SSA19. CĂN PHÒNG CÓ TRANG BỊ ĐỒ ĐẠC
O’ Henry
Một số người sống trong những ngôi nhà gạch đỏ của một quận thuộc phía Đông của thành phố luôn luôn chuyển dịch, mãi trôi giạt, lang bạt. Tuy vô gia cư, họ vẫn có hàng trăm chỗ ở. Họ chuyển từ phòng cho thuê này qua phòng khác (phòng nào cũng đủ tiện nghi nội thất, luôn luôn là khách trọ ngắn ngày, trong cảnh lang bạt rày đây mai đó, mãi quá độ về chỗ trú ngụ, quá độ về tâm hồn và tư tưởng. Họ ca bài ca "Tổ ấm gia đình" trong điệu dân ca Mỹ rộn ràng, họ hát mà không cảm nhận được ý nghĩa của nó. Họ cho mọi vật sở hữu của họ vào một chiếc rương nhỏ, đáng lẽ chỉ để đựng đồ linh tinh, họ không biết gì về vườn tược, đối với họ hoa lá chỉ là vật để trang trí quanh chiếc mũ rộng vành của phụ nữ.
Vì thế, những ngôi nhà của quận này, với hàng nghìn nhân khẩu, có hàng nghìn câu chuyện để kể, đương nhiên, phần lớn đều vô vị, nhưng sẽ thật là kỳ lạ nếu ta không cảm thấy tại một số căn nhà này những bóng ma của đám dân cư lang bạt này đã từng sống và chịu đựng mọi thứ trong đó hẳn vẫn còn tồn tại, mặc dầu cơ thể của họ đã không còn.
Một buổi tối, một chàng trai trẻ lượn vòng, bấm chuông những tòa nhà màu đỏ đổ nát này. Đến tòa nhà thứ mười hai, anh đặt túi hành lý trên bậc thềm, lau cái trán đã lấm đầy bụi. Sau đó anh bấm chuông. Cái chuông phát ra âm thanh khe khẽ và xa xôi như thể nó đang vang lên từ sâu thẩm trong lòng đất.
Một người phụ nữ, chủ nhân ngôi nhà đi ra cửa. Anh chàng trẻ tuổi nhìn bà. Anh liên tưởng đến một con vật bệnh hoạn nào đó, mập mạp, không màu sắc, không chân tay, chui lên từ một cái lỗ dưới mặt đất, khao khát một thứ gì đó để ăn, một khách trọ nào đó để có thể xơi được. Anh hỏi bà có phòng trống cho thuê hay không.
“Mời vào,” Bà trả lời, giọng nhẹ nhàng nhưng vì một lý do nào đó khiến anh không thích.
“Tôi có phòng phía sau, ở tầng ba. Cậu muốn xem không?”
Người thanh niên theo bà đi lên cầu thang. Một luồng ánh sáng nhợt nhạt không rõ phát ra từ đâu lắp bớt những khoảng tối trong các hành lang. Tấm thảm trải sàn nhà đã cũ kỹ và rách nát. Có mấy hốc lõm được đục trong tường, có lẽ để đặt các chậu hoa. Nếu điều này là đúng, cây kiểng được đặt trong đó đã chết từ lâu trước tối hôm nay, trong bầu không khí nặng nề không một thứ bông hoa nào có thể sống lâu trong đó. Có thể có những bức tượng của các vị thánh đã được đặt ở đấy, nhưng ta có thể suy luận dễ dàng là ma quỷ đã lôi họ qua bóng tối xuống những vực sâu có trang bị đồ đạc trần tục ở phía dưới.
Người phụ nữ nói giọng nhẹ, đặc sệt, “Phòng này đây. Phòng này tốt lắm. Ít khi trống. Mùa hè vừa rồi có người đứng đắn thuê - không gây rắc rối gì cả, lại còn trả tiền trước. Nước ở cuối hành lang. Sprowls và Mooney đã thuê ở đây ba tháng. Cậu biết họ chứ ? Họ là nghệ sĩ sân khấu. Vòi ga ở đây, có nhiều chỗ để treo quần áo, cậu thấy đấy. Ai cũng thích phòng này. Nếu cậu không thuê, sẽ có người khác thuê ngay”.
“Bà có nhiều nghệ sĩ sân khấu thuê phòng ở đây không?”
“Họ đến rồi đi. Giới sân khấu có thuê một số phòng ở đây. Đúng thế, đây là khu vực của thành phố nơi các nghệ sĩ sân khấu thường sống. Mấy diễn viên không bao giờ ở lâu một chỗ nào cả. Một số có thuê ở đây. Vâng, họ đến rồi đi”.
Anh thanh niên nhận thuê phòng, trả trước một tuần. Anh bảo anh cảm thấy mệt và muốn nhận phòng ngay. Anh đếm tiền. Bà chủ bảo phòng đã sẵn sàng, ngay cả khăn lau và nước đều sẵn sàng. Khi bà chuẩn bị ra ngoài, anh thanh niên hỏi câu hỏi anh đã có trên đầu môi cả nghìn lần:
“Có một cô gái trẻ - Cô Vashner, cô Eloise Vashner - bà có nhớ cô đã đến thuê ở đây không? Rất có thể cô hát trên sân khấu. Da trắng, tầm vóc trung bình, với tóc vàng kim đo đỏ và một bớt sẫm gần lông mày bên trái”.
“Không, tôi không nhớ tên. Giới sân khấu thay đổi tên liên tục cũng như họ thay đổi phòng. Họ đến rồi đi. Không, tôi không nhớ tên này”.
Không. Luôn luôn là không. Anh liên tục đặt câu hỏi này suốt năm tháng qua và câu trả lời luôn là không. Mỗi ngày anh bỏ ra rất nhiều thời gian để hỏi những người quen biết giới nghệ sĩ sân khấu xem liệu cô ta có đến hỏi xin việc làm với họ không. Ban đêm trà trộn trong số khán giả của các sân khấu từ những nhà hát đầy ngôi sao đến các phòng ca nhạc hạ cấp. Một số nơi tồi tệ đến nỗi anh sợ phải gặp cô ở đó. Thế nhưng anh vẫn đến, tràn đầy hy vọng.
Anh, người yêu cô nhất trần đời, đã cất công tìm kiếm cô. Anh chắc chắn là từ khi cô biến khỏi nhà, thành phố thênh thang, bao quanh toàn là nước như một hòn đảo này đã chứa chấp cô ta. Nhưng nó như là một vũng lầy khủng khiếp, luôn luôn xoáy động, không có nền chắc chắn, các vật thể nổi hôm nay, ngày mai sẽ bị lấp sâu xuống đáy.
Căn phòng đủ tiện nghi nội thất đón người khách mới nhất với sự ấm áp nhất định hay nó dường như được anh ta đón nhận một cách nhiệt tình. Có vẻ như chính nơi đây hứa hẹn rằng anh ta có thể yên nghỉ. Một chiếc giường, hai cái ghế dựa với những tấm bìa rách rưới. Giữa hai cửa sổ có một tấm gương soi mặt rộng khoảng mười hai inch. Có vài bức tranh trên tường.
Người khách trọ ngồi ngả người trên ghế, bất động, trong khi căn phòng cố gắng thuyết minh cho anh ta nghe về lịch sử cho thuê đa dạng của nó. Ngôn từ nó sử dụng nghe rất xa lạ, rất khó hiểu, như thể chúng là ngôn ngữ của những đất nước xa xôi nào.
Cái tấm thảm với nhiều màu sắc khác nhau, giống như một hòn đảo được thêu hoa ở giữa phòng. Bụi bám đầy trên nó. Trên bức tường có dán giấy màu tươi sáng. Một cái lò sưởi. Trên bức tường phía trên nó treo những tấm màn vải sáng màu. Có lẽ chúng được đặt ở đó để tăng thêm vẻ đẹp cho căn phòng. Chúng đã không làm được điều đó. Và những bức tranh trên tường là những bức tranh mà chàng trai trẻ đã từng thấy cả trăm lần trước đó trong những căn phòng được trang bị đồ đạc khác.
Đó đây chung quanh phòng là những vật nhỏ do những người sử dụng phòng trước đó đã bỏ quên lại. Có những bức tranh của các nghệ sĩ nhà hát, có mấy lọ để cắm hoa, nhưng chẳng có thứ gì có giá trị.
Lần lượt từng dấu hiệu nhỏ đã trở nên rõ ràng. Chúng chứng tỏ cho cậu thanh niên thấy đã từng có những người khác trước anh ở đó.
Cái khoảnh nhỏ trên tấm thảm trải sàn xơ xác trước cái bàn trang điểm bảo anh rằng những người phụ nữ dễ thương đã từng ở trong phòng này. Những dấu tay bé tí trên bức tường nói đến những cháu nhỏ tuổi cố lần mò tìm đường ra ánh nắng và không khí. Một vết bẩn lớn vương vãi trên tường khiến anh nghĩ đến một ai đó, nổi cơn thịnh nộ, đã ném một cái gì đó, có thể là một cái cốc hay chai vào tường. Trên mặt gương soi ai đó đã viết tên "Marie". Dường như lần lượt những khách trọ trong căn phòng đủ tiện nghi đã trút ra cơn giận dữ vì nó, và đã làm tất cả những gì họ có thể để phá phách nó - có lẽ không thể chịu nổi vẻ lạnh lùng hào nhoáng rẻ tiền của nó - và đem tất cả cuồng nhiệt ra phá phách vì chẳng có chút ấm áp nào trong phòng. Có nhiều vết cắt trên bàn ghế, nhiều lỗ hang trên tường. Bàn ghế tủ giường bị đẽo gọt và trầy trụa. Mỗi thanh gỗ sàn tạo một mảng riêng rẽ và kêu thét đau đớn như có ai dẫm lên. Có vẻ khó tin là những người có thời từng gọi căn phòng này là "nhà" lại cố ý gây ra bao đau thương như thế cho căn phòng. Đây là một sự thật khó tin. Nhưng chính có thể là bản năng do ý niệm về "nhà" bị lừa gạt - vốn đã tồn tại một cách đui mù sau cơn giận dữ đầy bất bình đối với cơn phẫn nộ của những người ở trọ. Nếu ta là chủ một túp lều, ta vẫn quét dọn, trang hoàng và giữ gìn nó.
Anh khách trẻ ở trọ, thu gọn người trong ghế, để những ý tưởng như thế lướt qua êm ái trong đầu anh, trong khi những âm thanh và những mùi hương - đều có đủ tiện nghi nội thất - lan tỏa vào căn phòng. Anh nghe trong một căn phòng tiếng khúc khích và chuỗi cười vang buông thả không kiềm chế, trong những phòng khác một giọng độc thoại trách mắng, tiếng xúc xắc lanh canh, tiếng ru con và một tiếng khóc sụt sùi, tầng trên là tiếng đàn banjo gẫy đầy nhiệt tình. Ở đâu đấy có những cánh cửa đóng sầm; cái thang máy kêu thét không ngừng, một con mèo rên rỉ thảm hại trên hàng rào sân sau. Và anh thở hơi thở của tòa nhà - hương vị ẩm lạnh hơn là một mùi - vị nồng nồng lạnh lẽo, mốc meo như thể từ những hố ngầm dưới đất pha trộn với hương sực nức của véc-ni và đồ gỗ mục nát đã lên nấm mốc.
Và thình lình, khi anh ngả người như thế, mùi hoa mignonette ngọt dịu tràn ngập căn phòng. Mùi hương dường như đến theo một cơn gió thoảng, với sự chắc chắn, thơm tho và khẳng định thành một hương vị khác có sự sống. Và người con trai thốt lên: "Gì thế, hở em yêu?" như thể là có tiếng gọi anh, rồi anh đứng bật dậy, nhìn chung quanh. Mùi hương nồng nàn bám lấy anh và bao quanh lấy anh. Anh dang cả hai tay ra đón nó, mọi tri giác của anh trong nhất thời đều bị hoang mang, trộn lẫn. Làm thế nào một mùi hương có thể gọi được anh? Chắc chắn, đấy phải là một linh hồn. Nhưng mà, có phải đấy là một âm thanh đã chạm đến anh, đã ve vuốt anh?
"Nàng đã ngụ ở phòng này", anh thốt lên và bật người ra để níu lấy một ít, vì anh biết anh có thể nhận ra cái gì đấy dù nhỏ nhặt nhất thuộc về nàng hay cái gì đấy nàng đã chạm tay đến. Mùi hương mignonette này, mùi hương nàng vẫn yêu thích và biến thành mùi của riêng nàng, đã từ đâu đến?
Căn phòng đã được dọn dẹp một cách cẩu thả. Vương vãi trên chiếc khăn mỏng dính đậy cái bàn phấn là khoảng nửa tá kim cài tóc - những người bạn thầm kín, khó phân biệt nhau của giới phụ nữ, thuộc phái yếu, với cảm hứng vô hạn và một thể ngôn ngữ không thể truyền thông được. Anh bỏ qua những món này, hiểu rõ chúng hoàn toàn thiếu khả năng chứng minh ai là ai. Khi lục lọi trong mấy ngăn kéo của cái bàn phấn, anh tìm thấy một khăn tay nhỏ bị vứt bỏ, nhàu nát. Anh áp nó vào mặt mình. Nó có mùi cây vòi voi nồng nặc xấc xược, anh ném nó xuống sàn nhà. Trong một ngăn kéo khác anh tìm ra vài cúc áo, một tờ chương trình nhà hát, một thẻ cầm đồ, hai mẩu kẹo đường, một lô cuốn sách nói về cách đoán mộng. Trong ngăn kéo cuối cùng là một kẹp tóc bằng vải sa-tanh đen, khiến anh dừng tay, vội bốc lấy nó, giữa băng giá lạnh và lửa nóng cháy. Nhưng cái kẹp tóc cũng chỉ là loại trang sức của nữ giới, khiêm tốn, thông thường và vô nhân cách, không nói lên được điều gì.
Và rồi anh lùng sục khắp phòng như con chó săn đánh hơi con mồi, lướt qua bức tường, bò trên hai chân và hai tay để xem xét từng góc kẹt của tâm trải sàn phập phồng sục sạo cái bệ lò sưởi và mấy cái bàn, màn cửa, màn treo, cái tủ nhỏ ở góc phòng, để tìm kiếm một dấu vết sinh động, dù anh không thể nhận ra là nàng đã ở bên anh, xung quanh anh, tựa vào anh, ở trong anh, bên trên anh, bám lấy anh, âu yếm với anh, gọi anh qua mọi cảm nhận tính tế hơn, đến nỗi ngay những giác quan đơn sơ nhất của anh cũng nhận được tiếng gọi. Một lần nữa, anh trả lời: "Vâng, em yêu!", và quay người, đôi mắt rừng rực, để nhìn vào khoảng không, vì lẽ anh không thể nhận ra bóng hình, màu sắc tình yêu và đôi vòng tay mở rộng trong mùi hương của hoa mignonette. Ôi, Chúa ơi! Mùi hương ấy đến từ đâu và từ bao giờ mùi hương có tiếng nói để kêu gọi? Thế là anh lần mò xung quanh.
Anh vùi mình trong các kẽ ngách và góc kẹt và tìm thấy nút chai và những điếu thuốc lá. Anh bóp chúng bẹp gí trong khinh rẻ. Nhưng có lúc anh tìm thấy trong một nếp gấp của tấm trải sàn nhà một điếu xì-gà đã hút dở và anh lấy chân chà nó với tiếng càu nhàu sắc lạnh. Anh sàng lọc cả căn phòng từ đầu này sang đầu kia. Anh tìm thấy những chứng tích lặt vặt đáng chán và hạ cấp của nhiều khách trọ lãng tử, trong khi không thấy dấu vết nào của một người có thể đã thuê phòng ở đây, người mà linh hồn dường như lảng vảng quanh đây.
Và rồi anh nghĩ đến bà chủ nhà. Anh chạy từ căn phòng bị ma ám xuống mấy bậc thang, đến một cánh cửa có khe nứt tỏa sáng ra ngoài. Bà chủ nhà ra mở cửa. Anh cố gắng trấn áp nỗi xúc động. Anh van nài:
“Bà có thể cho tôi biết, ai đã thuê căn phòng đó trước khi tôi đến?”
“Vâng,” thưa ông. “Tôi có thể cho ông biết lần nữa. Đấy là Sprowls và Mooney, như tôi đã nói. Tôi nói cô B' retta Sprowls trình diễn ở các nhà hát, nhưng thực ra là bà Mooney. Nhà của tôi nổi tiếng là đứng đắn. Giấy hôn thú, có đóng khung, treo vào cái đinh bên trên.
“Cô Sprowls là người như thế nào - ý tôi muốn nói về ngoại hình?”
“Sao cơ? Tóc đen, thưa ông, thấp người, tròn trĩnh, với khuôn mặt trông khôi hài. Họ đã đi ngày thứ ba tuần rồi”.
“Và trước họ, ai đã ở đấy?”
“Sao cơ? Đấy là một ông làm nghề khuân vác. Ông ta đi mà còn thiếu tiền thuê phòng một tuần. Trước ông là cô Crowder và đứa con của cô ấy, họ ở bốn tháng. Trước nữa là ông Doyle, tiền phòng do các đứa con trả. Ông thuê trong sáu tháng. Đấy là một năm nay, trước nữa thì tôi không nhớ”.
Anh cảm ơn bà và lủi thủi trở về phòng. Căn phòng đã chết. Hương thơm cho nó sự sống đã không còn nữa. Mùi hương hoa mignonette đã ra đi. Thay vào đấy là mùi cũ kỹ, nặng nề của đồ đạc lên mốc meo, của bầu không khí ngột ngạt như là trong kho hàng.
Hy vọng tàn rụi đã làm cạn kiệt mọi niềm tin của anh. Anh ngồi nhìn chăm chăm ngọn đèn ga vàng vọt. Rồi anh đi đến cái giường và xé tấm vải giường ra thành từng dải nhỏ. Dùng cái sống của một con dao, anh nhét từng dải vào từng khe hở của các cửa sổ và cánh cửa chính. Khi mọi chỗ đã được chèn chặt, anh tắt ngọn lửa, mở vòi ga hết mức, rồi lên nằm một cách thoải mái trên giường.
*
Đấy là đêm bà McCool cảm thấy thèm bia. Thế là bà đi lấy một lon đến ngồi bên bà Purdy, tại một góc cô tịch dưới tầng hầm nơi các bà chủ nhà tụ họp và nơi con sâu tham lam ít khi chết đói. Bà Purdy nói, qua một vòng tròn bọt bia li ti:
“Tối nay tôi đã cho thuê được căn phòng trên tầng ba. Một anh thanh niên đến thuê. Anh ta đi ngủ cách đây hai giờ rồi”.
Bà McCool nói với lòng thán phục:
“Thật à, bà Purdy? Bà tài lắm mới có thể cho thuê loại phòng như thế”.
Và McCool thì thầm, đầy vẻ bí ẩn, thêm câu hỏi:
“Thế bà có nói cho anh ta biết không?”
Bà Purdy nói, cổ họng càng như được lót thêm lông thú dày nhất, “Có phòng là phải trang bị để cho thuê. Tôi không nói cho anh ấy biết bà McCool ạ”.
“Bà nói đúng lắm, có cho thuê phòng thì những người như chúng ta mới sống được. Bà có đầu óc kinh doanh độc đáo lắm. Nhiều người có thể từ chối căn phòng đó nếu họ biết là đã có khách tự tử và nằm chết trên cái giường trong đấy”.
“Như bà nói, chúng ta phải lo kiếm sống”.
“Thật vậy bà ạ. Đúng một tuần trước tôi đã giúp bà trải lại tấm lót sàn. Một cô gái xinh xắn mảnh dẻ tự tử bằng ga thắp đèn - cái cô có khuôn mặt nhỏ nhắn đấy, bà Pủdy”.
Bà Purdy đồng tình nói nhưng pha chê bai:
“Cô ấy có thể được xem là đẹp,” như bà nói, “nếu không có cái bớt trên lông mày bên trái. Dùng thêm bia đi, bà McCool”.
Phan Thiện Trì chuyển ngữ
Oct, 2021
THE FURNISHED ROOM
By O’ Henry
ESTLESS, ALWAYS MOVING, FOREVER PASSING like time itself, are most of the people who live in these old red houses.
This is on New York’s West Side.
The people are homeless, yet they have a hundred homes. They go from furnished room to furnished room. They are transients, transients forever—transients in living place, transients in heart and mind. They sing the song, “Home, Sweet Home,” but they sing it without feeling what it means. They can carry everything they own in one small box. They know nothing of gardens. To them, flowers and leaves are some- thing to put on a woman’s hat.
The houses of this part of the city have had a thousand people living in them. Therefore each house should have a thousand stories to tell. Perhaps most of these stories would not be interesting. But it would be strange if you did not feel, in some of these houses, that you were among people you could not see. The spirits of some who had lived and suffered there must surely remain, though their bodies had gone.
One evening a young man appeared, going from one to another of these big old houses, ringing the doorbell. At the twelfth house, he put down the bag he carried. He cleaned the dust from his face. Then he touched the bell. It sounded far, far away, as if it were ringing deep underground.
The woman who owned the house came to the door. The young man looked at her. He thought that she was like some fat, colorless, legless thing that had come up from a hole in the ground, hungrily hop- ing for something, or someone, to eat.
He asked if there was a room that he could have for the night.
“Come in,” said the woman. Her voice was soft, but for some rea- son he did not like it. “I have the back room on the third floor. Do you wish to look at it?”
The young man followed her up. There was little light in the halls. He could not see where that light came from. The covering on the floor was old and ragged. There were places in the walls made, perhaps, to hold flowering plants. If this were true, the plants had died long before this evening. The air was bad; no flowers could have lived in it for long.
“This is the room,” said the woman in her soft, thick voice. “It’s a nice room. Someone is usually living in it. I had some very nice peo- ple in it last summer. I had no trouble with them. They paid on time. The water is at the end of the hall. Sprowls and Mooney had the room for three months. You know them? Theater people. The gas is here. You see there is plenty of space to hang your clothes. It’s a room every- one likes. If you don’t take it, someone else will take it soon.”
“Do you have many theater people living here?” asked the young man.
“They come and go. Many of my people work in the theater. Yes, sir, this is the part of the city where theater people live. They never stay long any place. They live in all the houses near here. They come and they go.”
The young man paid for the room for a week. He was going to stay there, he said, and rest. He counted out the money.. The room was all ready, she said. He would find everything that he needed. As she moved away he asked his question. He had asked it already a thousand times. It was always there, waiting to be asked again.
“A young girl—Eloise Vashner—do you remember her? Has she ever been in this house? She would be singing in the theater, probably. A girl of middle height, thin, with red-gold hair and a small dark spot on her face near her left eye.”
“No, I don’t remember the name. Theater people change names as often as they change their rooms. They come and they go. No, I don’t remember that one.”
No. Always no. He had asked his question for five months, and the answer was always no.
Every day he questioned men who knew theater people. Had she gone to them to ask for work?
Every evening he went to the theaters. He went to good theaters and to bad ones. Some were so bad that he was afraid to find her there. Yet he went to them, hoping.
He who had loved her best had tried to find her. She had sud- denly gone from her home. He was sure that this great city, this island, held her. But everything in the city was moving, restless. What was on top today, was lost at the bottom tomorrow.
The furnished room received the young man with a certain warmth. Or it seemed to receive him warmly. It seemed to promise that here he could rest. There was a bed and there were two chairs with ragged covers. Between the two windows there was a looking-glass about twelve inches wide. There were pictures on the walls.
The young man sat down in a chair, while the room tried to tell him its history. The words it used were strange, not easy to understand, as if they were words of many distant foreign countries.
There was a floor covering of many colors, like an island of flowers in the middle of the room. Dust lay all around it.
There was bright wall-paper on the wall. There was a fireplace. On the wall above it, some bright pieces of cloth were hanging. Perhaps they had been put there to add beauty to the room. This they did not do. And the pictures on the walls were pictures the young man had seen a hundred times before in other furnished rooms.
Here and there around the room were small objects forgotten by others who had used the room. There were pictures of theater people, something to hold flowers, but nothing valuable. One by one the little signs grew clear. They showed the young man the others who had lived there before him.
In front of the looking-glass there was a thin spot in the floor covering. That told him that women had been in the room. Small finger marks on the wall told of children, trying to feel their way to sun and air.
A larger spot on the wall made him think of someone, in anger, throwing something there.
Across the looking-glass, some person had written the name, “Marie.”
It seemed to him that those who had lived in the furnished room had been angry with it, and had done all they could to hurt it. Perhaps their anger had been caused by the room’s brightness and its coldness. For there was no true warmth in the room.
There were cuts and holes in the chairs and in the walls. The bed was half broken. The floor cried out as if in pain when it was walked on. People for a time had called this room “home,” and yet they had hurt it. This was a fact not easy to believe. But perhaps it was, strange- ly, a deep love of home that was the cause. The people who had lived in the room perhaps never knew what a real home was. But they knew that this room was not a home. Therefore their deep anger rose up and made them strike out.
The young man in the chair allowed these thoughts to move one by one, softly, through his mind.
At the same time, sounds and smells from other furnished rooms came into his room. He heard someone laughing, laughing in a man- ner that was neither happy nor pleasant. From other rooms he heard a woman talking too loudly; and he heard people playing games for money; and he heard a woman singing to a baby, and he heard some- one weeping. Above him there was music. Doors opened and closed. The trains outside rushed noisily past. Some animal cried out in the night outside.
And the young man felt the breath of the house. It had a smell that was more than bad; it seemed cold and sick and old and dying.
Then suddenly, as he rested there, the room was filled with the strong, sweet smell of a flower, small and white, named mignonette. The smell came so surely and so strongly that it almost seemed like a living person entering the room. And the man cried aloud: “What, dear?” as if he had been called.
He jumped up and turned around. The rich smell was near, and all around him. He opened his arms for it. For a moment he did not know where he was or what he was doing.
How could anyone be called by a smell? Surely it must have been a sound. But could a sound have touched him?
“She has been in this room,” he cried, and he began to seek some sign of her. He knew that if he found any small thing that had belonged to her, he would know that it was hers. If she had only touched it, he would know it. This smell of flowers that was all around him—she had loved it and had made it her own. Where did it come from?
The room had been carelessly cleaned. He found many small things that women had left. Something to hold their hair in place. Something to wear in the hair to make it more beautiful. A piece of cloth that smelled of another flower. A book. Nothing that had been hers.
And he began to walk around the room like a dog hunting a wild animal. He looked in corners. He got down on his hands and knees to look at the floor. He wanted something that he could see. He could not realize that she was there beside, around, against, within, above him, near to him, calling him.
Then once again he felt the call. Once again he answered loudly: “Yes, dear!” and turned, wild-eyed, to look at nothing. For he could not yet see the form and color and love and reaching arms that were there in the smell of white flowers. Oh, God! Where did the smell of flowers come from? Since when has a smell had a voice to call? So he won- dered, and went on seeking.
He found many small things, left by many who had used the room. But of her, who may have been there, whose spirit seemed to be there, he found no sign.
And then he thought of the owner. He ran from the room, with its smell of flowers, going down and to a door where he could see a light.
She came out. He tried to speak quietly. “Will you tell me,” he asked her, “who was in my room before I came here?”
“Yes, sir. I can tell you again. It was Sprowls and Mooney, as I said. It was really Mr. and Mrs. Mooney, but she used her own name. Theater people do that.”
“Tell me about Mrs. Mooney. What did she look like?” “Black-haired, short and fat. They left here a week ago.”
“And before they were here?”
“There was a gentleman. Not in the theater business. He didn’t
pay. Before him was Mrs. Crowder and her two children. They stayed four months. And before them was old Mr. Doyle. His sons paid for him. He had the room six months. That is a year, and further I do not remember.”
He thanked her and went slowly back to his room. The room was dead. The smell of flowers had made it alive, but the smell of flowers was gone. In its place was the smell of the house. His hope was gone. He sat looking at the yellow gaslight. Soon he walked to the bed and took the covers. He began to tear them into pieces. He pushed the pieces into every open space around windows and door. No air, now, would be able to enter the room. When all was as he wished it, he put out the burning gaslight. Then, in the dark, he started the gas again, and he lay down thankfully on the bed.
It was Mrs. McCool’s night to go and get them something cold to drink. So she went and came back, and sat with Mrs. Purdy in one of those rooms underground where the women who own these old houses meet and talk.
“I have a young man in my third floor back room this evening,” said Mrs. Purdy, taking a drink. “He went up to bed two hours ago.”
“Is that true, Mrs. Purdy?” said Mrs. McCool. It was easy to see that she thought this was a fine and surprising thing. “You always find some- one to take a room like that. I don’t know how you do it. Did you tell him about it?”
“Rooms,” said Mrs. Purdy, in her soft thick voice, “are furnished to be used by those that need them. I did not tell him, Mrs. McCool.” “You are right, Mrs. Purdy. It’s the money we get for the rooms that keeps us alive. You have the real feeling for business. There are many people who wouldn’t take a room like that if they knew. If you told them that someone had died in the bed, and died by their own hand, they wouldn’t enter the room.”
“As you say, we have our living to think of,” said Mrs. Purdy. “Yes, it is true. Only one week ago I helped you there in the third
floor back room. She was a pretty little girl. And to kill herself with the gas! She had a sweet little face, Mrs. Purdy.”
“She would have been called beautiful, as you say,” said Mrs. Purdy, “except for that dark spot she had growing by her left eye. Do fill up your glass again, Mrs. McCool.”
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét