Thứ Ba, 16 tháng 11, 2021

 DSS2. 2.        T H E.  O P E R A   G L A S S E S     /  De Binocle.    LOUIS COUPERUS

                         C H I Ế C   Ố N G   N H Ò M   X E M   K Ị C H. 

                                                                    English Translation by Paul Vincent

                                                                    Vietnamese Translation by Phan Thien Tri

 

Chính cách đây khoảng năm năm tại Dresden, vào một sáng sớm, một du khách trẻ tuổi, một nhà báo người Hà Lan gốc Châu Âu, một thanh niên tuấn tú, tính tình hơi nhút nhát một chút nhưng khí chất khá hoà nhã, mặc dầu mang trong người dòng máu nhiệt đới, đã mua vé cho đêm đại nhạc hội, một vé với chỗ ngồi ở hàng ghế đầu trên tầng bốn, để xem đêm biểu diễn vở nhạc kịch The Valkyrie. Vào thời điểm đó, tầng bốn là nơi những người nước ngoài, không kham nổi vé hạng sang cho ngày thứ Bảy cuối tuần. Thật vậy, ngay cả những ai có thể, thường thích tầng bốn hơn tầng ba, hoặc tầng hai, dầu bờ vực của thính đường rộng mở bung ra giữa tầng này với sân khấu. Thật là một ngày đẹp trời; công viên phủ đầy lá vàng rơi, một cảm giác dịu êm của niềm vui sống đang bềnh bồng trôi trên bầu trời thoáng đãng. Một du khách trẻ, trong nỗi cô đơn đượm vẻ u sầu, đang vui vẻ lang thang dạo bước quanh thành phố xinh đẹp, rảo bước vào viện bảo tàng, dùng bữa trưa trong căn nhà hóng mát đâu đó bên bờ sông Elbe. Anh cảm thấy hân hoan trước cái viễn ảnh được xem vở The Valkyrie tối hôm đó, một ban nhạc kịch opera mà anh chưa từng xem, anh tự trách mình vì điều này, do đã quá yêu mến Wagner.

 

Đã mấy tiếng đồng hồ trôi qua mà anh chẳng nói chuyện với một người nào, ngoại trừ cô nhân viên phục vụ bàn và anh chàng tài xế xe điện. Anh đã uống một tách trà và một món thức ăn nhẹ. Vì buổi đại nhạc hội bắt đầu rất sớm nên anh  biết sẽ không có thời gian để dùng bữa tối. Và rồi, với bản tính dễ thoả mãn và vui vẻ nhẹ nhàng, lặng lẽ, anh từ từ rảo bước – còn quá nhiều thì giờ - tới nhà Hát Kịch Ô-pê-ra. Một ít cửa hiệu ở đường Prager-strasse sắp đóng cửa cho một ngày, và vừa khi anh thấy một người bán mắt kính đang chỉ chỏ một nhân viên bán hàng kéo sập cánh cửa chớp đằng trước tủ kiếng bày hàng thì anh chợt nhớ là mình không có ống nhòm xem kịch. Ý tưởng này xảy ra trong chớp nhoáng  vì rằng tầng bốn, nơi anh thường ngồi, tận đằng sau, là một khoảng cách khá xa từ sân khấu, và vì nếu có ống nhòm sẽ rất thuận tiện. Anh cũng nghĩ rằng hôm nay mình cũng chưa chi tiêu gì nhiều, và chỗ ngồi cũng chỉ với giá ba đồng marks , và lúc này mắt anh bỗng tình cờ bắt gặp mắt của người bán mắt kính đang chào đón khách hàng, ông ta vẫy tay, như thể từ một nguồn cảm hứng nào đó khiến ông ta vội vã bước ra mời, trong khi anh còn ngoài vỉa hè.

“ Có phải sắp đóng cửa không ? Tôi có còn đủ thời gian để mua một chiếc ống nhòm xem kịch không nhỉ ?”

Người bán mắt kính gầy, dong dỏng cao, toe toét cười một cách vui vẻ, gật đầu, ra hiệu cho anh bước vào một cửa hiệu đã phủ bóng tối hơn một nửa. Và vừa khi vị du khách này đã bước vào bên trong thì anh chợt loé lên trong tâm trí một ý nghĩ rằng mình đã sai lầm, và sẽ tốt hơn nếu được khuyên nên rời khỏi cửa hàng, khi nhìn thấy bản mặt khó chịu của người chủ cửa hàng. Nhưng ý nghĩ đã  đến quá nhanh, vô duyên cớ và mơ hồ đến nỗi nó đã không xâm nhập vào ý thức hợp lý lẽ của anh. Vì vậy du khách trẻ tuổi này đã đứng lại và tiếp tục: “ Tôi muốn mua một ống nhòm xem kịch, loại thường, không quá đắt tiền.”  Người bán mắt kính đưa anh ta xem một vài cái và, qua cách tán dương, chỉ cho anh ta tên tuổi của những nhà sản xuất ra chúng.

Vị du khách trẻ tuổi rụt rè nói: “ Cái này quá nhỏ và mảnh khảnh đối với tôi, tôi muốn một cái cỡ lớn lớn, với hiệu ứng xem người, cảm thấy một cách vô thức là anh ta đang tạo một ấn tượng hạ cố và thân thiện quá mức mà điều này quá lớn đối với anh ta.

“ Vậy thì hãy lấy cái này đi,” người chủ cửa hàng thúc giục.

“ Đây là chiếc ống nhòm cỡ lớn để xem đua xe,” du khách trẻ tuổi cười.”Nó khá nặng nữa …” 

Anh ta nhìn xuyên qua ống nhòm một lúc, vặn nút bấm cho đến khi ống kính hội tụ. Anh có thể quan sát rất rõ đường phố.

“Dầu hơi lớn nhưng tôi rất thích cái này,” du khách trẻ tuổi nói. “Giá bao nhiêu vậy ?”

Giá tiền đưa ra quá sốc. Nếu mua chiếc ống nhòm xem kịch, sẽ là một ngày quá tốn kém. Nhưng chiếc ống nhòm này hội tụ cảnh đường phố rõ biết bao !

“Được rồi,” du khách nói, “Tôi lấy cái này.”

Anh trả tiền và rời khỏi tiệm với chiếc ống nhòm xem kịch trong hộp. Bây giờ, anh phải nhanh chân hơn. Bỗng nhiên anh nhớ lại cái khuôn mặt nhỏ nhắn giống như chim của người bán mắt kính thực sự không mấy vui vẻ. Nhưng anh liền gạt bỏ mối ác cảm điên rồ ấy; anh thường xuyên có mối ác cảm và nỗi cảm thông lạ lùng ấy, chúng thường gây phiền toái trong cuộc sống hằng ngày của anh.

 

Lúc này anh rảo bước nhanh hơn. Kia là nhà Hát Kịch Ô-pê-ra, nơi nhiều bóng đen của những người đi xem hát đã lũ lượt đổ về nhà hát qua quãng trường đêm để vào các lối vào rộng lớn được thắp sáng choang. Một chút nôn nóng dầu biết rằng mình chưa bị trễ, anh hối hả bước nhanh lên các bậc thang, trong khi những người khác đang chật vật tìm chỗ ngồi ở hàng ghế trước. Anh ngồi xuống, hân hoan mong đợi được thưởng thức âm nhạc. Anh tháo ống nhòm ra khỏi hộp, đặt lên thành lang cang trước mặt, với hai ống kính mở toang. Kế bên anh, bên trái, bên phải, đằng sau anh, ai nấy đều nhanh chóng ổn định chỗ ngồi. Tầng bốn đang lấp đầy như thường lệ. Các tầng bên dưới và dãy ghế trên cùng gần sân khấu cũng đã được lắp đầy.

Bất thình lình người trẻ tuổi ấy bỗng thấy chiếc ống nhòm có thể rơi xuống khỏi thành lang cang của nhà hát, được thắp sáng lờ mờ bất cứ lúc nào, nên anh lấy nó đặt lên hai đầu gối. Buổi trình diễn bắt đầu, mọi sự tập trung chú ý một cách say mê đều dồn cho Wagner. Cả nhà hát lớn, đầy ắp người, ngoài những đợt âm nhạc inh tai, khó mà có bất cứ âm thanh hay động tác, tiếng ho nào khác, trừ chiếc ống nhòm đang cầm trên tay.

 

Du khách trẻ cũng chỉa ống nhòm thẳng vào Seigmund, ca sĩ có giọng hát làm rung động trong anh một niềm vui sướng, để đưa ông ta lại gần với anh hơn. 

Bỗng trong niềm vui sướng đê mê áy, một luồng sáng loé lên trong anh rằng, cả nhà hát, được nhìn từ bên trên, đang nằm trên bờ vực thẳm, và rằng chiếc ống nhòm trên tay anh bỗng trở nên quá nặng. Ngay lúc đó, từ khoảng xa, một tờ chương trình các tiết mục rơi xuống, bềnh bồng chao lượn, làm phân tâm anh, và bay phấp phới, rồi đậu lại trên đỉnh đầu của một thiếu phụ có mái tóc màu xám tro với kiểu tóc được sửa soạn kỹ. Nàng vói tay tóm lấy tờ chương trình như bắt một con chim. Ngồi kế bên thiếu phụ là một quí ông có cái đầu hói bóng lộn.

 

Nhưng Sieglinde lại làm say mê anh du khách trở lại. Cô thiếu nữ người Đức có mái tóc màu bạch kim khiến anh cảm thấy vui sướng đê mê, đánh bẩy linh hồn vốn dễ quy phục của anh vào sự quyến rủ của bài hát. Anh đã từng thấy cô nàng này thơ mộng một cách thống thiết với Siegmund trong túp lều tranh của Hunding. Chiếc ống nhòm trở nên nặng oằn trên đầu gối anh. Anh đặt nó lên thành lang cang trở lại, trên đó hai tròng ống nhòm hiện ra lù lù như hai toà tháp. Và tuy vậy nó vẫn đủ an toàn ở đó. 

Du khách trẻ ngã người về phía trước, trong mối quan tâm vui vẻ, để xem chính xác ai  đang ngồi bên dưới anh trong nhà hát. Và ai là người mà ống nhòm sẽ chỉa vào …, nên đậu lại. 

Thật là một sự hiếu kỳ tinh nghịch, dấy lên quanh khái niệm về một sự kiện gần như bất khả thi. Cho đến lúc này anh chưa từng nghĩ là chiếc ống nhòm sẽ rơi xuống, sẽ không bao giờ xảy ra như vậy đâu.

Anh không thể thấy rõ ai đang ngồi thẳng góc ngay bên dưới anh. Nhà hát quá tối. Nhưng rõ ràng vì bóng tối mà hình dáng của khán giả bị lu mờ. Một lần nữa, anh lại thấy rõ hơn về một  thiếu phụ dáng bồ câu xám được chú ý trước đó, người mà đã chộp lấy tờ chương trình phấp phới bay lúc nãy. Và ngồi cạnh cô ta …

 

Chiếc đầu hói bóng lộn của ông ta phát ra một thứ ánh sáng lập loè. Trong số hằng ngàn bóng người chăm chú say mê, ngồi san sát nhau, đầu của những thiếu phụ có kiểu tóc chăm chuốc kỹ, và đầu của các quí ông có trán hói, loé sáng lên một cái đầu hói bóng lộn. Chiếc đầu hói ở xa kia phát ra ánh sáng tròn trịa, giống như ánh trăng tròn đầy ám ảnh, bị chìm xuống giữa rừng người đen kịt: lưng người sau sát ngay sau đầu người trước, bất động với sự chăm chú. Nó phát ra thứ ánh sáng giống như một tiêu điểm, một mục tiêu, nó phát ra ánh sáng trắng, nó phát ra …

Du khách trẻ trở nên bực mình trước sự bị làm phân tâm một cách kỳ lạ, nó làm mất thì giờ của anh - và buộc anh phải hướng sự chú ý về phía Hunding. Anh vô cùng thích Liebeslied, một giọng nan cao xuất chúng, đang hát một cách dạt dào tình cảm và tràn đầy sắc xuân. Nhưng anh không thể quên được gã đầu hói bóng lộn bên dưới kia, và cũng không thể khiến chính anh không trông thấy gã nữa. Bằng cái nhìn lơ đãng, anh tiếp tục hướng chệch góc về phía chiếc đầu hói bóng lộn, có vẻ như đang phát sáng dưới ánh đèn mờ của nhà hát, lúc này trông giống hệt như một quả bóng billiard khổng lồ !

 

Một cơn nóng nảy và giận dữ với chính mình đang chạy khắp người anh. Cùng lúc ấy, anh chộp lấy chiếc ống nhòm với cảm giác hoảng loạn đột ngột như thể nó sắp rơi. Và rồi, chiếc ống nhòm không rơi, và đôi bàn tay của thanh niên trẻ tuổi nọ ghì chặt lấy nó một cách vững vàng hơn mức cần thiết… Và anh ta hướng ống nhòm thẳng về phía Siegmund và Sieglinde.

Thế rồi, thật như thể anh không còn kiểm soát nó nữa … Dường như một một mệnh lệnh cực mạnh buộc anh ta hất tung chiếc ống nhòm lên cao qua khỏi bờ vực của thành lang cang nhà hát, nhắm thẳng đến quả cầu bóng lộn đầy quyến rủ kia, quả bóng billiard khổng lồ kia, mục tiêu đang phát sáng bên dưới kia, một khoảng cách chừng ba phần tư giữa  chính anh và sân khấu…

Trong sự chuyển động mãnh liệt của sức chịu đựng, anh ta ném người ra phía sau … và đang run tay, anh chỉ cố xoay sở để đặt ống nhòm xuống … Sự nổ lực đó gần như quá vĩ đại với anh ta. Rồi hai cánh tay ép sát vào hai mạn sườn để khỏi chộp lấy ống nhòm, anh ném mạnh nó vào cái tiêu điểm hình tròn bóng lộn, đang phát sáng dưới kia.

Thiếu phụ ngồi kế bên đã ném một cái nhìn sang bên gã đàn ông ngồi cạnh. Gã phản ứng lại cử chỉ của bà như thể là động tác chở che của một người mẹ.

“Tôi hết sức xin lỗi,” gã nói lầm bầm, mặt tái xanh, điên tiết ghê lắm.” Tôi không cảm thấy khoẻ, tôi thực sự cảm thấy đang bị ốm. Nếu bà tha lỗi, tôi sẽ rời đi ngay.”

 

Màn một kết thúc. Gã đứng dậy, vẫn còn đang run rẫy, nhưng không một tiếng động, gã lặng lẽ lướt qua năm, sáu cặp chân của những người ngồi giữa chính gã và cuối hàng ghế.

“Ông bỏ quên chiếc ống nhòm, thưa ông!” Thiếu phụ trong chỗ ngồi kế bên thì thầm sau lưng ông.

“Được rồi, thưa bà. Tôi sẽ sớm trở lại, tôi hy vọng thế.”

Gã vấp lên mấy bậc tam cấp, vài tiếng xuỵt ‘Ss’ rít lên đầy giận dữ. Rồi màng sân khấu kéo lại, đèn trong nhà hát sáng lên. Có tiếng vỗ tay khen ngợi. Gã cố ý để lại chiếc ống nhòm lại đó, e sợ một số điều . Lúc này đang là quãng nghỉ giữa giờ. Anh lấy lại bình tĩnh. Thật điên rồ biết bao!  Trong nhà hát lúc này đã được thắp sáng choang, sự ám ảnh cách đây một lúc đã khiến anh ta như một kẻ điên rồ, một sự thôi thúc kỳ cục mà có lẽ không bao giờ anh chịu nhượng bộ ! Anh không phải là một thằng mất trí ! Ném ống nhòm của mình vào giữa nhà hát sao ?!

Thôi nào, anh cố xua cái ý nghĩ điên rồ ấy ra khỏi đầu óc bằng một chút sức mạnh của ý chí và sự nhận thức thông thường . Anh cảm thấy đói bụng, và muốn vào một quán rượu để dùng một ổ bánh mì tròn và một ly bia. Điều này sẽ khiến anh bình tĩnh lại sau việc làm phi lý vừa rồi.

Tuy nhiên, khi màn hai của vở kịch đã bắt đầu và ánh đèn trong nhà hát mờ dần, anh quả quyết rằng những gì đã trào dâng trong anh là một cơn chóng mặt, một lúc mê sảng gây nên bởi độ cao, những gì mà người Pháp gọi là vertige de l’abime … Mặc dầu anh không cảm thấy có trạng thái bị cưỡng bức để lao mình xuống. Có lẽ sẽ tốt hơn biết bao nếu không ngồi quá xa khỏi dãy ghế đầu, quá cao bên trên vực thẳm của thành lang cang nhà hát. Không, sẽ tốt hơn biết bao nếu anh ngồi ở dãy ghế đằng sau gần lối đi lên xuống. Dầu rằng nỗi ám ảnh là phi lý nhưng nó giữ chặt anh trở lại trong chỗ ngồi này và vì vậy làm phân tán sự chú tâm của anh vào việc thưởng thức âm nhạc.

 

Hắn dừng lại. Xa dưới kia, chỗ ngồi của hắn vẫn còn để trống và hai ống kính cao ngất của chiếc ống nhòm đen ngòm của anh ta nhô cao một cách ngạo nghễ và vô hại bên thành ghế rộng đằng trước chỗ ngồi còn trống của gã. Nhưng nếu anh đứng nhón gót lên một chút, anh có thể thấy cái đầu hói bóng lộn, đang phát sáng như một quả cầu. 

Anh nhún vai một cách bực bội, cố xua đi sự bực dọc đó  bằng tiếng “tút tút”, và hướng toàn bộ sự chú ý của anh vào tiếng thét đầy hân hoan của Bruunhilde, trên đỉnh cao nền nhạc rock nơi cô xuất hiện. Và đã trở nên trầm lặng hơn. Và rồi trở nên hết sức vui thích.

Nhạc tố hoạt bát kỳ diệu tràn ngập trong anh, và trạng thái khoái cảm thuần tuý của anh khôi phục lại hoàn toàn trạng thái thăng bằng trong anh.

 

Thế nhưng, khi đêm đại nhạc hội kết thúc, anh cương quyết sẽ không bao giờ ngồi  ở dãy ghế đầu của tầng bốn này nữa. Bằng mọi giá,  chẳng bao giờ nữa, với chiếc ống nhòm cỡ lớn trước mặt anh ta. Và cũng sẽ chẳng bao giờ anh mang chiếc ống nhòm xem kịch theo với anh nữa … vì trọng lượng của nó  tạo cảm giác khá lạ lẫm trong tay anh và vì cùng với ý nghĩa sâu xa khác, và vì cái mục tiêu bóng lộn chết tiệt dưới kia, chắc có lẽ đã kích hoạt nỗi ám ảnh điên rồ đó… để nó yên nằm ở đó … với cặp ống kính đen ngòm … trên thành ghế rộng … in rõ hình nổi bật giữa khoảng trống mênh mông của nhà hát, lúc này đang trống trơn bên dưới  và khắp các phía.

Anh hầu như đâm đầu chạy xuống các bậc cầu thang, sợ có ai đó sẽ gọi theo sau anh, rằng anh đã bỏ quên chiếc ống nhòm xem kịch.

 

Năm năm trời đã trôi qua, anh chưa bao giờ thành công trong sự nghiệp, anh đã lập gia đình. Anh đã có những chuyến đi ngắn ngày vào mùa hè và mùa đông cho công việc và cho các kỳ nghỉ phép. Anh chưa bao giờ trở lại Dresden, nhưng năm nay, tình cờ anh có mặt ở đó. Một sáng sớm mùa Thu, khi công viên phủ đầy lá vàng rơi. Tấm quảng cáo kịch ô-pê-ra loan báo một loạt những đêm biểu diễn theo chu kỳ vòng quanh các thành phố. Đêm đó, họ đang trình diễn vở kịch The Valkyrie. Anh nhớ lại đêm trình diễn tuyệt vời năm năm về trước. Ký ức về nỗi ám ảnh đã phai nhạt cho đến khi nó đã trở thành không gì khác hơn là một hoài niệm mơ hồ nhất về sự hoa mắt, cảm giác mất thăng bằng do từ trên cao nhìn xuống, rồi kể từ đó anh đôi lúc nhún vai, mỉm cười thầm kín về nó. Nhất định anh phải đến xem lại vở kịch The Valkyrie vào tối nay. Nhưng khi đến phòng vé, người ta bảo với anh là tất cả vé cho vở kịch đã bán hết.

Anh cảm thấy rất tiếc, rồi quay đi. Vừa lúc ấy, một người đến gần và bảo với cô bán vé rằng hắn ta muốn bán lại vé chỗ ngồi ở dãy ghế đầu, trên tầng bốn, cho buổi trình diễn tối hôm nay, vì không thể đến được.

Thanh niên trẻ tuổi ngày ấy liền hâm hở lấy chỗ ngồi đó, và tự hỏi nơi mà mình đã thấy khuôn mặt chim câu xám khó ưa trước kia ở đâu. Thôi rồi, lại chính là chỗ ngồi ở hàng ghế trước chót vót cao trên tầng bốn, nhưng anh không cảm thấy bị choáng và sẽ không tự cho phép mình bị ném vào một ý nghĩ xuẩn ngốc như thế nữa. Hãy đến đó, lần này ngay cả anh cũng không mang theo mình chiếc ống nhòm xem kịch. Anh không có nó, và anh cũng không mua chiếc nào khác.

Tối đó, anh đến rất trễ. Nhà hát đã tối om và đầy ắp; âm nhạc đã bắt đầu. Anh do dự vì sợ làm phiền những thính giả thuộc hàng ghế của anh, nhưng cô nhân viên chỉ chỗ ngồi trong rạp đã nghĩ anh có thể dễ dàng đến chỗ ngồi của anh chỉ qua khỏi bốn người. Vì vậy anh nhẹ nhàng lê bước qua khỏi các đầu gối của họ, miệng không ngớt thì thầm những lời xin lỗi, và ngồi xuống.

Rồi thì cô nhân viên chỉ chỗ ngồi tựa vào anh, giọng thì thầm, đưa anh ta một chiếc ống nhòm xem kịch cỡ lớn và hỏi: 

“Ông có muốn thuê chiếc ống nhòm xem kịch này không? Chỉ với giá tiền thuê là một mark.”

Anh nghĩ anh vừa phát hiện thấy một giọng nói đầy châm chọc, giật mình và nhìn chăm chăm vào chiếc ống nhòm cô ta đang chìa ra cho anh. Chính nó là chiếc ống nhòm của anh, từ năm năm trước, đã bị lãng quên ở đây, chẳng phải được tái chế cũng chưa từng được mang đến sở cảnh sát, và thường xuyên được cô nhân viên này cho mướn bất cứ khi nào có thể. Nó chính là chiếc ống nhòm của anh. Trước khi anh có thể đưa ra lời từ chối thì một bàn tay chộp lấy cái vật dụng một cách không thể chống đỡ kịp. Những giọng nói đầy giận dữ vang lên “Sh”, cô nhân viên vội vã rút lui, nói: ông ấy có thể trả tiền sau.

 

Việc gì đến đã đến, ngay giữa lúc cặp Siegmund và Sieglinde đang song ca, có ai đó, từ chót vót cao nơi hàng ghế đầu của tầng bốn, đang đau quằn quại và đang kêu thất thanh như thể sắp bị kiệt sức vì một cơn động kinh, như thể đang đánh nhau với một lực lượng nào đó mạnh mẽ hơn người ấy rất nhiều, và một bàn tay vung mạnh, xuyên qua khoảng không trong nhà hát, nơi khán giả bị giật thót người ra khỏi sự chăm chú đầy say mê, một vật nặng đang lao như cung lửa điện vào vực sâu.

 

Và thẳm sâu bên dưới, kế bên chỗ thiếu phụ bồ câu xám và quí ông đầu hói bóng lộn đã ngồi trước kia, một người khác, mặc dầu không phải mục tiêu bị nhắm tới, hay đối tượng bị chú ý, đã bị thương nghiêm trọng và đang gào thét trong cơn đau dữ dội như thể đã bị vỡ sọ. 

 

                                                                           English Translation by Paul Vincent

                                                                           Vietnamese Translation by Phan Thien Tri

                                                                                               April, 2021

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

MUA RAO  - Hwang sun Won (uo) https://gtvh51.blogspot.com/2024/10/rao-sun-won-han-quoc-ngay-khi-cau-be.html