mắt đến giờ lên tàu. Chúng tôi tiễn ông ra bãi biển và chúng tôi có đủ thời gian để vẫy tay chào tạm biệt khi ông loạng choạng bước vào kiệu khiêng ra thuyền buồm. Tôi quan sát với sự thoả mãn rằng trưởng làng không phải là một trong những người khiêng kiệu. Rồi chúng tôi trở lại bàn rượu gin.
Tôi hỏi Peartree về khu rừng, liệu nó có chỗ cuối rừng, bìa rừng phía bên kia không, tôi nói. Ông ta đứng dậy, đi vào bên trong và mang ra một tấm bản đồ, trên đó ông chỉ cho tôi chỗ bìa rừng ở đâu, nó ở vào khoảng sáu mươi dặm về phía Bắc của bờ biển.Ông cũng chỉ cho tôi một vài nơi dọc theo bìa rừng, những nơi dễ dàng để đến có liên quan đến thảm thực vật. Ông nói: rồi ông sẽ rất thường xuyên muốn tránh xa khu rừng đó.
Khi trời chạng vạng tối, họ mang vào một cây đèn dầu hoả. Nó được treo từ một giá đỡ rất tài tình: một thanh sắt đặt nằm ngang qua một thanh sắt khác được đóng dưới mặt đất. Không thể nào rơi xuống được, Peartree nói. Tôi hỏi ông ta liệu họ có thể thắp một ngọn đèn bên trong nhà không. Ông nói: Được chứ. Tôi nói: Vì tôi phải viết một lá thư. Cho một cô gái. Ông nói: Thuyền đã đi rồi, và tôi nói: Vâng, nhưng. Ồ, ông không buông ra tiếng chửi thề, Peartree nói. Tôi cúi chào ông rồi đi vào bên trong. Lại có vấn đề vì tôi không tìm thấy bất cứ một thứ văn phòng phẩm nào. Ồ, được rồi. Tôi còn một vài lá thư trong túi, và ở mặt sau của phong bì tôi viết với chút khó khăn. Ngày mai tôi sẽ sao lại, em yêu, em yêu nhất trần đời à!
Tôi kể cho Peartree về cô gái, ông kể cho tôi nghe về vợ ông, ông đã ly dị, cô ta chạy theo một gã nào khác rồi. Chúng tôi có lẽ không ăn tối và tôi nói với Peartree về chai rượu cognac ở đâu đó trong hành lý của tôi và được người phục vụ của người tiền nhiệm tôi tìm thấy, của đáng tội, người tiền nhiệm của tôi ắt hẳn đã uống đến chết mới thôi, người phục vụ cũng không chuẩn bị thức ăn nữa.
Một ngày sau đó.
Hôm nay từ tám giờ trở đi là ngày đầu tiên hoàn toàn là ngày của riêng tôi. Ngày này và những ngày kế tiếp là tài sản của riêng tôi; tôi có thể làm những gì tôi muốn với chúng. Bây giờ tôi có thể đi đường tắt xuyên qua các hàng cây cọ để ra bờ biển và rồi đi bộ một khoảng dọc theo bãi biển đến nơi không còn túp lều nào nữa, nằm xuống bãi cát như thế nào đó để bóng mát của những cây cọ phủ lên tôi. Bởi vì tôi có cái đầu mà bạn sẽ không tin. Peartree đã rời đi. Ông ta đã thức dậy lúc sáu giờ và tôi cũng vậy, đối với vấn đề này. Ông đang ngồi uống cà phê ngoài vườn và có vẻ rất giận dữ khi tôi chúc ông buổi sáng tốt đẹp. Giận dữ và cao ngạo. Ông ta đã bị bắt phải giải bày tâm sự với tôi ngày hôm qua. Chúng tôi uống cà phê với nhau, nhưng chính tôi không còn ở trong cách cư xử thân mật, mà thực sự rất cứng rắn, bởi vì đêm rồi tôi cũng đã tiết lộ những vấn đề thầm kín của tôi cho ông ta mà không biết kiềm chế, và thề rằng tôi sẽ theo lời khuyên của ông ta.
Chúng tôi vẫn còn ngồi đó yên lặng và hơi khó chịu, và nếu Peartree chỉ nói một cái gì đó như là: Cố lên, thôi đi, chúng tôi cũng đã cười toe toét mặc dầu đầu chúng tôi đau như búa bổ, và chà lưỡi giấy nhám của mình lên vòm họng, và giữ yên lặng thì có lẽ mọi việc đã ổn cả, ngoại trừ nỗi trống vắng mà tôi cảm thấy sau lúc ông ra về.
Nhưng Peartree đã tấn công tôi, ông cho mời trưởng làng đến, cho các chỉ thị, và ra về lúc tám giờ. Thái độ của ông đã tha cho tôi nỗi buồn lúc chia tay. Tôi đang bắt đầu cảm thấy đỡ hơn và nghĩ rằng cảnh trí quanh đây hoàn toàn xinh đẹp. Ngay cả những cây cọ cũng đang đung đưa trước gió.
Biển rộng và xa, không có bóng một con tàu trong tầm mắt, có lẽ đó luôn luôn là trường hợp ở đây. Có một ít thuyền buồm Mã Lai trên bãi biển, những thuyền đó bạn phải đẩy bằng mái chèo, họ không đi ra xa bằng loại thuyền đó được, và tôi tự hỏi liệu ngành đánh bắt thuỷ sản ở đây như thế nào, thôi mặc xác nó. Tôi không thích dính líu đến những vấn đề về nền kinh tế của làng lúc này. Tôi thích ngắm biển hơn, cứ như vậy, như thể chính biển mới dẫn đưa tôi vào giấc ngủ và thế là tôi nhắm mắt.
Tôi thức dậy với mặt trời trên đôi chân tôi và rồi có cảm giác của việc sở hữu điều này cũng như những ngày tiếp theo đã trở thành gánh nặng – đủ nặng để tôi phải đi tìm trưởng làng. Ông báo tôi biết về thuyền buồm và số lượng cá mà họ đánh bắt được, về những gì họ ăn và những gì rừng sản xuất. Về việc mua bán và vận chuyển được sắp xếp như thế nào. Ông báo cho tôi đủ các loại sự việc khác nhưng có sự kết thúc sớm đối với những gì tôi có thể nạp vào. Vì vậy tôi hỏi ông ta về độ trải rộng của khu rừng và tôi chỉ tay về hướng Bắc. Tôi biết từ Peartree rằng bìa rừng cách đây khoảng sáu mươi dặm, nhưng tôi thầm hy vọng ở nơi nào đó sẽ có một khoảng đất trống trước đó. Bởi vì đây là một trong số ít những giải pháp từ ngày hôm qua mà tôi muốn hành động: xây một ngôi nhà nhỏ gần một bãi đất trống trong rừng hay tốt hơn là ở bìa rừng nơi có cảnh quan nhìn ra cánh đồng mênh mông. Trưởng làng có vẻ nghi ngờ. Ông không biết về điều đó, ông nói. Chúng ta không thể tìm kiếm nó sao? tôi hỏi. Ông có vẻ thậm chí còn nghi ngờ hơn và nói lại một lần nữa rằng ông không biết về điều đó. Nhưng tôi sẽ lấy nó ra khỏi ông. Tôi hỏi ông liệu có bất cứ người nào đó đang sống xa hơn về phía Bắc có lẽ biết. Ồ, ông nói, tôi không biết, và lúc này có vẻ đáng thương tiếc đến nỗi tôi không nổ lực nữa. Có lẽ tôi phải trả giá bằng danh tiếng của tôi.
Tôi đi với ông đến làng của ông, những túp lều màu nâu, những trẻ em bẩn thỉu, tôi tiếp tục bước đi và đoan chắc rằng tôi vẫn giữ khoảng cách chừng hai bước trước ông ta, nếu không ông sẽ dẫn tôi đến nhà của ông, căn nhà bẩn thỉu, uống tách cà phê nhạt nhẽo trong mấy chiếc tách nhớp nhúa, và ngồi xuống chiếc ghế ọp ẹp trước hiên nhà có mùi hôi thúi. Nhưng rồi bỗng ông lao tới trước tôi và chỉ tay một cách lễ độ và khúm núm về phía nhà ông đến nỗi tôi phải mỉm cười một cách thân mật, cảm ơn lòng tử tế của ông và bước vào bên trong. Ông gọi cà phê, với lấy chiếc tách từ tay một cậu bé, có lẽ là con trai ông, và đặt nó xuống trước mặt tôi. Ông cũng ngồi xuống. Tôi nói, một giọt máu đào hơn ao nước lã, đối với ông cũng như đối với tôi, nhưng ngày hôm đó không còn là tài sản của riêng tôi nữa rồi. Tôi biết rõ điều đó.
Bây giờ chúng tôi đã trở thành những người hàng xóm thân thiện. Tôi hỏi cùng những câu hỏi giống nhau như trước kia, nhưng lần này có tính cách khẳng định hơn. Tôi nói: Các ngư dân không bao giờ ra xa khỏi bờ biển, có phải không? Ông đồng ý và gật đầu giống như ông giáo làng người mà, nhiều năm sau đó, có một người học trò cũ về lại thăm viếng ông từ thế giới xa lạ bên ngoài. Vâng, tôi nói, và nhựa thông từ rừng được mang đến đây. Bởi ai? Tôi hỏi một cách thẳng thắn. Bởi người dân của chúng tôi, ông nói hơi có vẻ ngạc nhiên. Cho nên họ phải đi vào rừng? Vâng, ông nói và chỉ tay về phía tây. Và trong đó? tôi hỏi, và tôi chỉ tay về phía Bắc, nhưng không, ông không chắc chắn về chuyện đó, ông nói có vẻ né tránh. Và nhựa thông được lấy từ đây bằng tàu thuỷ, tôi nói một cách hoà giải một lần nữa. Vâng, ông ấy nói. Mỗi sáu tháng ? Mỗi sáu tháng, ông lập lại một cách đầy thoả mãn. Có phải đó là con trai ông không? Vâng, con trai ông, và ông đưa chiếc tách trống của tôi cho nó và rồi mang lại chiếc đầy.
Vào buổi chiều xế, sau bữa ăn trưa, tôi ngồi vào bàn giấy, bàn làm việc của người tiền nhiệm tôi. Tôi lấy bốn quyển sổ ghi chép còn để trống và viết vào quyển thứ nhất: Báo cáo về Ngư nghiệp. Tôi sẽ tập trung chú ý về ngành này. Số ngư dân. Họ chiếm tỷ lệ bao nhiêu phần trăm trong tổng dân số. Họ mang về bao nhiêu cá, dĩ nhiên. Tóm lại, một bản báo cáo đầy đủ. Trong quyển thứ hai tôi viết: Lâm Sản: kinh phí, thời gian ở trong rừng, những thứ chứa trong kho và các loại khác nhau về giá cả được cho bởi các nhà buôn. Quyển thứ ba trở thành: Linh tinh, và quyển thứ tư, tôi nghĩ, đến sáng hôm nay, sẽ là một cái gì đó hoàn toàn mới: Cây lấy gỗ, theo tôi biết họ không đẵn cây để lấy gỗ ở đây, dù rằng thật hoàn toàn thích hợp để làm điều đó, bất cứ ai cũng có thể thấy. Ắt hẳn phải có lý do đặc biệt đối với việc này, vấn đề vận chuyển hay một cái gì đó tương tự. Có lẽ rừng không thích hợp, quá thưa thớt hay quá dày đặc hay vì bất cứ thứ gì khác. Bắt đầu từ bây giờ tôi sẽ suy nghĩ về nó kỹ hơn, nó có vẻ không phải là một ý tưởng tuyệt vời chút nào.
Rồi tôi nhận ra một điều. Trưởng làng luôn luôn nói về khu rừng phía Tây, còn tôi thì muốn đi về phía rừng phương Bắc, ông thì không. Nhưng phương Đông thì sao. Tôi thức dậy và ra ngoài. Thật ngạc nhiên trời ở đây mát mẻ biết bao trong ánh sáng màu xanh ôn hoà này. Tôi đi theo đường phân ranh giữa rừng và bãi cây cọ, với biển thường xuyên trong tầm mắt, tôi đi như thế được nửa tiếng đồng hồ, rồi mọi thứ kết thúc, chỉ còn có biển. Biển tạo một ngã rẽ đột ngột về hướng Bắc. Do đó không còn rừng ở phía Đông nữa, có nghĩa là sự phức tạp ít hơn, một nghĩa vụ mới thêm vào, vì lúc này tôi chẳng còn sự lựa chọn nào khác. Tôi phải thám hiểm khu rừng phương Bắc. Nó luôn là như vậy trong cuộc sống, ít phức tạp hơn nhưng nhiều nghĩa vụ hơn.
Buổi tối, khi tôi đang ngồi trước nhà, với cây đèn dầu trên trên giá, lần đầu tiên tôi nghĩ đến Peartree kể từ lúc ông rời đi. Lúc này có lẽ Peartree đã đi được nửa đường, ông ngủ trong rừng, rừng phía tây chứ không phải rừng phía bắc. Tôi xoay ghế ngồi của tôi sang bốn mươi lăm độ để tôi hướng mặt về hướng đó – hướng bắc. Sau khi ngồi như thế đó một lúc, tôi cảm thấy bồn chồn và khó chịu, và tôi nhận thấy mình đang ngồi quay lưng về phía cửa ra vào, cánh cửa của thế giới tôi. Thế giới tôi là rừng và cửa ra vào là bãi biển, nơi hôm qua tôi đổ bộ lên bờ, và nơi những người khác nữa, những kẻ xa lạ có thể lên bờ và ép cuộc đời chính họ vào với sự tồn tại của tôi. Tôi xoay ghế lại vị trí trước đó để hướng mắt vào cửa. Mọi thứ lúc này vẫn ở đúng vị trí của nó. Phía tây, đó là Peartree, nơi ông ta thực sự thuộc về. Phương bắc, chưa được biết, thuộc về những gì tôi đang mong ngóng. Phương đông, đó là cõi hư vô mà phương này thuộc về. Và phương nam là cửa ra vào, những gì nằm bên ngoài nó ắt hẳn vẫn còn khoá kín. Tôi ngồi trong đêm tối, nhìn và thấy Peartree, đã đi xa được ba mươi dặm, nếu anh ta không nói dối. Peartree đang bực mình nhưng bạn phải thuộc về nơi đó thôi.
Một ngày sau đó.
Sáng nay tôi mời trưởng làng đến để thảo luận chi tiết về chuyến đi vào rừng đầu tiên của tôi. Trong khi thảo luận, tôi chỉ về phía tây chứ không phải hướng bắc, và ông rất vui về chuyện đó. Tôi nghe nói chúng ta sắp thăm viếng vài ngôi làng hạng hai, nơi định cư tạm thời của những người thu hoạch các sản phẩm từ rừng. Chúng ta sẽ chỉ đi xa trong hai ngày, ở lại bên ngoài chỉ một đêm, bởi vì đây là lần đầu tiên, tôi chưa muốn làm bất cứ thứ gì ngay, và tôi cố gắng để làm sáng tỏ bước chân của Peartree có quá nhanh đối với tôi không. Trưởng làng, lúc này là khách của tôi, hoàn toàn đồng ý với tôi.
Tôi tự hỏi có nên rời đi ngay chiều hôm nay không, nhưng tôi tự kiềm chế kịp lúc bởi vì thật xuẩn ngốc và mâu thuẫn một cách không thể tin nổi để ra đi vội vàng như thế đó. Sự thật là rằng một việc làm đòi hỏi phải cẩn thận và một kế hoạch lâu dài của chuyến đi đã quấy rầy tôi bởi vì tôi không mong ngóng đến buổi chiều và buổi tối
Hoàn toàn không được mời đến: vào buổi chiều tôi nằm trên chiếc ghế dài bên dưới vòm xanh lá, với quyển tiểu thuyết trinh thám mới, suốt ba tiếng đồng hồ tôi chăm chú đọc đến trang cuối. Đến cuối ngày đầy ắp những cái đẹp, cái đẹp của buổi tối, của sự lặng lẽ của ngọn đèn và ánh sáng của nó.
Của sự tĩnh lặng.
Của ánh sáng màu vàng.
Một ngày sau.
Đây là ngày của cuộc hành trình đầu tiên của tôi. Chưa bao giờ trước đây tôi có cảm giác hơi bối rối nhưng tràn đầy sinh lực liên quan đến chuyến đi, bởi vì đây là chuyến đi dưới hình thức thuần khiết nhất và cao cả nhất , thực vậy, hình thức của chuyến đi của tôi là cao cả, cổ xưa và đầy truyền thống. Người dẫn đường, một hướng đạo sinh, đang đi trước tôi với khoảng cách là ba mươi bộ, một khoảng cách mà theo qui ước cổ xưa của nó, có nghĩa là cuộc hành trình một ngày. Cuộc hành trình của tôi được cách điệu hoá đôi chút. Điều này bao gồm vị trí người trưởng làng ở chỗ nào. Trong khi đáng lẽ ông đi trước tôi vài bước, ông lại tham gia vào người dẫn đường, đây là những gì ta có thể gọi là phong cách bình dị.
Tôi đi sau ông, bao bọc xung quanh là tường, hào phân biệt, tôi một ông hoàng từ trên triều đình, cách đây nhiều thế kỷ. Đi sau tôi một cách đầy tôn kinh là những nhân vật ít nổi tiếng hơn, những thành viên của hội đồng làng, nếu tôi không nhầm. Có lẽ có một số nhà thu hoạch nhựa thông tư nhân, giàu có trong số họ. Dĩ nhiên họ có quyền là thành viên trong đoàn tuỳ tùng của tôi. Và cuối cùng, đoàn tuỳ tùng được tạo thành một nhóm người khuân vác.
Chúng tôi đi theo đường ven biển một lúc, nhưng lúc này, trước sự vô cùng thoả mãn của tôi, chúng tôi đã đổi hướng và đang tiến sâu vào trong nội địa. Khu rừng, cũng như những tầng cây thấp mọc um tùm trên mặt đất, trở nên dày đặt hơn ở đây, trời đã trở nên tối hơn, bình thường hơn, một màu xanh ít trong suốt hơn. Bằng cách này, chúng tôi tới ngôi làng đầu tiên một cách khá đột ngột hơn. Những hướng đạo sinh thân thiện đến gần chúng tôi và có rất nhiều điều thú vị khi chúng tôi bước vào khu định cư. Tôi rất vui khi ngồi xuống, nếu không, sẽ không có gì nhiều ở xung quanh. Rừng phía Bắc có lẽ tốt hơn và xinh đẹp hơn.
Chúng tôi ăn, nghỉ ngơi và làm một số công việc, buổi chiều chúng tôi tiếp tục hành trình. Trưởng làng rất tuyệt vời. Ông đã đặt chỗ rất tốt để qua đêm. Ngôi làng thứ hai khi tôi đến trễ vào buổi chiều thì lớn và sạch sẽ, một người đàn ông thanh lịch tiếp đón chúng tôi rất có tư cách. Một quí ông chắc chắn giàu có, vạm vỡ, lịch thiệp và có vẻ ngọt xớt là trưởng khu định cư thứ hai này. Ông có vẻ như biết rõ mọi thứ đáng được biết trong những vùng này, và khi tôi mời ông và một số quí ông khác hút thuốc với tôi sau bữa cơm tối, tôi cảm thấy rằng tôi cần phải tận dụng cơ hội này. Hãy tha thứ cho tôi, trưởng làng thân mến của tôi, nhưng tôi không thể bỏ qua cơ hội này.
Đây là một khu định cư rộng lớn và xinh đẹp, tôi nói, gần như xinh đẹp bằng một ngôi làng lớn. Họ cười toe toét và thảo luận qua loa với nhau. Tôi chỉ tay về phía tây bắc và hỏi liệu có bất cứ một khu định cư nào ở đó nữa không. Vâng, còn hai khu định cư nữa. Và ở phía đông bắc? Tôi hỏi, vừa chỉ tay về hướng đó và chỉ nhìn ông chủ vạm vỡ của tôi. Ông cười híp mắt và nói ông không chắc chắn lắm.
Chỉ có duy nhất một khu định cư ở đó, trưởng làng riêng của tôi nói. Đôi khi họ ở đó, đôi lúc không. Chúng tôi không biết bất cứ thứ gì khác về nó. Có một cái gì đó hơi buồn và đáng thất vọng một cách không thể nhầm lẫn được trong giọng nói của ông khi ông nói điều này, và cử chỉ của ông rất đáng trân trọng. Đó là lý do tại sao tôi cúi đầu chào một cách lịch sự về phía ông và chuyển đề tài sang một cái gì đó có tính cách trung lập: lịch sử người dân của ông.
Một ngày sau.
Tôi về lại nhà và trời đã vào đêm, đèn được mang ra bên ngoài. Dường như vẫn còn một ít cognac và tôi kết thúc. Còn khá nhiều rượu cognac. Tôi ngồi xoay lưng về phía nam, bởi vì tôi phải xua tan nỗi sợ hãi của tôi, tôi phải làm cho lòng mình trở nên sắt đá để chống lại sự sợ hãi. Tôi cần phải trở thành một người can đảm.
Có hai tiến trình khả thi mở ra trước mắt tôi. Khả năng thứ nhất, tôi phải đến chỗ Peartree và hỏi ông ta những thông tin cần thiết về khu rừng phía Bắc. Ông sẽ làm điều đó cho tôi. Có lẽ ông sẽ kể cho tôi rằng một hoặc nhiều bộ lạc du mục phải được khám phá ở đó. Nếu tôi muốn có một cái nhìn kỹ hơn về những bộ lạc du mục này, ông hoặc sẽ chấp thuận điều đó hay nghĩ thật là kỳ cục để làm điều đó, có lẽ là cái sau hơn. Khả năng thứ hai là không đề cập bất cứ thứ gì với Peartree, đó là những gì tôi sẽ làm. Bởi vì tôi không thấy bằng cách để có thể làm sáng tỏ với Peartree rằng tôi sẽ không đến đó vì nhũng bộ lạc du mục đó, rằng tôi không thể quan tâm ít hơn về họ, và rằng mọi thứ sẽ yên tĩnh hơn nếu họ không ở đó. Tôi không thể nói rõ với Peartree rằng tôi muốn đến bìa rừng, rằng tôi muốn đi bộ mười, hai mươi, một trăm mét vào vùng thảo nguyên rộng mở. Rồi tôi sẽ quay lại khu rừng xanh màu lá này. Không, tôi sẽ không quay lại, không trước hết tôi bước vào vùng thảo nguyên mênh mông . Có lẽ sẽ có một ngọn đồi, tôi sẽ trèo lên đó và reo hò, tôi sẽ hét to, vì tôi sẽ không bao giờ dám làm gì bên trong khu rừng xanh màu lá ấy.
Hoặc tôi sẽ ngồi tĩnh lặng và hít thở sâu, vì tôi sẽ không bao giờ có thể làm gì trong ánh sáng màu xanh lá ấy. Và khi tôi đã uống hết ánh sáng và khoảng cách vào trong, tôi sẽ quay đầu lại, nâng ly, cười lớn và réo gọi: ta đã thấy bạn rồi, hỡi khu rừng xanh màu lá thân yêu ơi!
Tôi sẽ cho đẵng nhiều cây to xuống, nhiều gỗ, và tôi sẽ cho xây một ngôi nhà to và rộng đến nỗi nó trải dài và nằm thấp dưới bầu trời. Lối vào nhà từ phía bìa rừng và một sân rộng ở phía Bắc. Và một tầng hầm, đó là một trò đùa hay, chết tiệt thật. Tôi luôn luôn xây nhiều nhà mỗi khi tôi uống say, chết tiệt tất cả.
Một ngày sau.
Hôm nay tôi xem kỹ về việc làm ăn của làng, trữ lương nhựa trong kho để giao hàng lên tàu, tình hình lương thực, tình trạng chung về y tế. Trưởng làng tháp tùng với tôi đi khắp mọi nơi. Khu rừng phía bắc không còn được đề cập đến nữa, người đàn ông xứng đáng với nó. Tôi cố gắng tạo ấn tượng là người thích kinh doanh một cách nghiêm túc. Trưởng làng có thể trông cậy vào tôi, ông ta phải tín nhiệm tôi.
Tại nhà tôi lắp đặt một văn phòng nhỏ, lấy mấy quyển sổ ghi chép của tôi ra, và bắt đầu viết báo cáo. Tôi tính toán, tôi ước tính, tôi lập kế hoạch. Tôi lưỡng lự một lúc khi cầm trong tay quyển Thu Hoạch Gỗ. Tôi cất nó trở lại. Tôi không biết gì nhiều về gỗ, và sẽ không bao giờ. Tôi không biết tên ngay cả một cây trong khu vực này. Một lúc nào đó tôi sẽ thảo luận với Peartree về vấn đề này.
Vào buổi xế chiều, lòng tôi tràn ngập bởi một ước muốn không thể kiểm soát nổi để đi bộ vào rừng. Lúc bốn giờ chiều tôi quyết định đi bộ về phía bắc khoảng một tiếng đồng hồ. Bằng cách này, tôi sẽ có thể trở về trước khi trời tối. Chuyến đi bộ này là vấn đề rất nghiêm túc. Thật đáng chú ý là rừng ở hướng này thay đổi quá ít. Nó không quá dày đặc, lớp thực bì vẫn còn giữ nguyên trạng, ánh sáng vẫn vậy, mọi thứ vẫn vậy và tôi vẫn không ngoại lệ. Khi tôi ở trong nhà, trong làng, hoặc trong suốt những cuộc hành trình với trưởng làng, với những hướng đạo, và tất cả những người còn lại, tôi thay đổi giống như một con tắc kè. Tôi lịch sự, buồn chán, nhẫn nhục, thích thú, khổ sở, say sưa, tất cả phụ thuộc vào nơi chốn và hoàn cảnh. Tại đây, tại khu rừng phía bắc này, nơi chốn và hoàn cảnh hoàn toàn giữ nguyên trạng và sự giống nhau này đã trở nên hiển nhiên dưới ánh sáng màu xanh lá cây. Tôi tự hỏi tôi sẽ đánh dấu nơi tôi đang đi như thế nào đế sau này có thể tìm lại lối đi của tôi, nhưng thật không thể. Sau một tiếng đi bộ, tôi trở lại, không có gì xảy ra theo cách này. Nhưng sau một tiếng đồng hồ nữa tôi vẫn chưa về đến nhà. Ở đây la bàn sẽ rất hữu dụng, nhưng tôi không có nên tôi bị lạc đường. Khi trời hoàn toàn tối, tôi phải dò dẫm đường về và rất sợ hãi mãi đến khi tôi thấy một ngọn đèn chiếu sáng tương đối gần. Tôi đi loạng choạng về hướng đó. Đó là ngọn đèn từ nhà riêng của tôi, dĩ nhiên, không thể ở đâu khác.
Ngồi dưới ánh đèn sau bữa cơm tối, tôi cân nhắc những việc khả thi. Chẳng có gì nhiều. Chiều nay tôi sẽ đi khoảng ba dặm về phía bắc, đó là ba trong số sáu mươi dặm nằm giữa nhà tôi và bìa rừng, Nếu tôi đi bộ sáu tiếng một ngày, tôi sẽ phải mất một tuần để đi và về , và ngay cả lúc ấy tôi thực sự phải làm việc với nó. Tôi không thể làm việc này một mình . Tôi thực sự không thể làm việc này một mình.
Một tuần lễ sau.
Hôm nay tôi sẽ gặp Peartree và tôi rất muốn gặp. Tôi sắp xếp với trưởng lảng rằng chúng tôi sẽ mất ít nhất là ba – hoặc nếu muốn, là bốn – ngày để đi bộ đến đó. Nếu là trường hợp sau, ông nói, chúng ta phải trải qua ít nhất là một lần bên ngoài khu định cư, nghĩa là, chúng tôi sẽ trải qua đêm ở trong rừng. Tôi hỏi ông liệu chúng ta có cách nào chống lại việc này không. Ông ta nói, không, tôi không biết nhưng có lẽ ông biết. Tôi không bao giờ có thể đoán ra liệu những người này có nghiêm túc với những việc như thế này hay liệu họ có ghét vì không ngủ trong khu định cư. Vì vậy, tôi nói: tôi không ngại làm việc này trong ba ngày. Ông nói: nếu ông muốn làm việc đó trong ba ngày, chúng tôi có thể làm việc đó với ông trong ba ngày và chúng ta ngủ trong khu định cư. Nhưng tôi nói: nếu ông thích mất bốn ngày hơn, thì thực ra không thành vấn đề đối với tôi để ngủ trong rừng. Thế là xong, tôi vừa đặt gánh nặng của sự chân thành lên đôi vai của ông ta. Vội vã như thế cũng không chứng minh được bất cứ thứ gì, tôi nói. Không, ông ta nói, nó không.
Cuối cùng tôi giải bày tâm sự với ông ta, và nói với ông ta rằng tôi thực sự thích trải qua một đêm bên ngoài khu định cư. Ông gật đầu và mỉm cười trong cử chỉ thân thiện. Ông ta là một nhân vật đáng mến.
Đoàn tuỳ tùng của tôi ít đông đảo hơn lần rồi. Có nhiều người mang lương thực dự trữ hơn. Tôi gia nhập vào đoàn người đi tiên phong. Hôm nay chúng tôi đi đến khu định cư thứ nhất, giống như khu định cư từ cuộc hành trình lần rồi. Rồi chúng tôi tiếp tục vào buổi chiều, giờ đây chúng tôi đang nghỉ ngơi. Tôi thấy mình đã đưa ra quyết định tốt khi chia cuộc hành trình ra thành bốn giai đoạn. Trưởng làng và các quý ông khác không thích tác động một cách không cần thiết nữa, và vào ban đêm khi chúng tôi ngồi lại với nhau, họ chuyện trò rôm rả hơn lần rồi.
Một ngày sau.
Chúng tôi tiếp tục đi về phía tây. Tôi nghĩ chúng tôi đang đi dọc theo bãi biển một khoảng tương đối ngắn nữa. Tôi hỏi người dẫn đường. Hắn ta nói: Vâng, bãi biển rất sát. Rừng này không có bất cứ thứ gì giống như rừng phía bắc của tôi. Nó dày đặc hơn bao gồm lớp thực bì bao phủ mặt đất. Chúng tôi đi dọc theo một lối đi cũ, lối mòn của những người tiền nhiệm tôi, của Peartree, của những người đi trước ông, trên những cuộc hành trình cần mẫn thường kết thúc bằng rượu gin.
Khu định cư chúng tôi sắp đến vào cuối buổi chiều phụ bạc trước sự hiện diện của
Peartree. Có một nhà khách với tất cả các kiểu tiếp xúc của những người khéo tay, chẳng hạn như ghế dựa với gạt tàn thuốc trên chỗ tựa tay, hay với tượng thần giữ của bên cạnh bồn rửa mặt đang cầm một cây gậy giữa hai tay để treo khăn tắm trên đó. Một ngọn đèn trong góc phòng lại là một vị thần giữ của trên bàn đang giơ cao một cây đèn lồng. Tại sao đây là việc làm của Peartree? Đây cũng có thể là việc làm của một người tiền nhiệm chống uống rượu, mà thực sự có khả năng hơn nhiều. Một người trầm lặng, điềm đạm, người mà chỉ gạt tàn thuốc trên chỗ tựa tay của ghế dựa, và người không hút thuốc lá. Ông ta đặt một ngọn đèn với nhau như một sự kết hợp, nhưng ông không uống rượu. Thật là một nơi quá ảm đạm.
Tôi cần phải gặp trưởng khu định cư ở đây. Tôi chưa bao giờ gặp ông ta trước đây. Đây là lần thứ ba, một bản sao của một ông chủ đẫy đà bợ đỡ trong chuyến lưu lại qua đêm của tôi trong cuộc hành trình lần thứ nhất. Vì vậy nơi đây bạn vẫn còn có thể tìm thấy những nhà nghỉ với những người chủ điển hình.
Chúng tôi lại phải hút thuốc lá, mặc dầu tôi hoàn toàn không cần làm thế, tôi không phải phụ thuộc vào bất cứ thứ gì, và tôi đi ngủ sớm.
Một ngày sau.
Hôm nay, vào cuối đợt diễu hành của ngày, chúng tôi sẽ trải qua đêm trong rừng. Tôi thức dậy sớm, uống cà phê. Trưởng làng bước tới hỏi liệu tôi đã muốn rời đi chưa. Tôi nói: Tốt lắm, và chúng tôi lên đường. Rừng xanh cũng giống như hôm qua, nhưng vào buổi chiều chúng tôi đi giữa những hàng cây cọ. Tôi hỏi đây có thể là thế nào. Người trưởng làng nói: rừng cọ ở đây rộng lớn hơn ở chỗ chúng tôi nhiều, nhưng chúng ta ở gần với biển hơn, tôi nói. Vâng, chúng ta ở rất gần biển. Nó cách ngôi làng chính bao xa? Vâng, chúng ta không còn xa ngôi làng lớn là mấy.
Tôi giữ dáng vẻ bên ngoài và gật đầu một cách lơ đãng, rồi chúng tôi đi thêm hai tiếng nữa dưới rừng cọ chết tiệt đó và rồi chúng tôi đến nhà của Peartree. Tôi mệt phờ người nhưng Peartree thì hô vang một cách vui vẻ.
Mời vào, ông nói, hãy tắm rửa một chút. Tôi đã rất đúng khi nghĩ rằng ông cần đến ba ngày.
Tôi bước vào nhà và chú ý thấy rằng tôi dễ bị điều khiển bởi tay trưởng làng; đó là cách nó sẽ phải là. Nhà của Peartree lớn hơn và được sơn màu đậm hơn nhà tôi, màu nâu, khá ảm đạm, nhưng lại được phân chia khá giống nhau. Nó ở gần một loại quãng trường và toàn bộ nơi đó tạo một ấn tượng khu quân sự. Peartree cho đốn hạ cây của khu rừng thành một khu vực vuông vứt, và đất được cày lên, nhưng giờ đã ngập tràn cỏ dại. Giữa đám cỏ dại, ngay đằng trước nhà, là hai chiếc ghế dựa, một cái bàn nhỏ với ly chai trên đó. Bia nhé, Peartree nói, A ha, bia, ông đứng trước mặt tôi.Tôi ngồi xuống, hai chân duỗi thẳng và thở sâu. Mặt trời chiếu sáng xuyên qua hàng cây ở bìa quãng trường. Tôi nói: ông đã làm cho chỗ này trở nên xinh đẹp, và tôi vẫy tay vào khoảng không thoáng đãng trước mặt.
Cái gì? ông ta hỏi. Khu rừng? Và ông bắt đầu cười lớn. Tôi nói: Không, những gì tôi thực sự muốn nói là ông đã đốn hạ một mãng cây rừng, chứ không phải toàn bộ khu rừng. Ồ, nó đã có sẵn khi tôi đến đây, ông ta nói.
Ông đã ở đây nửa năm rồi, đúng không? Nửa năm, ông nói, nửa năm và rồi nửa năm nữa, và rồi chúng ta tiếp tục. Tiếp tục. Một chuyến đi làm nhiệm vụ là một năm? tôi hỏi. Peartree nhìn chăm chú vào tôi. Một năm? ông thì thầm với chính mình. Vâng, dĩ nhiên, cứ tưởng tượng, vì Chúa, nếu nó đã trên một năm.
Tôi kể Peartree về những trải nghiệm của tôi với trưởng làng. Dĩ nhiên, ông nói, họ không thể chịu đựng những cuộc diễu hành dài như thế, nhưng họ sẽ luôn luôn xoay sở để tránh khỏi phải ngủ trong rừng.
Ai đã thiết lập nhà khách mà tôi đã ngủ đêm rồi? tôi hỏi. Không biết, Peartree nói, Đã có sẵn ở đó rồi. Về vấn đề này, tôi cũng sẽ cho xây dựng một nhà nghỉ ở góc phía tây bắc của khu vực của tôi.
Ông làm việc đó bằng cách nào? tôi hỏi. Cái gi? Peartree hỏi. Cho xây một nhà nghỉ như thế đó à? ông ra lệnh đi, Peartree nói. Vậy thì tôi sẽ ra lệnh. A, cuộc sống không hoàn toàn phức tạp đến thế đâu. Đèn được mang ra bên ngoài. Vì vậy họ cũng sẽ mang đèn bên ngoài đến đây nữa, nhưng chẳng cần. Tôi thực sự muốn có cái gì đó để ăn. Tôi sắp chết đói rồi. Peartree nghĩ chuyện ăn uống là kỳ cục lắm, nhưng được rồi, được rồi, tôi sẽ bảo họ mang ra một vài món.
Nhưng sao ở đây lại có thể quá yên tĩnh vậy? Vâng, rất yên tĩnh. Khi ngọn đèn đưa qua đưa lại, không có bóng cây nào cùng lay động theo với nó. Ngọn đèn đu đưa trong hư vô.
Tàu sẽ trở lại trong hai tuần nữa, Peartree nói, và lần này trên năm chiếc, và tôi sẽ lên đường. Nhưng thực ra ở quanh đây không quá tệ, đúng không. Thăm viếng nhau mỗi hai tuần. Cứ tưởng tượng mỗi hai tuần lễ bạn đón tiếp người thăm viếng bạn nơi phòng khách nhỏ, nó khiến bạn muốn thề một vệt xanh. Một người chết tiệt có thể lấy nó, nếu Peartree đóng sập cửa lại. Ngay cả có một vài vì sao trên bầu trời. Những vì sao nhấp nháy và chiếu sáng. Peartree câm miệng lại. Thật không tệ chút nào nếu Peartree nói. Hãy để ông ta nói. Tôi hỏi ông ta: Peartree, khu đất rừng kia là do anh chặt? Tôi không chặt, Peartree nói. Tôi nói, tóm lại, khu đất rừng đó, và tôi vẫy tay, có phải nó có thể được sử dụng để lấy gỗ không? Ông không biết, ông nói. Tôi cũng muốn chặt một ít, tôi nói. Chặt toàn bộ khu rừng chết tiệt này? Peartree rống họng lên. Hãy ra tay thật mạnh với toàn bộ khu rừng. Nó có thể được sử dụng cho ngành mộc không? tôi hỏi. Peartree nói: tôi không biết.
Một ngày sau.
Sáng nay trời vẫn còn đẹp, vuông đất trống trước tôi được bao quanh bởi những cây cao thẳng đứng. Đằng sau, tôi nghe Peartree đang đi loạng choạng trong nhà. Ông ta bước ra ngoài, miệng lầm bầm khi tôi nói chào buổi sáng, và ngồi phịch xuống chiếc ghế dựa. Thoạt đầu ông ta không nói bất cứ thứ gì; cả hai chúng tôi yên lặng, bởi vì tôi không cảm thấy vui. Thật đáng kinh ngạc khi mặt trời xuất hiện, và không như chỗ chúng tội, nơi mà ánh sáng màu xanh lá cây vẫn tiếp tục trở nên sáng xanh hơn.
Ông vừa về từ chuyến đi chứ? Peartree hỏi. Tôi lấp đầy ông bằng những cuộc phiêu lưu của cuộc hành trình hai ngày đến phía tây bắc. Chỉ có thể thôi? ông ta càu nhàu. Có hai khu định cư khác, tôi nói, nửa có ích, nửa đầy tội lỗi. Peartree khịt khịt một cách khinh khỉnh. Và cái kia? Ông hỏi. Có một khu khác của những nơi nửa hoang vắng kia. Ông không vào xem thử à? Trưởng làng có vẻ không thích nó lắm. Tôi nói càng bất cẩn càng tốt, nhưng có vẻ quá yếu ớt. Và tôi cảm thấy yếu đuối và hơi bối rối.
Kế hoạch bí mật của tôi để biến vùng núi phía bắc thành một thánh địa trong truyện thần tiên cho riêng tôi đang được phơi bày một cách khó khăn. Có phải ông là một kẻ bị giật dây đến nỗi để cho người trưởng làng nào đó điều khiển ở đó? Peartree hỏi. Tôi nói: Không, tôi vẫn không ngại đi đến đó. Tôi sẽ sớm làm công việc chết tiệt đó nữa. Peartree nói: ông sẽ gặp rắc rối đó.
Có lẽ ông ta thấy tôi đang từ từ đỏ mặt, vì những lời vừa rồi của ông có vẻ thân thiện hơn. Có lẽ ông ta đang nghĩ: Có lẽ tôi quá cứng rắn. Và ông sợ tôi có thể tức giận. Hay ông ấy chỉ đơn giản là tốt bụng. Nhưng tôi đang nghĩ về một cái gì đó hoàn toàn khác biệt. Tôi nghĩ: Chết thật, luôn luôn là một điều giống nhau. Bởi vì đây không phải là lần đầu tiên tôi bỏ nhỡ cơ hội để nhận biết một trong những tưởng tượng của tôi.
Nhưng đó là một sự khó chịu thoáng qua. Khi tôi đến khu định cư lớn vào buổi tối, với nhà khách của người khéo tay, tôi đã lắp các sự cố vào bức tranh tôi có về vùng núi phía bắc. Nó là và vẫn còn là một lâu đài thần tiên với các lối vào hoàn toàn phủ đầy cây cỏ um tùm. Cái miệng ăn to nói lớn của Peartree vừa cắt một lỗ trong hàng rào này. Từ đó trở đi.
Hai ngày sau.
Phần còn lại của chuyến trở về đã mất hai ngày và khi tôi về đến nhà vào buổi chiều, tôi hoàn toàn quen với màu xanh lá trở lại. Tôi ngồi xuống ghế đằng trước nhà, hoàn toàn bằng lòng với chuyến đi khi đèn được mang ra bên ngoài và trò chơi của những bóng cây bắt đầu. Đến lúc này, tôi đã có đủ các hoạt động trong rừng. Trong mười ngày nữa tàu sẽ đến. Trong mười ngày tới Peartree sẽ đến đây. Hắn ta sẽ hỏi: Ông đã đến khu rừng phía bắc rồi chứ? Tôi sẽ nói: Vâng, tôi đã tìm một nơi thích hợp cho một khu định cư. Khu này tuyệt vời lắm. Một kế hoạch rất tuyệt vời.
Mười hai ngày sau.
Tàu đến rồi tàu đi. Tôi đã chứng kiến một sự phát lại quang cảnh lần mới đến của riêng tôi. Mọi thứ giống hệt như lần đầu tôi đến đến nỗi nó làm tôi hoảng sợ, kinh hải và thất vọng.
Peartree đã ở đây hai đêm. Hai tuần nữa tôi sẽ đến chỗ Peartree. Trong vòng một tháng nữa tàu sẽ trở lại. Nghĩa vụ lần ba.
Vào buổi tối, tôi rời khỏi nhà bằng cửa sau. Rừng tối om và không thể đi được. Tôi lang thang xuyên qua các hàng cây dọc theo hông nhà đến trước nhà. Tôi đứng sau một cây và nhìn quanh thân cây. Đằng trước nhà trong rừng, ngọn đèn đang chiếu sáng. Trong vòm sáng của nó, một cái bàn và một chiếc ghế trống. Sẽ không lâu trước khi tôi thấy chính mình đang ngồi trong ghế trong khi tôi vẫn còn đứng sau một cây và cẩn thận nhìn quanh thân nó. Ước chi không có ngọn đèn đang chiếu sáng mà là một đám cháy rừng, và một vị thần giữ của đang nhảy múa và ca hát xung quanh nó. Không ai biết, không một kẻ nào biết tên tôi là Rumpelstilskin, sẽ thích hợp hơn, sẽ tự nhiên hơn.
Một ngày sau.
Tôi cho mời trưởng làng đến chỗ tôi. Tôi vừa được lệnh, tôi nói với ông ta, xây dựng ba khu định cư, và tôi chỉ tay về hướng định mệnh. Ông ta hoảng sợ và co rúm người lại một lúc. Ông ta nhìn tôi một hồi lâu, đầy buồn bã . Tôi nói: Được rồi, chúng ta không thể làm bất cứ thứ gì về nó. Và rồi tôi lắc đầu. Tôi ước chi tôi chưa đề cập đến khu rừng phía bắc với người đàn ông này. Mãi đến ngày ông đang hấp hối, ông sẽ coi nhiệm vụ được giao này như một trò lừa bịp.
Một câu hỏi dấy lên là liệu tôi có nên tự mình làm lấy một việc gì đó, nhưng tôi không biết những gì có thể làm. Ngài ra lệnh, Peartree hỏi. Có phải lúc này họ đang đến đó và đang mang theo vật liệu xây dựng hay là họ lấy vật tư tại chỗ? Tôi sẽ nghĩ đến trường hợp sau.
Một tuần lễ sau.
Qua sự phân tích cuối cùng, tất cả mọi thứ diễn ra khá suông sẻ. Tôi muốn cho xây dựng khu định cư thứ nhất, khoảng hai mươi lăm dặm về phía bắc. Tốt đó, trưởng làng nói, nhưng đã có một khu định cư quanh đó rồi. Điều đó đã xảy ra khi nào? tôi hỏi. Hôm qua hay hôm kia gì đó. Có lẽ tôi sẽ xem kỹ lại một trong hai ngày này.
Giờ đây tôi đang ngồi dưới ngọn đèn ngoài trời, tôi sẽ làm gì đây? Tôi đang hát một cách êm dịu cho chính mình vì sự thoả mãn và thoải mái. Trưởng làng là người tốt. Ông vẫn còn quan tâm đến những mệnh lệnh mà tôi đã tiếp nhận và truyền lại như một thủ thuật do tôi sáng tạo ra, nhưng ông vẫn coi nó như một ý tưởng đáng khâm phục về phía tôi để làm việc đó theo cách này, và rằng tôi đã không nói ra mệnh lệnh đó với ông để bắt đầu khuếch trương nó ngay lần xuất hiện đầu tiên của tôi. Ông ta hy vọng và tin tưởng chúng tôi sẽ có thể thương lượng về một số những khu định cư mới. Chắc chắn sẽ không có trên hai khu, ông nghĩ. Và đối với một trong những khu định cư này, ông vừa đánh dấu một khu đã bị bỏ được cho là thuộc về một bộ lạc du mục. Bộ lạc du mục này, dĩ nhiên là vô nghĩa với các quý ông đó cho đến khi họ phát ngán với nó. Chính vì nỗi sợ hãi của họ với khu rừng còn quá xa lạ. Trưởng làng và tôi, cả hai đã đi theo lối đi ít sự chống đối nhất, ra vẻ thượng lưu hơn. Nhưng cách này tốt hơn nhiều.
Hai ngày sau.
Sáng nay tôi sẽ gặp trưởng làng để thu xếp cho chuyến đi đầu tiên của tôi đến khu định cư mới. Dạo này chúng tôi khá lịch sự với nhau, trưởng làng và tôi, đến nỗi tôi nghĩ thật tốt hơn là báo trước cho ông ta vài ngày. Và như vậy ông ta có thể chuẩn bị mọi thứ trong lúc rỗi rảnh, bởi vì ngay cả nó chưa được hoàn tất một nửa, dĩ nhiên. Một lần nữa, tôi coi cuộc hành trình sắp đến của tôi như một cuộc phiêu lưu kỳ thú. Tôi thực sự nên đến chỗ Peartree, nhưng tôi dự định hoãn lại khoảng một tuần.
Hai ngày sau.
Chúng tôi lên đường. Khu định cư cách đây khoảng ba mươi dặm, một khoảng cách không thể trải qua trong một ngày, nhưng ba mươi dặm có nghĩa là nửa khoảng cách đến bìa rừng. Tối nay khi chúng tôi đến đó, tôi sẽ thưởng cho trưởng làng bằng sự giảm bớt con số các khu định cư mới được xây dựng từ ba xuống hai.
Tôi đang trên lối đi trong khu rừng đầy ma thuật của tôi. Tôi đi bộ giữa các thân cây và nhìn xung quanh. Không có thảm thực vật trên mặt đất, và giờ đây tôi hiểu tại sao. Mặt đất là đá. Trong bất cứ trường hợp nào, nhiều tảng đá lớn một phần được chôn vùi dưới đất, một phần có thể thấy bên trên, đúng là một khu rừng kỳ diệu. Thân cây thẳng đứng, ánh sáng màu xanh lá, luôn luôn giống nhau và ắt hẳn phải rất cổ xưa. Tự thân nó chính là Thời Gian. Tôi nói, vừa cười sang sảng. Cổ xưa, Xanh màu lá, và luôn Giống nhau.
Cuối cùng chúng tôi cũng đến khu định cư. Hai túp lều ảm đạm trong khu rừng âm u. Tôi quá mệt để không thể ăn uống được gì. Tôi chỉ hồi phục đôi chút vào lúc tối khi ngồi ở hiên nhà, nhìn ra phía trước vào đêm tối, lúc nào cũng giống nhau.
Một ngày sau.
Tôi đi ngủ trễ, sau đó tôi xem xét mấy vấn đề nổi bật, ghi nhanh một vài dữ kiện, chấp nhận lời hẹn với trưởng khu định cư. Mãi đến chiều xế tôi mới nhận ra nơi tôi thực sự đến. Đây là giữa Khu rừng Phía bắc. Nếu tôi thức dậy sớm vào sáng mai và tiến về phía bắc cả ngày , tôi có thể đến bìa rừng. Ngay lúc này tôi muốn gọi người trưởng làng và cho chỉ thị về cuộc hành trình. Sẽ không hiệu quả, vì có quá nhiều vấn đề. Và tôi còn phải đi gặp Peartree nữa. Thật bực mình, những lần viếng thăm đó, nhưng tôi không thể bỏ chúng, quá lố bịch, bị Chúa bỏ rơi, và con người cũng vậy, nhất định tôi phải đến thăm viếng chúng.
Mười hai ngày sau.
Tôi đã thôi không còn đến chỗ Peartree nữa, và tối nay, hai ngày trước khi tàu đến, ông ta đến đi bộ xuyên qua khu rừng. Tôi đã không gặp ông, ông nói. Công việc trong rừng đã giữ chân tôi, tôi nói. Điều này khiến ông thoả mãn. Ông ta chỉ đơn giản là dễ chịu một cách đầy lo lắng.
Bốn ngày sau.
Hôm nay tôi đi bộ bốn tiếng cả đi lẫn về trong Khu Rừng phía Bắc. Một khu rừng kỳ diệu trong tất cả cái vô tận tương tự của nó. Nếu tôi đi bộ ở đây, hoặc nếu tôi đi thêm ba mươi dặm nữa, tất cả cũng sẽ giống nhau, tôi cũng không thể thay đổi bản thân mình trong suốt khoảng thời gian này.
Ba tuần sau.
Tôi ở trong Khu rừng Phía bắc, cách đường giáp ranh khoảng ba dặm. Khu định cư thứ hai đã được thiết lập và tôi sẽ ở tại khu vực này khoảng một tiếng. Tôi âm thầm đi dạo vào buổi sáng. Tôi muốn đi một mình khi đến bìa rừng, khi vượt qua khỏi đường giáp ranh. Khu rừng cuối cùng đã thay đổi. Có vẻ như nó tự phủ kín trước khi hiện ra điều bí ẩn của nó. Có nhiều bụi cây lúp xúp hơn và rồi nó trở thành đồi dốc thoai thoải. Trong chốc lát nữa tôi sẽ thấy bình minh, thấy ánh sáng rạng đông, và bầu trời trở nên sáng rõ hơn.
Tôi sẽ cho xây một ngôi nhà ở đây. Nó sẽ không có mặt tiền hoặc mặt sau, không ưu tiên cho rừng cũng không cho bình nguyên mênh mông. Tôi sẽ biết làm thế nào để tỏ ra độ lượng sau khi chinh phục được rừng xanh. Nếu cần, tôi sẽ cho xây nhà theo kiểu hình tròn, đây là một ý tưởng, một ngôi nhà hình tròn với mái hiên hình tròn xung quanh nó.
Và rồi trời sáng rõ, tôi có thể thấy thảo nguyên mênh mông. Tôi bắt đầu chạy bộ, đi xa, tôi gần như muốn ngã quỵ, nhưng rồi trời sáng. Đúng hệt như cái cách mà tôi đã tưởng tượng. Đó là chân lý. Tôi hát, tôi hô vang, tôi được cứu rỗi rồi.
Tôi đứng yên, thở hổn hển dưới bầu trời rộng lớn. Đây rồi. Nó đây rồi.
Một vùng đất trống tuyệt vời, với nhiều tảng đá, lớn có, nhỏ có, với dốc đồi thoai thoải, với những ngọn núi xanh sương phủ đằng xa. Tôi tiếp tục đi bộ, nhưng chậm hơn. Tôi cũng chú ý thấy rằng không có mặt trời, ánh sáng sắt nét, tôi không chú ý thấy nó nếu như còn ở trong rừng. Tôi tiếp tục bước đi, tôi biết rằng tôi còn phải trở lại, rằng tôi chưa có thể ở lại đây mãi mãi, nhưng chỉ trong chốc lát, chỉ thêm một lúc nữa, như đứa bé trước khi đi ngủ. Tôi ngồi xuống trên một phiến đá. Phải chăng đây là nơi tôi đã từng thấy trước đây? Tôi đang nghĩ.
Stonehenge, có lẽ, nơi Merlin đã ở, trong một bức tranh trong sách địa lý. Có những tảng đá khổng lồ ở đây, và những ngọn núi xanh kia tạo thành một đường phân ranh thứ lớp và gọn gàng. Tôi cũng chẳng ao ước chút nào để cũng bắt đầu kiến tạo một cõi mộng mơ về những gì có thể nằm bên ngoài chúng mà cứ để chúng đủ tốt. Giờ thì tôi biết những gì nằm bên ngoài khu rừng và điều đó sẽ phải là đủ. Tôi đứng phía sau rừng. Và rồi quay đầu trở vô rừng.
Ba ngày sau.
Tôi vừa về đến nhà. Trưởng làng và những người khuân vác cũng về nhà. Tôi không thể yêu cầu ai ở lại với tôi. Điều đó sẽ không giúp được gì. Tôi không thể yêu cầu ai ở lại, tôi không thể kể cho bất cứ ai những gì tôi đã thấy khi tôi đứng bên ngoài rừng và quay đầu trở vô lại rừng.
Gió thổi mạnh khi tôi đứng bên ngoài rừng. Tôi không chú ý thấy có gió khi ở trong rừng, nhưng hẳn gió vẫn đang thổi.
Bầu trời màu xám xịt và bên dưới bầu trời đó, tựa lên nền trời đó là khu rừng, màu xanh độc hại trong ánh sáng chói loà của bầu trời màu xám, một lớp những con rắn trơn tuột màu xanh lục đang lướt đi trong đó.
Tôi đã đứng bên ngoài khu rừng và đã sợ chết khiếp. Tôi muốn bỏ chạy đến những ngọn núi xanh, nhưng không thể, ôi Chúa tôi, dĩ nhiên là không thể. Tôi phải trở vô lại, tôi phải đi về phía sinh vật khủng khiếp này với hai con mắt mở to và bước vào nó, và chẳng bao giờ, chẳng bao giờ nữa tôi sẽ biết lại sự thanh bình của ánh sáng ôn hoà xanh màu lá này, vì bấy giờ tôi đã biết những gì bên trên tôi.
Một ngày sau.
Đêm nay tôi ngồi tại giường, hai tay ôm đầu, và một lát sau tôi bước ra phía sau nhà, đi giữa những thân cây thẳng đứng tới phía trước nhà. Tôi không sợ vào buổi tối hay ban đêm, bởi vì những con rắn màu xanh lục bên trên tôi lúc ấy như đã chết. Tôi đứng đằng sau một thân cây và nhìn vòm sáng của ngọn đèn. Một cái bàn và một chiếc ghế. Rồi tôi vô nhà trở lại dọc theo cùng một lối đi. Đó là một trò chơi mà tôi chơi trở lại vào mỗi buổi tối. Tôi sắp bị điên rồi. Ngày mai tàu lại đến.
Một tháng sau.
Hôm qua tôi đi bộ cả ngày, và hôm nay, rồi tối nay tôi sẽ trở lại làng tôi.
Hôm qua tàu cũng đã đến. Tôi không nghĩ đến nó, nhưng tàu cũng đã đến đây.
Trời đã tối hẳn trước lúc tôi đến nhà. Ngọn đèn không đang chiếu sáng, và rất yên tĩnh. Tôi phần nào tin tưởng Peartree vẫn còn ở đó, nhưng rồi chẳng có một ai quanh đó. Trời tối đen như mực. Vâng, tối đen như mực. Tôi lấy đèn pin ra, tìm cây đèn, đốt đèn lên, và mang nó ra bên ngoài. Khi tôi muốn treo cây đèn lên giá, tôi thấy rằng tôi không thể, bởi vì Peartree đang treo lủng lẳng ở đó.
Và bây giờ hãy để ngọt ngào và hạ thấp xuống
Rượu nho, hoa treo cổ
Rượu nho trong hoa treo cổ
Rượu nho trong hoa
Và bây giờ hãy để ngọt ngào …
Trời tối làm sao. Tất cả tháo ra hết, và tôi đã để cây đèn lồng của tôi lại phía sau, trở lại đó, tôi treo nó lủng lẳng. Ôi, Chúa ! Tôi đã để Peartree treo cổ, bao lâu, ít nhất là nửa đêm, tôi đã giết hại ông ta rồi. Giá mà ông ta không chết khi tôi đến. Đó là chủ ý của ông ta, có phải không? Tôi đang cười chính mình là đồ ăn hại. Nếu, ha ha, tên anh là Peartree (Cây lê), vậy là anh tự treo cổ trên cây. A ha.
Nhưng có phải ông ta không nên được đưa xuống bây giờ sao? Chết thật. Tôi không thể tìm thấy cây đèn. Tôi thực sự không thể. Nếu có, tôi đã đi đến nhà trưởng làng cách đây một lúc rồi. Tôi không thể rời đi. Tôi không ngại phải ra khỏi đây. Đừng làm khó tôi nữa. Tôi sợ lắm rồi. Tôi không hề để ý. Tôi sợ lắm. Tôi không cần ánh sáng. Tôi không muốn thấy Peartree đang treo lơ lửng ở đó. Tôi không muốn thấy ánh sáng.
Vài giờ sau.
Ô, Chúa tôi! Tôi đang uống rượu như một người mất trí. Trời lúc này đã hoàn toàn sáng, có lẽ đã xế chiều rồi. Peartree đã được đưa đi. Ông ta không còn đang treo lơ lửng ở đó nữa. Họ hạ ông ta xuống và đưa vào một căn nhà trống. Tôi viết một bản tự khai và nhờ hai nhân chứng ký vào. Tôi để họ đặt một cây thánh giá, thật không đúng chút nào, nhưng vẫn phải làm. Tôi cho đào một ngôi mộ, nhưng trưởng làng nói đã có rồi. Tôi hỏi về một cỗ quan tài. Họ mang đến một chiếc, Chúa tôi, mà điều này sẽ không từng xảy ra. Chúng tôi phải dựng ông ta đứng dậy và đánh mạnh vào đầu ông ta để hai đầu gối ông hoạt động, có lẽ nó sẽ không bao giờ hoạt động.
Tôi nói: Một cỗ quan tài nữa và đưa ra kích thước, dài bảy bộ, rộng và sâu hai bộ. Họ thực sự đã làm một cỗ quan tài khác. Giờ thì Peartree phải đi vào, nhưng tôi không thấy vào bằng cách nào. Tôi là một kẻ chết nhát, một tên khốn kiếp, tôi không thấy ông ta vào như thế nào, nhưng ông ta phải vào, một gã vô lại tội nghiệp, một kẻ đáng tởm tội nghiệp.
Chúng tôi vào nhà, quan tài được khiêng vô theo sau tôi. Tôi mang ra một tấm vải phủ lên quan tài.
Trong nhà, hai chiếc bàn được đặt sát lại. Họ đặt xác Peartree lên chúng, đắp trong một tấm ra, nhưng đầu ông ta ló ra ngoài, tôi liền đắp một chiếc khăn tay lên nó, thật đáng tôn kính.
Tôi yêu cầu mọi người dành một phút mặc niệm và sau đó chúng tôi nhất ông ta lên, tôi phụ khiêng ở hai bàn chân, rồi đặt ông ta vào quan tài, đậy nắp lại và đóng đinh.
Chúng tôi đưa ông ta ra huyệt mộ, dĩ nhiên là ngôi mộ này rất nhỏ, nó được đo cho một cỗ quan tài khác. Họ đào đất. Từng cục đất được ném tung ra khỏi hố, và cuối cùng việc đào huyệt đã xong.
Hai sợi dây thừng được buột quanh quan tài và rồi chúng tôi thả nó xuống. Tôi đang đứng gần một ngôi mộ để trống. Lạy Chúa, tôi nói, Người ở trên trời. Khi tôi quay lại, tôi chú ý thấy đôi chân mình vẫn còn say.
Tôi để ngọn đèn được thắp treo lơ lửng trên giá đỡ như trước. Bởi vì tôi vẫn còn sống.
Phan Thiện Trì chuyển ngữ
August, 2021
Translated from Dutch into English by Hans Koning
Translated from English into Vietnamese by Phan Thien Tri
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét