SSA20. CÂU CHUYỆN DANG DỞ
(An Unfinished Story)
O’ Henry
Chúng tôi không còn than vãng và đổ hàng đống tro tàn lên đầu khi ngọn lửa Tophet 1được nhắc đến. Bởi vì ngay cả những nhà truyền giáo đã bắt đầu kể cho chúng ta nghe rằng Chúa là chất radium hoặc ê-te hoặc một hợp chất khoa học nào đó và điều tồi tệ nhất mà những kẻ độc ác chúng ta có thể phải gánh chịu một phản ứng hóa học. Đây là giả thuyết làm vui lòng người, nhưng vẫn còn lảng vảng một nỗi hoảng sợ lớn lao ngày nào về tín ngưỡng chính thống.
Chỉ có hai chủ đề để cho ta có thể dùng trí tưởng tượng tự do để bàn luận và không có khả năng bị kiểm soát. Bạn có thể nói về những giấc mơ của bạn và bạn có thể kể về điều bạn nghe thấy từ một con vẹt nói. Cả Thần mộng mị Mỏpheus (1) lẫn con chim vẹt kia đều là những nhân chứng không có năng lực; và người lắng nghe bạn lại không dám tấn công vào cái năng khiếu kể chuyện của bạn. Cấu trúc không có cơ sở của một trí tưởng tượng sẽ trang bị cho chủ đề của tôi, được chọn lọc cùng với những lời xin lỗi và nuối tiếc, thay vì một khía cạnh hạn chế hơn của câu chuyện vặt của Pretty Polly.
Tôi có một giấc mơ đi quá xa so với lời chỉ trích cao hơn, có liên quan đến lý thuyết của hội đồng thẩm phán đáng thương, đáng kính và cổ hủ.
Gabriel chơi át chủ bài, và trong chúng ta ai mà không theo kịp đều bị buộc tội để kiểm tra. Tôi nhận ra ở một bên có một cuộc tụ tập các người giữ công trái chuyên nghiệp trong trang phục màu đen nghiêm trang và cổ áo cài cúc ở phía sau. Nhưng hình như có cái gì đó không ổn về quyền sở hữu bất động sản của họ, mà họ dường như không muốn đưa bất kỳ ai trong chúng tôi đi khỏi họ.
Một tay cớm biết bay – một cảnh sát thiên thần – bay liệng về phía tôi và đưa tôi đi bằng cánh trái. Gần ngay cạnh đó là một nhóm những thiên thần trông mặt rất thịnh đạt được sắp đặt để phán xét.
“Anh có thuộc bọn họ không?” Viên cảnh sát hỏi.
“Bọn họ là ai?” là câu trả lời của tôi.
“Hừm, họ là… “ Viên cảnh sát nói.
Nhưng tại sao đám người vô duyên này lại chiếm mất chỗ mà đáng lẽ phải dành cho câu chuyện.
Dulcie làm việc trong một cửa hàng bách hoá tổng hợp. Cô bán bít-tết, hoặc món ớt nhồi hoặc ô tô hoặc những đồ trang sức rẻ tiền có trong những cửa hàng bách hoá. Tiền lương mỗi tuần cô nhận được sáu đô la. Phần còn lại là cho cô vay và cô phải ghi nợ vào tài khoản của ai đó khác trong sổ cái do G… Ồ, bạn nói Reverend Doctor – vậy là trong Sổ Cái của Năng Lực Nguyên Thuỷ.
Trong suốt năm đầu làm việc cho cửa hàng, cô Dulcie được trả lương năm đô la một tuần. Sẽ rất hữu ích nếu biết được cô ta đã sống như thế nào với số tiền đó. Nhưng quan tâm làm gì chứ? Được thôi; có thể bạn quan tâm đến số tiền lớn hơn. Sáu đô la là một số tiền lớn hơn. Tôi sẽ cho các bạn biết là cô ta đã sống ra sao với số tiền sáu đô la một tuần đó.
Một buổi chiều vào lúc sáu giờ khi cô Dulcie đang đứng cài chiếc kẹp dài trang trí mũ, cô hỏi người bạn cùng phòng Sadie đang đứng giúp cô ở phía bên trái.
“Sadie này, tối nay tớ có hẹn ăn tối với anh Piggy”.
“Thế à!” Sadie kêu lên thán phục, “Ôi, sao mà cậu may mắn đến thế!” Piggy tuyệt vời lắm. Anh ấy luôn dẫn bạn gái đến những chỗ sang trọng thôi. Có một tối anh ấy đã đưa Blanche đến biệt thự Hoffman nghe nhạc hay vô cùng và được gặp không biết bao nhiêu những người tai to mặt lớn sang trọng nữa. Chắc chắn cậu sẽ có một khoảng thời gian tuyệt vời nhất, Dulcie ạ”..
Dulcie đi vội về nhà. Đôi mắt cô sáng lên long lanh, hai má hồng duyên dáng của cuộc sống đang đến buổi bình minh. Đó là vào ngày thứ Sáu và trong người cô còn lại năm mươi xu tiền lương của tuần rồi.
Đường phố tràn ngập dòng người hối hả vào giờ cao điểm. Đèn trên Đại lộ Broadway sáng lấp lánh, như mời gọi những con bướm đêm xa từ hàng dặm, hằng chục, hằng trăm dặm ra khỏi bóng đêm đến và dự buổi học thiêu thân. Những người ăn mặc chỉnh tề với những bộ mặt như được khảm xa cừ của những thủy thủ lão luyện quay lại nhìn chằm chằm vào Dulcie khi cô đi qua, nhưng cô không thèm để ý đến họ. Manhattan, như một cây xương rồng khế nở hoa vào ban đêm, bắt đầu xòe những cánh hoa nặng mùi, màu trắng tang tóc.
Dulcie dừng lại bên một cửa hàng bán những thứ rẻ tiền và mua một chiếc cổ áo thêu ren giả với giá năm mươi xu. Đáng lẽ số tiền đó phải được tiêu vào thứ khác gồm có mười lăm xu cho bữa tối, mười xu cho bữa ăn sáng và mười xu cho bữa trưa. Vậy là lại tiết kiệm được một hào vào sổ tiết kiệm; còn năm xu thì sẽ vung vãi vào việc mua kẹo cam thảo – một thứ khiến cho má của bạn trông như bị đau răng và kéo dài khá lâu. Kẹo cam thảo là một thứ xa xỉ, gần như là một cuộc chè chén – nhưng liệu cuộc sống mà không có niềm vui thú thì còn ra gì nữa?
Dulcie sống trong một căn phòng có trang bị đồ đạc. Có sự khác nhau giữa phòng có đầy đủ đồ trang trí nội thất và nhà trọ. Trong phòng có sẵn đồ trang trí nội thất, những người khác không biết là đến khi nào bạn bị đói.
Dulcie lên phòng của mình ở tầng ba, nằm lùi vào phía sau trông ra mặt tiền bằng đá kết nâu của Khu West Side. Các nhà khoa học cho rằng kim cương là chất cứng nhất từng được biết. Họ đã nhầm. Các bà chủ nhà biết một hợp chất bên cạnh kim cương như mát- tích. Họ gắn nó trên các đầu nhọn của lò đốt ga; và ta có thể đứng trên ghế và vặn mở một cách vô vọng cho đến khi các đầu ngón tay trở nên đỏ ửng và bầm tím mà không mở được bằng cái kẹp tóc, cho nên có thể gọi nó là bất di bất dịch.
Vì vậy Dulcie đã bật khí đốt lên. Trong ánh sáng mờ ảo, chúng ta có thể quan sát toàn bộ căn phòng.
Một chiếc giường, tủ áo, bàn, bồn rửa, chiếc ghế tựa – tất cả là của chủ nhà, phần còn lại là của Dulcie. Trên bàn trang điểm là tất cả các báu vật của cô, gồm có một cái bình sứ mạ vàng mà Sadie đã tặng cho cô, một cuốn lịch, một quyển sách bói những giấc mơ, một ít bột gạo đựng trong đĩa thủy tinh và một chùm quả anh đào nhân tạo buộc bằng dải băng màu hồng.
Treo đối diện với cái gương có nếp gấp là những bức ảnh của Tướng Kitchener, William Muldoon, nữ công tước vùng Marlborough và hình của Benvenuto Cellini. Đối diện với một bên tường là một tấm thạch cao Paris hình một O’Callahan đội chiếc mũ giáp La Mã. Đặt cạnh gần đó là bức tranh sơn dầu rực rỡ về một đứa bé có màu chanh đang đuổi bắt một con bướm có đôi cánh rực lửa.
Đây là phán quyết cuối cùng của Dulcie trong nghệ thuật, nhưng nó chưa bao giờ gây khó chịu. Phần còn lại của cô chưa bao giờ bị quấy rầy bởi những lời thì thầm của các tên trộm cắp; không nhà phê bình nào đã nhíu mày trước nhà côn trùng học trẻ nít của cô ta.
Piggy sẽ đến thăm cô vào lúc bảy giờ. Trong lúc cô đang rối rít chuẩn bị, chúng ta hãy lén xem xét xung quanh và tán gẫu với nhau.
Tiền thuê phòng là hai đô la một tuần. Vào các ngày trong tuần, bữa sáng cô phải trả mười xu; trong lúc mặc quần áo đi làm, cô tranh thủ pha cà phê và luộc một quả trứng trên bếp ga. Vào các buổi sáng Chủ nhật, cô thưởng thức món thịt bê và táo tẩm bột rán tại quán ăn “Billy”, với giá hai mươi lăm xu và cho thù lao cô hầu bàn mười xu. New York có quá nhiều cám dỗ khiến cho một người phải rơi vào cảnh xa hoa phung phí tiền bạc. Cô ăn bữa trưa trong nhà hàng ăn của cửa hàng bách hoá với giá sáu mươi xu một tuần; bữa tối mất một đô la năm xu. Những tờ báo buổi chiều, mà không có người New York nào lại không mua lấy một tờ, giá sáu xu; rồi phải mua hai tờ báo Chủ Nhật, một tờ để đọc cột riêng tư và một tờ để đọc chung chung, giá mười xu. Tổng số lên đến 4 đô la 76 xu. Mà người ta còn phải mua quần áo và… nữa chứ.
Tôi đành phải từ bỏ điều đó. Tôi nghe nói về những món hời tuyệt vời, tôi nghe người ta nói đến những cuộc mặc cả về những thứ vải tuyệt diệu và về những điều phi thường được làm nên bằng kim và chỉ; nhưng tôi đang nghi ngờ lắm. Tôi cầm cây bút lên một cách tuyệt vọng khi tôi định thêm thắt vào cuộc đời của cô Dulcie một chút niềm vui thuộc về phụ nữ bởi tất cả những điều luật bất thành văn, thiêng liêng, tự nhiên liên quan đến sự bình đẳng của luật trời. Cô đã đến Đảo Coney hai lần và đã cưỡi những con ngựa gỗ. Thật là một việc làm chán ngán khi phải đếm những niềm vui thú bằng những mùa hè, chứ không phải bằng những giờ đồng hồ.
Piggy chỉ cần mô tả một lời là đủ. Khi các cô gái đặt tên cho anh ta, một sự kỳ thị không đáng có bao trùm lên cả họ nhà lợn cao quý. Bài học gồm những từ có ba chữ ghép lại trong cuốn sách học đánh vần màu xanh cũ kĩ lại là khởi đầu bản tiểu sử của Piggy. Anh ta trông béo tốt; anh ta có tâm hồn của con chuột, có những thói quen của con dơi và có tính đại lượng của một con mèo… Anh ta mặc những bộ quần áo đắt tiền và là người sành sỏi trong việc chết đói. Anh ta có thể nhìn vào một cô gái làm việc trong của hàng và nói với bạn một tiếng là đã bao lâu rồi cô ấy chưa ăn ăn thứ gì bổ dưỡng hơn món kẹo dẻo và trà. Anh ta đi lang thang trong các khu phố toàn cửa hàng và lượn lờ quanh các cửa hàng bách hoá tổng hợp với lời mời mọi người đi ăn cơm tối. Những quý ông dắt theo những chú chó trên đường phố đã nhìn vào anh ta một cách khinh bỉ. Anh ta thuộc lớp người kiểu mẫu; tôi không thể bàn về anh ta được nữa; ngòi bút của tôi không thuộc loại nhằm vào anh ta mà viết; tôi đâu có phải là thợ mộc.
Vào lúc bảy giờ kém mười phút, Dulcie đã sẵn sàng. Cô soi mình vào chiếc gương có nếp nhăn kia và thấy hình mình trong đó thật thỏa đáng. Một bộ váy xanh đậm, trông rất vừa vặn, không một nếp nhăn, chiếc mũ có một chiếc lông vũ đen trông trang nhã, đôi găng tay có hơi bẩn một chút – tất cả đại diện vì người khác, thậm chí quên cả ăn uống vì nó – trông thật thích hợp.
Dulcie quên đi mọi thứ khác trong giây lát, ngoại trừ việc cô thấy mình xinh đẹp và cuộc đời sắp được hé lộ để cho cô được chiêm ngưỡng những sự kỳ diệu của nó. Trước giờ chưa từng có một quý ông nào rủ cô đi chơi.Thế mà lúc này đây, chỉ trong giây phút ngắn ngủi nữa, cô sẽ đi vào một cuộc trưng bày đầy phấn khích và hào nhoáng.
Các cô gái nói rằng anh Piggy là một người “xài tiền như nước”. Chắc hẳn sẽ có một bữa tối hoành tráng, rồi có cả âm nhạc và các quí bà các quí cô ăn mặc lộng lẫy để ta chiêm ngưỡng, và cả những thứ để ăn, khiến cho các cô gái phải vênh miệng lên một cách đến lạ khi họ cố gắng nói về những thức ăn đó. Rõ ràng là Dulcie sắp lại được mời đi ăn ở ngoài cửa hàng.
Trong một cửa hàng mà Dulcie biết có bày một bộ com-lê lụa mộc màu xanh da trời – mà muốn mua thì mỗi tuần phải tiết kiệm những hai mươi xu, chứ không phải chỉ có mười xu, hãy xem nào, như thế phải mất nhiều năm mới mua được! Nhưng có một cửa hàng đồ cũ trên Đại lộ Bảy nơi có…
Có người gõ cửa. Dulcie ra mở và bà chủ nhà đứng đó mỉm cười giả vờ, đánh hơi việc nấu ăn bằng hơi đốt ăn trộm.
“Có một quý ông ở dưới nhà cần gặp cô đấy. Tên ông ta là Wiggins” bà nói.
Bằng cái biệt danh hoa mỹ như thế mà Piggy đã được các cô gái bất hạnh biết đến, những kẻ đã phải nhìn nhận anh ta một cách nghiêm túc.
Dulcie quay lại bàn trang điểm để lấy cái khăn tay, rồi đứng im một lát và bặm môi dưới thật chặt. Khi nhìn vào gương cô đã nhìn thấy cả một thế giới thần tiên và bản thân mình, một nàng công chúa, mới tỉnh dậy từ một giấc ngủ dài. Cô đã quên rằng có một người đang theo dõi cô với đôi mắt nghiêm khắc, đẹp và buồn, người duy nhất để tán thành hay lên án những gì cô làm. Một người thẳng thắn, mảnh khảnh và cao lớn, với cái nhìn buồn có vẻ khiển trách trên khuôn mặt đẹp trai, nhưng u buồn. Đó là Tướng Kitchener, người đang nhìn chằm chằm vào cô với đôi mắt kỳ diệu từ bức ảnh đóng khung mạ vàng trên bàn trang điểm.
Dulcie xoay người như một búp bê tự động về phía bà chủ nhà.
“Nói với anh ấy là cháu không thể đi được,” cô nói một cách buồn bã. Bà cứ nói là cháu ốm hoặc đại loại như thế. Bà cứ bảo là cháu sẽ không đi đâu”.
Khi cửa đóng và khóa trái lại, Dulcie thả người xuống giường, làm dập cả cái mũ đen, rồi khóc nức nở đến mươi phút. Tướng Kitchener là người bạn duy nhất của cô. Ông ta rất lý tưởng đối với Dulcie và là một người hiệp sĩ dũng cảm. Trông ông ta như có một nỗi niềm đau khổ huyền bí và bộ ria mép đẹp tuyệt vời của ông ta như một giấc mơ, nên cô hơi sợ ánh mắt nghiêm nghị nhưng dịu dàng đó trong con mắt của ông ta. Cô vẫn thường có những tưởng tượng là đôi lúc ông ấy vẫn ghé thăm nhà và hỏi về cô, gươm va vào đôi ủng cao cổ nghe lanh canh. Có lần cô mở cửa sổ và nhìn ra ngoài đường thấy có một cậu bé đang lấy một cái xích cọ vào cột đèn. Nhưng cũng chẳng có ích gì. Cô biết Tướng Kitchener đang đi xa, đến tận nước Nhật Bản, dẫn đầu đoàn quân chống lại quân Thổ Nhĩ Kỳ tàn bạo; và ông ấy sẽ không bao giờ bước ra khỏi cái khung ảnh mạ vàng đến với cô. Nhưng chỉ cần một cái nhìn từ ông ta là đã đánh bại được Piggy vào đêm hôm đó. Đúng, cho đêm hôm đó.
Khóc xong, Dulcie đứng dậy và cởi bỏ chiếc váy đẹp nhất ra, và mặc lại bộ kimono cũ màu xanh lam của cô. Cô chẳng muốn ăn tối nữa. Cô ngồi ngâm nga hai câu thơ của ‘Sammy’. Rồi thấy vô cùng thích thú nốt rùi đỏ bé tí ở bên cạnh mũi. Sau khi chăm chút cái nốt đó, cô kéo ghế đến cạnh chiếc bàn ộp ẹp và lấy bộ bài ra đoán vận may.
“Thật là một điều đáng sợ, vớ vẩn!” Cô nói to “Mình sẽ không bao giờ nói một lời nào với anh ta hoặc nhìn để anh ta phải phân vân về việc đó!”
VvĐến chín giờ Dulcie lấy một hộp bánh quy giòn và một hộp con mứt phúc bồn tử từ trong tủ ra và ăn thật ngon lành. Cô phết một ít mứt lên bánh và mời ông tướng Kitchener; nhưng ông ấy chỉ nhìn cô như tượng Nhân Sư nhìn vào con bướm bay nếu như ở sa mạc mà có bướm.
“Nếu ông không thích thì đừng có ăn,” cô Dulcie nói, “Và đừng có vênh váo mặt lên như thế và mắt ông cứ như trách mắng ai ấy. Tôi tự hỏi liệu ông còn có thật trịch thượng và thô lỗ khi mà ông phải sống bằng sáu đô la một tuần hay không”.
Dulcie mà vô lễ với Tướng Kitchener như vậy là một dấu hiệu không hay ho gì. Sau đó cô úp mặt hình của Benvenuto Cellini xuống với một cử chỉ nghiêm túc. Điều này không phải là không thể tha thứ được vì cô luôn nghĩ ông ta là Vua Henry Đệ Bát và cô không ưa gì ông vua này.
Đến chín giờ rưỡi, Dulcie xem lại lần cuối những bức ảnh đặt trên bàn trang điểm, rồi tắt đèn và bò vào giường ngủ. Đi ngủ mà lại chúc ngủ ngon vị tướng Kitchener, William Muldoon, nữ công tước vùng Marlborough và Benvenuto Cellini thì thật là không nên.
Câu chuyện này thật ra chẳng hoàn toàn thành công được. Phần cuối sẽ tiếp diễn sau, khi mà anh chàng Piggy lại mời Dulcie đi ăn tối với mình vào lúc mà cô cảm thấy cô đơn như thường lệ và Tướng Kitchener tình cờ lại nhìn đi chỗ khác và rồi thì…
Như tôi nói ở trên, tôi đã nằm mơ thấy mình đứng gần một đám đông gồm toàn những thiên thần trông thật thịnh đạt và một viên cảnh sát tóm lấy cánh của tôi và hỏi tôi có thuộc cùng loại với những thiên thần đó không.
“Họ là ai?”. Tôi hỏi.
“Hừm,” họ là những người đi thuê các cô gái và trả cho họ từ năm đến sáu đô la một tuần để sống. Thế anh có phải là một người trong bọn không?” Viên cảnh sát hỏi.
“Không phải rồi. Tôi chỉ là anh chàng đã đốt trại trẻ mồ côi và giết chết một người mù để lấy vài đồng xu của ông ta thôi,” tôi trả lời.
Phan Thiện Trì chuyển ngữ
Sept.2021
--------------------------------
(1) | Tophet, theo Cựu kinh ước, là tên địa điểm trong thung lũng ngay phía tây nam thành phố Jerusalem, Trung Đông, là nơi có điện thờ thần Moloch, nơi mạng người vẫn được mang ra làm đồ tế lễ. |
(2) | Theo thần thoại Hy Lạp, Thần Morpheus là thần mộng. |
(3) | Piggy ý nói đến con lợn con. |
AN UNFINISHED STORY
O’ Henry
We no longer groan and heap ashes upon our heads when the flames of Tophet are mentioned. For, even the preachers have begun to tell us that God is radium, or ether or some scientific compound, and that the worst we wicked ones may expect is a chemical reaction. This is a pleasing hypothesis; but there lingers yet some of the old, goodly terror of orthodoxy.
There are but two subjects upon which one may discourse with a free imagination, and without the possibility of being controverted. You may talk of your dreams; and you may tell what you heard a parrot say. Both Morpheus and the bird are incompetent witnesses; and your listener dare not attack your recital. The baseless fabric of a vision, then, shall furnish my theme—chosen with apologies and regrets instead of the more limited field of pretty Polly's small talk.
I had a dream that was so far removed from the higher criticism that it had to do with the ancient, respectable, and lamented bar–of–judgment theory.
Gabriel had played his trump; and those of us who could not follow suit were arraigned for examination. I noticed at one side a gathering of professional bondsmen in solemn black and collars that buttoned behind; but it seemed there was some trouble about their real estate titles; and they did not appear to be getting any of us out.
A fly cop—an angel policeman—flew over to me and took me by the left wing. Near at hand was a group of very prosperous–looking spirits arraigned for judgment.
"Do you belong with that bunch?" the policeman asked.
"Who are they?" was my answer.
"Why," said he, "they are—"
But this irrelevant stuff is taking up space that the story should occupy.
Dulcie worked in a department store. She sold Hamburg edging, or stuffed peppers, or automobiles, or other little trinkets such as they keep in department stores. Of what she earned, Dulcie received six dollars per week. The remainder was credited to her and debited to somebody else's account in the ledger kept by G–––– Oh, primal energy, you say, Reverend Doctor—Well then, in the Ledger of Primal Energy.
During her first year in the store, Dulcie was paid five dollars per week. It would be instructive to know how she lived on that amount. Don't care? Very well; probably you are interested in larger amounts. Six dollars is a larger amount. I will tell you how she lived on six dollars per week.
One afternoon at six, when Dulcie was sticking her hat–pin within an eighth of an inch of her medulla oblongata, she said to her chum, Sadie—the girl that waits on you with her left side:
"Say, Sade, I made a date for dinner this evening with Piggy."
"You never did!" exclaimed Sadie admiringly. "Well, ain't you the lucky one? Piggy's an awful swell; and he always takes a girl to swell places. He took Blanche up to the Hoffman House one evening, where they have swell music, and you see a lot of swells. You'll have a swell time, Dulce."
Dulcie hurried homeward. Her eyes were shining, and her cheeks showed the delicate pink of life's—real life's—approaching dawn. It was Friday; and she had fifty cents left of her last week's wages.
The streets were filled with the rush–hour floods of people. The electric lights of Broadway were glowing—calling moths from miles, from leagues, from hundreds of leagues out of darkness around to come in and attend the singeing school. Men in accurate clothes, with faces like those carved on cherry stones by the old salts in sailors' homes, turned and stared at Dulcie as she sped, unheeding, past them. Manhattan, the night–blooming cereus, was beginning to unfold its dead–white, heavy–odoured petals.
Dulcie stopped in a store where goods were cheap and bought an imitation lace collar with her fifty cents. That money was to have been spent otherwise—fifteen cents for supper, ten cents for breakfast, ten cents for lunch. Another dime was to be added to her small store of savings; and five cents was to be squandered for licorice drops—the kind that made your cheek look like the toothache, and last as long. The licorice was an extravagance—almost a carouse—but what is life without pleasures?
Dulcie lived in a furnished room. There is this difference between a furnished room and a boarding–house. In a furnished room, other people do not know it when you go hungry.
Dulcie went up to her room—the third floor back in a West Side brownstone–front. She lit the gas. Scientists tell us that the diamond is the hardest substance known. Their mistake. Landladies know of a compound beside which the diamond is as putty. They pack it in the tips of gas–burners; and one may stand on a chair and dig at it in vain until one's fingers are pink and bruised. A hairpin will not remove it; therefore let us call it immovable.
So Dulcie lit the gas. In its one–fourth–candlepower glow we will observe the room.
Couch–bed, dresser, table, washstand, chair—of this much the landlady was guilty. The rest was Dulcie's. On the dresser were her treasures—a gilt china vase presented to her by Sadie, a calendar issued by a pickle works, a book on the divination of dreams, some rice powder in a glass dish, and a cluster of artificial cherries tied with a pink ribbon.
Against the wrinkly mirror stood pictures of General Kitchener, William Muldoon, the Duchess of Marlborough, and Benvenuto Cellini. Against one wall was a plaster of Paris plaque of an O'Callahan in a Roman helmet. Near it was a violent oleograph of a lemon–coloured child assaulting an inflammatory butterfly. This was Dulcie's final judgment in art; but it had never been upset. Her rest had never been disturbed by whispers of stolen copes; no critic had elevated his eyebrows at her infantile entomologist.
Piggy was to call for her at seven. While she swiftly makes ready, let us discreetly face the other way and gossip.
For the room, Dulcie paid two dollars per week. On week–days her breakfast cost ten cents; she made coffee and cooked an egg over the gaslight while she was dressing. On Sunday mornings she feasted royally on veal chops and pineapple fritters at "Billy's" restaurant, at a cost of twenty–five cents—and tipped the waitress ten cents. New York presents so many temptations for one to run into extravagance. She had her lunches in the department–store restaurant at a cost of sixty cents for the week; dinners were $1.05. The evening papers—show me a New Yorker going without his daily paper!—came to six cents; and two Sunday papers—one for the personal column and the other to read—were ten cents. The total amounts to $4.76. Now, one has to buy clothes, and—
I give it up. I hear of wonderful bargains in fabrics, and of miracles performed with needle and thread; but I am in doubt. I hold my pen poised in vain when I would add to Dulcie's life some of those joys that belong to woman by virtue of all the unwritten, sacred, natural, inactive ordinances of the equity of heaven. Twice she had been to Coney Island and had ridden the hobby–horses. 'Tis a weary thing to count your pleasures by summers instead of by hours.
Piggy needs but a word. When the girls named him, an undeserving stigma was cast upon the noble family of swine. The words–of–three–letters lesson in the old blue spelling book begins with Piggy's biography. He was fat; he had the soul of a rat, the habits of a bat, and the magnanimity of a cat . . . He wore expensive clothes; and was a connoisseur in starvation. He could look at a shop–girl and tell you to an hour how long it had been since she had eaten anything more nourishing than marshmallows and tea. He hung about the shopping districts, and prowled around in department stores with his invitations to dinner. Men who escort dogs upon the streets at the end of a string look down upon him. He is a type; I can dwell upon him no longer; my pen is not the kind intended for him; I am no carpenter.
At ten minutes to seven Dulcie was ready. She looked at herself in the wrinkly mirror. The reflection was satisfactory. The dark blue dress, fitting without a wrinkle, the hat with its jaunty black feather, the but–slightly–soiled gloves—all representing self–denial, even of food itself—were vastly becoming.
Dulcie forgot everything else for a moment except that she was beautiful, and that life was about to lift a corner of its mysterious veil for her to observe its wonders. No gentleman had ever asked her out before. Now she was going for a brief moment into the glitter and exalted show.
The girls said that Piggy was a "spender." There would be a grand dinner, and music, and splendidly dressed ladies to look at, and things to eat that strangely twisted the girls' jaws when they tried to tell about them. No doubt she would be asked out again. There was a blue pongee suit in a window that she knew—by saving twenty cents a week instead of ten, in—let's see—Oh, it would run into years! But there was a second–hand store in Seventh Avenue where—
Somebody knocked at the door. Dulcie opened it. The landlady stood there with a spurious smile, sniffing for cooking by stolen gas.
"A gentleman's downstairs to see you," she said. "Name is Mr. Wiggins."
By such epithet was Piggy known to unfortunate ones who had to take him seriously.
Dulcie turned to the dresser to get her handkerchief; and then she stopped still, and bit her underlip hard. While looking in her mirror she had seen fairyland and herself, a princess, just awakening from a long slumber. She had forgotten one that was watching her with sad, beautiful, stern eyes—the only one there was to approve or condemn what she did. Straight and slender and tall, with a look of sorrowful reproach on his handsome, melancholy face, General Kitchener fixed his wonderful eyes on her out of his gilt photograph frame on the dresser.
Dulcie turned like an automatic doll to the landlady.
"Tell him I can't go," she said dully. "Tell him I'm sick, or something. Tell him I'm not going out."
After the door was closed and locked, Dulcie fell upon her bed, crushing her black tip, and cried for ten minutes. General Kitchener was her only friend. He was Dulcie's ideal of a gallant knight. He looked as if he might have a secret sorrow, and his wonderful moustache was a dream, and she was a little afraid of that stern yet tender look in his eyes. She used to have little fancies that he would call at the house sometime, and ask for her, with his sword clanking against his high boots. Once, when a boy was rattling a piece of chain against a lamp–post she had opened the window and looked out. But there was no use. She knew that General Kitchener was away over in Japan, leading his army against the savage Turks; and he would never step out of his gilt frame for her. Yet one look from him had vanquished Piggy that night. Yes, for that night.
When her cry was over Dulcie got up and took off her best dress, and put on her old blue kimono. She wanted no dinner. She sang two verses of "Sammy." Then she became intensely interested in a little red speck on the side of her nose. And after that was attended to, she drew up a chair to the rickety table, and told her fortune with an old deck of cards.
"The horrid, impudent thing!" she said aloud. "And I never gave him a word or a look to make him think it!"
At nine o'clock Dulcie took a tin box of crackers and a little pot of raspberry jam out of her trunk, and had a feast. She offered General Kitchener some jam on a cracker; but he only looked at her as the sphinx would have looked at a butterfly—if there are butterflies in the desert.
"Don't eat it if you don't want to," said Dulcie. "And don't put on so many airs and scold so with your eyes. I wonder if you'd be so superior and snippy if you had to live on six dollars a week."
It was not a good sign for Dulcie to be rude to General Kitchener. And then she turned Benvenuto Cellini face downward with a severe gesture. But that was not inexcusable; for she had always thought he was Henry VIII, and she did not approve of him.
At half–past nine Dulcie took a last look at the pictures on the dresser, turned out the light, and skipped into bed. It's an awful thing to go to bed with a good–night look at General Kitchener, William Muldoon, the Duchess of Marlborough, and Benvenuto Cellini. This story really doesn't get anywhere at all. The rest of it comes later—sometime when Piggy asks Dulcie again to dine with him, and she is feeling lonelier than usual, and General Kitchener happens to be looking the other way; and then—
As I said before, I dreamed that I was standing near a crowd of prosperous–looking angels, and a policeman took me by the wing and asked if I belonged with them.
"Who are they?" I asked.
"Why," said he, "they are the men who hired working–girls, and paid 'em five or six dollars a week to live on. Are you one of the bunch?"
"Not on your immortality," said I. "I'm only the fellow that set fire to an orphan asylum, and murdered a blind man for his pennies."
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét