DSS33. THỊ TRẤN MA
Hafid Bouazza
Translated from Dutch into English by Ina Rilke
Translated from English into Vietnamese by Phan Thien Tri
Hafid Bouazza (1970) là nhà văn người Hà Lan gốc Maroc của những tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch, tiểu luận. Ông đã nhận giải thưởng E. du Perron cho tác phẩm đầu tiên Abdullah’s Feet (1996) của ông, đã được dịch sang tiếng Anh. Ông biên tập và chuyển dịch bộ sưu tập thi ca Ả rập. Những tác phẩm về sau bao gồm tiểu thuyết Paravion (2004) đã giúp ông đoạt giải Golden Owl. Lần xuất bản mới đây nhất là quyển tiểu thuyết Meriswin (2014).
“Sibawayh!”
Sự yên lặng đã thay đổi một cách khó chịu giống như một phụ nữ nhút nhát trong công ty nam giới.
Tôi gọi một lần nữa. Nó luôn diễn ra cùng một nghi thức, kể từ ngày anh ta đã hoán đổi chỗ của anh trên chiếc giường cũi của tôi để đổi lấy chuồng ngựa bên dưới. Sibawayh phản bội. Sự kiên nhẫn của tôi, sự chậm chạp đáng bực mình của anh ta.
“Sibawayh!”
Lần này tôi gõ , gõ, gõ cây gậy đi bộ (đầu gậy bịt bằng nút bạc) run run trên sàn nhà.
Yên lặng.
Một chút náo động, một tiếng ho, một tiếng kêu cót két trên cầu thang, và đột nhiên sự u ám của tôi tràn ngập mùi khó chịu, Sibawayh vênh váo đang chỉnh lại bộ quần áo mặc vội của anh. Thật lịch sự anh giúp tôi mặc áo choàng.
“Một mùi khó chịu … mùi gì khó chịu biết bao! …” tôi lầm bầm và tựa lên vai thấp của anh. Anh trượt đôi giày păng-túp kia vào bàn chân tôi và vuốt phẳng mũ trùm đầu của chiếc áo choàng của tôi. “Nào, bây giờ hãy ra và lên yên lừa,” tôi bảo anh ta.
Có một thời khi lừa và yên cương là vấn đề của sự quan tâm lớn đối với tôi. Giống như những người đàn ông cùng cấp bậc, tôi có xu hướng ưa chuộng động vật cái, tốt nhất là những con vật có lông lốm đốm, bóng mượt, có đôi tai nhọn, bờm và đuôi được tết lại, mông có kích cỡ như cái trống. Còn đối với bộ yên cương, tấm phủ lưng phải được thêu, hoặc ít nhất phải được giả vân với loại vải thưa dệt bằng sợi chỉ vàng. Những người ăn xin thấp hèn với đôi mắt ngấn nước, đôi bàn tay chụm lại thành hình cái chén, sẽ phải trố mắt nhìn vải lụa và chỉ vàng của yên ngựa và bàn đạp như trước những vẻ đẹp lộng lẫy của lời hứa thế gian.
Cả hai chân phải tựa bên hông trái, đu đưa nhè nhẹ từ đầu gối, áo choàng được sắp xếp sao cho các nếp gấp đều nhau, bàn chân mang giày nhung. Đó là nghệ thuật để làm ảnh hưởng đến sự buồn chán trong khi giữ dây cương giữa ngón cái và ngón út cong là cả một nghệ thuật, không chỉ để điều khiển việc lên ngựa của ta một cách tinh tế mà còn (khi được tháp tùng bởi hai người hầu) để giữ cho mắt nhìn về phía trước, qua dáng đi cao ngạo của kẻ nô lệ đang cầm dây cương, và không bao giờ cho phép những suy nghĩ viễn vông của tính kiêu căng thu hút cái nhìn của mọi người vào người cầm lọng che nắng đi một bên.
Nhưng lúc này là ban đêm và vì những lý do khác nhau tôi chỉ thăm viếng người thầy thuốc của tôi sau lúc mặt trời lặn. Sibawayh trở lại chuồng ngựa. Tôi đứng trong phòng và chờ, một cụ già run run. Những ký ức không thể đoán trước được, ngoại trừ những lúc bơ vơ đáng thương tiếc. Một cụ già, sống qua hai thế kỷ, với hai hàm teo tóp không còn một chiếc răng, thì lúc nào cũng bơ vơ và đáng thương.
Sự ủ rũ thời trẻ của Sibawayh, như hoàn toàn được dự đoán, đã trở nên tồi tệ hơn qua nhiều năm. Thế nhưng cuộc đời (và giờ đây bánh xe ký ức đã quay trở lại) đã nâng niu cái lưng hõm, bụng tròn, mắt chớp, nửa thân hình trần trụi của một cậu bé.
Từ phía xa của bóng tối tù túng chật chội, (Sabawayh đã chửi thề khi anh ta đi loạng choạng xuống cầu thang) một tia nắng nghiêng nghiêng của ký ức loé sáng trong con mắt của tâm hồn tôi: một tia nắng chói chang tán sắc và những màu sắc rực rỡ, uốn khúc nhiều tầng, xôn xao, nhăn nhó vì nắng tàn khốc. Chợ bán nô lệ: đầu trần, nướng dưới ánh nắng như thiêu đốt, khăn đóng sinh động, lọng che, bóng tối đồi truỵ. Bên kia chợ nô lệ đứng sừng sững một đền thờ hồi giáo nhuốm màu xanh da trời đẹp tuyệt vời. Ngôi đền quay lại phía chúng tôi một cách không thể giải thích được. Những người nô lệ, cả nam lẫn nữ, đang đứng chào hàng dọc theo một hành lang dài, chạy các gam màu từ vàng nhạt và sáng chói đến màu đen lấp lánh; các núm vú ấm, vùng bụng mát mẻ. Và ở đó anh ta đứng, sững sờ, lông mày đan vào nhau chống lại ánh sáng chói loá, một chút buồn bã của đứa trẻ mồ côi quanh khoé miệng, khoanh tay sau lưng,(lông mày biến dạng), hai bả vai nhô lên. Đó chính là Sibawayh đang đứng, phơi bày một cách trần trụi, ngoan ngoãn tuân theo bàn tay của người môi giới làm chói tai đang khấn cầu sự giúp đỡ của mặt trời trong việc phơi bày tình trạng sức khoẻ của cậu thanh niên Sibawayh cao bốn foot: hàm răng không hoàn hảo, mọng mắt nhỏ gây thích thú, một lời hứa (không được giữ) của sự phát triển cơ bắp trên đôi cánh tay mơn mởn.
Ngồi cao trên lưng lừa, tôi nhìn qua đám đông, người cầm lọng che đứng cạnh tôi, tôi đã ngã, xin lỗi, gần như tới mặt đất. Bỗng chiếc áo thụng trắng sáng chói quý giá của tôi đã khiến tôi trở nên rẻ rúng và không còn thích hợp một cách vô vọng. Bằng một điều kỳ diệu nào đó tôi đã xoay sở để kết thúc một giao dịch mà không cần quá vội vàng. Quá xúc động, tôi giật mạnh dây cương và rời khỏi chợ nô lệ. Một người hầu cận của tôi theo sau cùng với Sibawayh.
Và kể từ ngày đó, cái ngày mà (bao tiền bên hông phải của tôi nhẹ đi, các bộ phận sinh dục nặng oằn với sự hứa hẹn phong phú của trạng thái đê mê). Trước tiên tôi dẫn Sibawayh về chỗ ở của tôi, nơi đây tôi đã tắm gội anh ta (lớp da ngâm ánh nắng của anh ấm như cát) và rồi dẫn anh ta, trần truồng như nhộng, ngoại trừ tấm bọc bằng vải mousseline mịn, thơm mùi vườn táo, đến căn phòng mát mẻ của tôi kể từ hôm đó, anh ta không là bất cứ thứ gì ngoại trừ đôi khuỷu tay còi cọc, khó uốn nắn. Cơ thể anh trở nên chậm chạp hơn những chỗ đau trên da thịt tôi. Giữa những tấm màn cửa được chạy hoa văn cảnh săn bắn, được trải qua sau nổ lực của tôi cho một thần Vệ Nữ đáng xấu hổ, con dê mập mạp của bộ phận sinh dục của tôi lè ra trên bụng tôi, bẩn thỉu, nồng nặc mùi hôi thối của Sibawayh. Chống lên khuỷu tay được tẩy trắng của mình, anh ta nằm lặng lẽ khóc. Gáy của anh nhíu lại và một cái rãnh giữa hai bả vai nhô lên. Khe đồi nhỏ của anh bị vấy máu – và con dê lại tiếp tục gặm cỏ.
Căn hộ rộng rãi được bài trí trang nhã của tôi, từ nhà bếp ướt át đến cánh cổng có mái hiên, khiến anh ta vui vẻ và thoải mái. Bức tranh lem nhem của ánh sáng và bóng râm mát đã vui chơi thoải mái với anh khi anh chạy nhảy xung quanh sân trong suốt giấc ngủ trưa của tôi (thời gian duy nhất anh ta được phép rời khỏi tôi). Hiếm khi anh lướt cái nhìn đầy âu lo và tò mò vào chỗ chuồng ngựa vẩn bụi màu vàng. Anh ta không bao giờ dùng dầu gội mà tôi đã tặng anh ta, và thường khóc khi buộc phải sử dụng nó. Chắc chắn anh ta vẫn còn cảm thấy những bình nguyên đá sỏi của quê hương dưới lòng bàn chân anh.
Trong tình trạng mù loà hiện nay, giai đoạn này của cuộc đời tôi là sân chơi của những hồi tưởng đầy nắng, một vùng ánh sáng của ký ức tham lam. Trong bóng tối tư riêng của tôi Sibawayh lẫn tránh tôi, như con chuột quá nhanh lẫn khỏi tôi để không kịp thấy. Anh ta tồn tại chỉ trong chừng mực mà anh ta thở, di chuyển qua lại và nói năng, mà việc này anh ngày càng ít làm hơn khi có sự hiện diện của tôi, và ngày càng nhiều hơn (trong cùng những động tác tương tự) ôi, ở trong chuồng ngựa, thế giới bên dưới đó, nơi anh đã khám phá lại tuổi trẻ của mình một cách muộn màng.
Tôi nghe anh ta nguyền rủa con lừa, tôi nghe anh ta lê bước qua lại, tôi nghe tiếng cửa mở rồi đóng. Tôi nghe tiếng xâu chìa khoá rơi xuống phiến đá lát sàn với tiếng keng lớn. Tôi nghe tiếng bước chân từng bước, từng bước lên cầu thang.
Tôi đưa tay cho anh ta nắm, dắt tôi đi, và tựa lên anh khi chúng tôi bước theo dãy hành lang để xuống cầu thang trần trụi, qua khỏi những căn phòng bỏ trống. Dọc theo dãy hành lang dài, băng qua sân không mái che, qua khỏi vòi phun nước đã lâu không còn hoạt động, tiến vào tiền sảnh và rồi bước xuống các bậc tam cấp để ra cổng chính: một tiến trình đầy thận trọng xuyên qua một ngôi nhà ảm đạm, một cách êm ả và hoàn hảo như trong lòng mẹ.
Ở cổng chính tôi nghe tiếng chuông rung leng keng trên yên con lừa già. Anh ta hướng chân tôi vào bàn đạp và nhấc bổng tôi lên yên cương một cách dễ dàng, sau đó tôi chuyển từ mông này sang mông kia với một sự thiếu duyên dáng đáng phàn nàn, trong khi vẫn giữ cả hai bàn chân trên sườn trái: một quả non của cuộc sống đã bị teo lại.
Ngôi nhà của thầy thuốc người Do Thái nổi tiếng của chúng tôi cách mấy đường phố về phía đông, bên kia đền thờ hồi giáo vĩ đại. Ông đã bắt tôi phải chịu đựng đủ các phương pháp điều trị khác nhau, tất cả đều vô dụng; thuốc muối và thuốc mỡ, sực mùi hoa oải hương mùa hè - ý thức thơ ca xảo quyệt của một thầy thuốc. Và trong suốt thời gian dài da tôi vẫn tiếp tục bộc phát dưới dạng các vết thương mưng mủ trong khi Sibawayh cảm thấy mượt mà hơn bao giờ hết khi tôi chạm đến. Tôi biết những gì anh ấy thường làm trên giường cứng ở chuồng ngựa; tôi biết anh ta đã dụ dỗ những thiếu nữ không đàng hoàng và con gái của những người ăn xin để ăn mừng sự thèm khát đã từ lâu ngủ yên trong anh. Mỗi lần như vậy là một nhát dao đâm vào vết thương tôi. Dửng dưng trước con tim đau nhói của tôi, anh tiếp tục đâm sâu vào tới cán.
Những ngày của sự theo đuổi quyền quý cao sang của tôi đã qua, niềm kiêu hãnh của tôi đã bị sóng cuốn đi trong màu tím mòn xơ cả chỉ. Kẻ ngốc đã đánh bại nhà vua, bài viết của tôi run rẩy. Tôi sống trong bóng tối di động, sự co bóp ruột bắt phải đi ngoài là nguyên nhân để lo lắng. Văn xuôi của tôi giống như những bóng ma của ký ức: những chiếc lục bình trống rỗng, những đoạn văn bị cắt xén trôi vô hồn trong một thị trấn ma, nơi mà ngay cả ngôn ngữ của tôi cũng chết lặng.
“Đến nhà thầy thuốc,” tôi nói.
Anh ta cầm cương và chúng tôi khởi hành với bước đi chậm rãi. Con lừa lắc đầu và làm bốc hơi trong một ngàn tiếng leng keng. Tôi sửa lại mép mũ trùm đầu, đặt bàn tay phải ngửa trên bắp vế và bắt chéo gót chân này qua mu bàn chân kia.
Một mối ác cảm không thể giải thích nổi dấy lên trong tôi. Bỗng con đường dốc xuống và bụng tôi cồn cào. Đây hẳn là con hẻm thường xuyên lui tới vào ban ngày của những người ăn xin được dắt đi bởi con cái họ. Linh hồn của họ được đặt trong một cái bát hoặc được che bởi lòng hai bàn tay chụm lại thành hình cái chén. Vài người trong số họ - không chân, không thấy, hay một số rối loạn khác – đã trải qua đêm chen chúc ở các ngưỡng cửa, và các nơi yên tĩnh. Một số khác, nữa, vẫn kiên trì, không ngủ, trong công việc của họ.
Chúng tôi qua khỏi cánh cửa sơn màu xanh lá cây sặc sỡ để báo hiệu tình trạng hành hương của cư dân, để kêu gọi những lời cầu phúc lâm râm của những người ăn xin. Chính người hành hương này mới đây đã chết một cách đáng hổ thẹn, để lại những đứa con trai đầy tội lỗi chăm sóc người mẹ già của chúng, người mà trước đó đã mất người chồng trước của bà, cũng là một người hành hương và sẽ sống sót dưới sự chăm sóc của hai con trai của bà nữa.
Đêm là một bài thơ thực sự về âm thanh, từ bước chân Sibawayh đến vó ngựa của tôi: một bài hát ru cho đến tiếng đập thình thịch trong những ngôi đền cũ của tôi. Ở phía bên phải của tôi vang lên tiếng kêu la xa xa của sự đánh thức của một con quỷ - sự nhại lại của thính giác. Có một cái hang trên núi Tawbad, nơi hổ trợ cho thị trấn, nơi có con suối ngủ yên và những con quái vật và các nhà tiên tri được sinh ra.
“Chút ít tiền, thưa ngài!”
Con đường bỗng thâu đạt một giọng nói và đôi bàn tay, và bắt đầu kéo áo choàng của tôi.
“Xin bố thí,” bàn tay nài nỉ, “cho già này chút ít tiền”.
Tôi bị làm khó chịu bởi những người ăn xin, đặc biệt là những người ăn xin mà quần áo rách rưới của họ làm sai lệch kỷ năng hùng biện của họ. Đây là một thi sĩ thực thụ ở đường phố, một bậc thầy nếu bạn muốn, của tài hùng biện ăn xin, người mà đã rút ruột với nguồn cảm hứng, đã hồi hộp đợi chờ một cách khát khao sự giàu sang có thể nghe được khi đi ngang qua. Người ấy cũng rất tuyệt vọng, và đeo bám đôi hài quý giá của tôi cho cuộc sống thân yêu. Cuộc xô đẩy không kéo dài quá lâu, Sibawayh đến cứu tôi và con ma trốn mất cùng với đôi giày păng-túp của tôi. Bây giờ cả hai chúng tôi đi chân trần, chúng tôi tiếp tục lên đường.
Đường phố hẹp dần và tôi nhận biết rằng chúng tôi đã bước vào Khu Do Thái. Các cổng vòm mọc đầy cây thường xuân rũ xuống, các tua tơ lay động như những bộ râu quai nón của các chú Do Thái râu ria. Một loạt các kích thích giác quan: từng dòng sâu bọ đang bay, mùi hôi thối của đống phân, tiếng kêu be be bất ngờ, tiếng vỗ cánh vù vù, tiếng kêu quát quát, tiếng chó sủa, và tiếng hú. Tiếng bước chân hối hả - một sự yêu đương lăng nhăng bị làm gián đoạn?
Chúng tôi sắp đi hết con đường. Khi tôi lê các đầu ngón tay dọc theo bức tường, những cánh cửa chìm vào vòng tay an toàn của những cánh tay cổ xưa của chúng một cách thận trọng. Cửa liền mở ra để tạo thành một hình vuông khiêm tốn. Bóng của chúng tôi đổ về phía bên kia.
Chúng tôi bước vào một con phố hơi thoai thoải. Đá sỏi khác, âm thanh khác, một ngã rẽ cuối cùng và chúng tôi thấy chính mình ở trong một quảng trường chính, nơi mà chợ nô lệ được nhóm họp giữa ban ngày trong sự tươi vui của ánh nắng ban trưa. Phía bên kia là một đền thờ Hồi giáo, từ đó một con hẻm phía đông bắc dẫn tới một nơi tối tăm của những xưởng thuộc da và những lò mổ. Ra khỏi quảng trường về hướng tây bắc là một đường phố vắng xa đường chính nơi những người biết rõ có thể định vị một nhà thổ nhỏ, có lối vào thấp lè tè với giống cây leo nhiều vô kể. Một cái thùng hứng nước mưa cạnh cửa ra vào đứng như canh gác, không nắp đậy, và đầy nếp nhăn.
Mỗi lần tôi nhúng tay vào nước trong thùng trước khi bước vào trong, tôi đều nở một nụ cười, tin chắc những đầu ngón tay của tôi đã đoán trước một trận mưa rào. Những người đàn ông lớn tuổi trong đền thờ Hồi giáo cũng đã kinh qua những động tác tương tự với một thúng chứa nước mưa khác.
Đây là một nhà thổ mà tôi đã nhiều lần thăm viếng trong một cuộc dạo chơi hững hờ, cắt sửa móng tay – lần nào cũng có Sibawayh trẻ tuổi tham gia. Ở đầu sân bên kia, một thùng đựng nước mưa khác cũng đứng gác trước một nhà xí thường xuyên được lui tới, tuy vậy vẫn còn có một thùng nước mưa khác ở trong góc. Chúng có vẻ được sử dụng thay cho chó giữ cửa. Ngay cả người chủ nhà thổ (mập mạp, vô nhiễm, một tràng hạt trong bàn tay kén cá chọn canh của ông); cũng có kích cỡ và vòng đo của một cái thùng đựng nước mưa.
Theo trí nhớ của tôi, hình ảnh của nhà thổ này lướt qua trong một lễ hội hoá trang bằng xe lăn tay: quần áo xốc xếch, cặp mông lóng lánh, bắp chân săn chắc. Mũi dãi tôi ươn ướt, cuống họng khô cháy, giọng bị khản tiếng, những cơn bộc phát nhịp nhàng trong bóng tối đong đưa. Căn phòng được trang trí bằng những tấm thảm mô tả một con hươu con đang nhìn người thợ săn qua vai nó, người thợ săn đứng xếp chân hình chiếc kéo, với dáng vẻ giới chủ giàu có thoải mái, trong khi đang nhắm mũi giáo của mình, và sau đó khuôn mặt của Sibawayh nhăn nhó vì đau đớn.
Tại sao tôi luôn nghĩ là trời đang mưa khi tôi được sống tách biệt trong những căn phòng thắp sáng lờ mờ đó? Thậm chí tôi còn tưởng tượng tôi có thể nghe tiếng của những giọt mưa tí tách – chỉ vì để bước ra ngoài dưới nắng vàng buổi chiều hay dưới bầu trời trong xanh.
Một ngày nọ, tôi dẫn Sibawayh đến một khu vườn cách xa thị trấn. Trên một dòng suối nhỏ trong bóng râm có ánh nắng anh ta ngắm nhìn một con vịt bị tàu nhỏ nhấp nhô đánh thức, và nó vùng vẫy làm tung toé nước và rơi lõm tõm một cách điên cuồng khiến anh sợ con vật tội nghiệp sắp bị chết đuối. Tôi vẫn có thể nhìn thấy trong mắt anh ta có những giọt lệ và những con chuồn chuồn, và mặt trời đã cắt những viên kim cương.
Xa hơn nữa, bên ngoài khu vườn, trong ánh nắng khủng khiếp, một người chăn cừu và đàn cừu của anh đã ngủ để tránh đi cái buổi trưa trắng bệch, nóng như thiêu như đốt.
Có phải đã nửa đêm với chúng tôi rồi không? Chúng tôi đã qua khỏi đền thờ Hồi Giáo và sau đó một lúc chúng tôi đã đến gần ngôi nhà cao to của người thầy thuốc. Đằng sau nó, hiện ra lờ mờ ngọn núi Tawbad đầy kinh sợ. Chính trên ngọn núi đó có một gã khùng lở láy như hủi, một nhà tiên tri tự xưng, đã tìm nơi ẩn náu khỏi thế gian – không có nhà tiên tri nào mà không có một ngọn núi. Công chúng thù địch ném đá như mưa vào ông, điều này đã khiến cho ông đặt một lời nguyền lên thị trấn trước khi bỏ đi, vỡ tan, và máu chảy đầm đìa. Người bạn đồng hành duy nhất của ông ta là một con lừa. Ông đã không trở lại kể từ khi – thăng thiên đầy khôi hài đó.
Chúng tôi dừng lại trước cửa nhà thầy thuốc. Mối ác cảm của tôi không giảm. Một cảm giác tẻ nhạt tràn ngập trong tôi. Không có gì để bị phân tâm – ký ức của tôi đã được nghỉ ngơi, nó đã được xài hết rồi. Nó có vấn đề gì không? Nỗi khổ đau của tôi là gì, và của Sibawayh - nhất là của Sibawayh? Có bất cứ thứ gì có thể ngăn tôi khỏi nghiền nát mọi thứ dưới chân và phải làm gì với nó? Và khi mọi thứ cuối cùng được nói và được làm thì chỉ là vấn đề của phẩm giá.
Và ngay lúc đó, không biết từ đâu, một cây gậy phát sáng với sự hăng say ác độc, đập thẳng vào cột sống dễ gãy vụn của tôi, và trong khi sự đau đớn vẫn còn đập rộn lên đầu tôi thì một cú đấm thứ hai, lần này nện vào vai tôi. Tôi khó mà có thời gian để nếm trải sự tê cứng ngất ngây mà cơn đau gây ra, vì cú đấm đến mạnh và nhanh, lúc này nhắm vào bên trái, rồi bên phải tôi một cách có phương pháp. Tất cả diễn ra quá nhanh, không có sự phân biệt giữa cơn đau ở chân tay. Sau cú đấm vào cổ tôi, chuyên gia đánh đập tiếp tục giáng cho những cú đấm quanh đầu. Cuối cùng tôi đã đầu hàng trước những cú đánh mạnh, đánh mạnh dồn dập không ngừng. Trong tích tắc không trọng lượng (ngã nhào ra phía sau yên ngựa), sự an toàn của mặt đất dường như mờ đi rất xa. Một quả bóng nặng như chì quay trong ruột tôi khi tôi nằm sấp trên mặt đất, cố gắng gọi Sibawayh, nhưng chiếc lưỡi cứng đờ của tôi không thể phun ra những lời nào khi nôn mửa.
Phan Thiện Trì chuyển ngữ
Sept, 2021
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét