DSS13. PHỤ NỮ THẮNG THẾ
F. B. Hotz
Translated from Dutch into English by David McKay
Translated from English into Vietnamese by Phan Thien Tri
F,B. Hotz (1922 - 2000) bắt đầu viết văn vào đầu thập kỷ 1950, khi ông đang chơi kèn trom-bon trong ban nhạc jazz. Khi ông gửi truyện ngắn The Tram Race của ông cho một tạp chí văn học, nó gây sự náo động: chưa bao giờ trước đó, chủ bút của toà báo đã đọc một tác phẩm đầu tay thành tựu đến như thế. Với lối văn trau chuốt, ông nhanh chóng trở thành một tác giả của nhiều truyện ngắn và một cuốn tiểu thuyết được yêu mến nhất. Hầu hết các truyện của ông được thiết lập vào thời kỳ suy thoái của thập kỷ 1930.
Mùa Thu của năm ’59 hoặc 60”.
Armand đang cầm tay lái, bảy người khác đang ngủ. Cơn mỏi mệt của anh đã lên tới đỉnh điểm nơi mà các ảo giác buộc anh phải luôn đặt bàn chân trên thắng xe. Sau sự thấy đầu tiên về cánh máy bay bị tách rời, rồi thấy chiếc tàu thuỷ cao chót vót đang cày xuống con đường tối đen như mực trước mặt anh ta, anh đưa xe vào lán đậu xe. “Quỷ tha ma bắt anh đang làm gì thế?” một người nào đó vừa nói và ngáp, nhưng Armand đã tự cho phép mình ngủ một giấc. Mái tóc quăng được phụ nữ ưa thích của anh ta sụp xuống vô lăng và anh trông có vẻ như chết.
Bây giờ mọi người đang ngủ say. Không có nhiều xe cộ lưu thông lúc 3 giờ sáng, có ít xe tải chạy ngang qua để không đánh thức mọi người. Những tiếng động duy nhất trong xe buýt là không khí ùa vào mũi, và thỉnh thoảng có tiếng chép môi có vẻ trẻ con. Người chỉ huy dàn nhạc, mang súng ngồi cạnh Armand, ngủ ngồi thẳng đơ, cứng nhắc như xác chết bị bắn xuyên qua trán. Một người trong đội kèn đồng ôm chặt thùng đàn vào ngực như mẹ ẵm con, và một nhạc công kèn đồng tựa đầu vào cuộn vải bạt, tay ôm quanh cổ chiếc kèn đồng, nhô ra phía sau chỗ ngồi của anh ta. Thỉnh thoảng tiếng gió lướt qua lưới cao su bọc quanh chiếc trống cái trên mui xe.
Giấc ngủ của những người công bằng – hay ít nhất là những người chính đáng. Những người đã trải qua một cuộc sống chân chính. Họ có tài và sử dụng tài năng để - và xứng đáng để - kiếm tiền đưa cho vợ con hay giao nộp cho bạn gái. Nhưng còn hơn thế, họ rất thích thú trong công việc của họ, mặc dầu chẳng ai trong số họ muốn biểu lộ ra ngoài.
Thật đã trở thành trào lưu đối với họ để phải khổ sở vì nghề nghiệp của mình, một cái nghề mà không gì khác hơn là đi lưu diễn khắp nơi, hoặc thậm chí được gọi đi diễn. Sự thu hút ban đầu khá êm dịu – “Làm thế quái nào mà tôi lại đi vào ngành nghề này chứ?” – và nhanh chóng trở nên tồi tệ hơn, nhưng luôn với nụ cười nửa miệng nói lên cảm nghĩ thực sự của họ. Thỉnh thoảng họ còn đùa cợt với sự chẳng ra gì của nghề họ; họ thường giả vờ ganh tị với người thợ làm bánh, với bác tài xế xe buýt, hay với nhân viên văn phòng, và buồn bã nói: “Giá mà tôi đã học một ngành mậu dịch nhỉ”. Thỉnh thoảng họ còn sử dụng câu nói này trên sân khấu nữa, khi họ phải trình diễn một cái gì đó có vẻ kinh hoảng – điệu nhảy nối đuôi đá chân, chẳng hạn.
Mọi khía cạnh việc làm của họ đều chất chứa niềm vui không được hoàn toàn thừa nhận đó. Những chuyến đi lưu diễn bằng xe buýt riêng của họ, những lúc giải lao ngồi uống cà phê theo nhóm dọc theo quán cóc bên đường là những điểm nhấn nổi bật không nói ra. Tất cả những gì họ từng nói là về gió và lạnh.
Họ trở về nơi yên lặng chết người trong căn nhà của họ trước lúc bình minh, chỉ để lên đường trở lại ít tiếng đồng hồ sau đó, vừa ngáp, vừa chửi thề, vừa ợ hơi.
Mùa Thu là mùa rất đẹp đối với các nhạc sĩ. Sổ ghi các buổi hẹn gần như kín mít. Họ ra đi giữa sáng sớm, khi một mặt trời tươi vui đang chiếu ánh nắng xuyên qua màn sương mờ đục.
Sáng hôm đó cũng không ngoại lệ; họ đến chỗ hẹn thường ngày, chào hỏi nhau như mọi khi đằng trước chiếc xe buýt hiệu Volkswagen , gật đầu chầm chậm và từ tốn trước các bà nanh ác, đã có mặt ở đó và lầm bầm những thứ như “ A ha, vậy là đã làm lành rồi à”. “Lạ thật, không phải bạn nữa”. Tất cả đã được dự định trước và được hiểu là ngôn ngữ bí truyền, sử dụng trong số bạn bè, không thể hiểu được giữa những người chung quanh.
Không ai ra đi làm với lòng nhẹ nhỏm như một nhạc sĩ, thường thì sau câu tranh cãi có tính cách đùa cợt về lộ trình. Vợ họ không cùng đi vì xe chỉ đủ chỗ cho ban nhạc và ông bầu. Do đó chẳng có những cặp mắt canh chừng, và một ngày, một đêm hoàn toàn tự do đủ để có thể làm cho người mù một chân có thể mỉm cười thoả mãn. Ngoài ra, họ cũng có thể nhường chỗ cho một cô bồ nhí xinh xinh xin đi quá giang dọc đường.
Họ cười đùa và bỡn cợt vui vẻ lúc lên xe sáng hôm đó. Một nghi lễ của những lễ nghi của họ, như thể muốn làm cho các vị thần bớt giận bằng cách kể đi kể lại cùng những câu tục ngữ cũ rích giống nhau. Chiếc trống cái, được buộc trên giá gác hành lý bằng dây cao su chằng chéo, đã bung ra lần thứ nhất như nó thường bị bung ra. “Này, tại sao các bạn lần nào cũng cười vậy?” nhạc công chơi trống hỏi “Ba hay bốn lần đầu rồi vậy, thật buồn cười, nhưng tới lúc này ắt hẳn đã lên tới sáu mươi lần đầu rồi chắc.” Anh ta thực sự đã không điên tiết, mặc dầu tất cả cái lắc đầu ảo não của anh; thực vậy, anh ta rất tự hào rằng nhạc cụ của mình là trung tâm của sự chú ý.
Sau khi tìm cái bơm dầu bị thất lạc dưới đường - họ đã bắt chước sự bò trườn, mò mẫm của các nhà sinh vật học trong lĩnh vực nghiên cứu thực vật, cho đến khi nó được tìm thấy bên dưới lòng xe buýt, với sự hân hoan giống trẻ nít, cuối cùng họ mới chịu khởi hành. Bị trễ mười phút, cho nên họ lái xe quá nhanh trên đường chính. Trong khi chờ phà qua sông IJ, Tom bị mê man vì những giọt dầu khuynh diệp cực mạnh. Nhạc công thổi kèn trôm-bon liền khạc những giọt dầu của mình ra và nói với sự sững sốt chân thật: “Cái thứ chết tiệt đó sẽ bắt môi tôi trả giá đó”. Những gã khác cười thầm. Chúng là những giọt dầu chống chỉ định vị trí môi lưỡi để thổi kèn đó, bạn tôi à”. Tom nói. “Nếu bạn có thể hút vào mồm liên tục những giọt dầu đó, và sau đó vẫn còn thổi kèn được, bạn biết bạn là một nhạc sĩ thực thụ rồi đó”.”Đừng vứt cái thứ khỉ gió đó xuống sàn xe, nó dính vào thảm đó,” người chỉ huy giàn nhạc gầm lên. Xe buýt là của ông ta. Tràng chửi rủa bằng giọng mũi này đã thôi thúc vài trò chế nhạo, vì khi người ta làm việc hay đi du lịch cùng nhau, họ thường phát triển nhu cầu cho nửa thù địch thông thường, và tiếp tục cách này một khoảng thời gian, bao trùm lên những lời nói giỡn chơi mang hơi hám của câu nói đùa nhạt nhẽo của họ, nhất là nếu họ có bất cứ thứ gì liên quan đến ngành nghề âm nhạc.
Sau một tiếng đồng hồ, nhóm bắt đầu trình diễn bài hát cà phê thông thường, giọng họ rung rung lanh lảnh hoà với tiếng rào rào của động cơ phía sau. Trưởng đoàn cảnh báo là họ không có nhiều thời gian.
Mặc dầu tất cả họ đều khoảng ba mươi tuổi, nhưng họ vẫn ngồi chống khuỷu tay trên thành xe buýt ca hát suốt đoạn đường dài như nhóm học sinh nam, và lao nhanh về phía nhà hàng trong trang trại đã được tân trang lại, đang treo cờ cola.
Bên trong nhà hàng, họ ngồi sụp xuống ghế xếp bằng gỗ một cách tự cao tự đại và ném những miếng lót cốc bằng các-tông vào nhau.
(“Này các quí ông!” trưởng đoàn quát lớn). Khi một cô thôn nữ mang cà phê đến, họ đang ăn nói ồn ào dâm đãng cho đến khi cô ta bắt đầu lau hơi nước tràn ra từ món uống của họ. Tất cả họ đều vui đùa, một loại đùa nghịch giống nhau mà họ có trong mỗi chuyến đi xa, nhưng sự khác biệt gì họ đã tạo ra lần này?”
Lại tiếp tục lên đường, họ giết chết thì giờ tại ngả tư đường chắn xe lửa bằng cách vỗ lên cửa sổ xe sát bên các cô gái đang đợi tàu qua và, một lần nữa, họ thu hút sự chú ý bằng cách tạo những khuôn mặt ngờ nghệch, nhăn nhúm – một sách lược đáng ngờ để thu hút những người xin đi quá giang. “ Nè! Dẹp đi,” trưởng đoàn than phiền. “ Nên nhớ là tên của chúng ta được viết trên xe đó.”
Người lãnh đạo ban nhạc, với cái đầu khá bự đầy ắp những âu lo, với chiếc mũi thẳng - mà đôi lúc ông ta vuốt một cách đầy ngờ vực như thể việc lưu diễn âm nhạc không phải là tất cả những gì ông mong đợi – đã nghĩ nhiều lần trong ngày, mình chăm lo các hợp đồng biểu diễn, mình lái xe chở đoàn, mình lo quảng cáo, lo sửa chữa nhạc cụ và lo việc tăng lương cho họ; và phải chăng mình nhận quá ít lời cảm ơn quí báu từ họ. Thấy đó, họ chẳng khác nào mấy đứa con nít, mong chờ được hầu hạ từ tay đến chân. Nhưng ông là người còn lại trong số họ, cũng giống như họ, càu nhàu là máu âm nhạc của ông, và ông không muốn tách khỏi họ như họ mong tách khỏi ông. Những dòng suy nghĩ lãng đãng về chuỗi sự việc khác nhau thường bị dập tắt nhanh chóng (mặc dầu thường xuyên bằng tiếng thở dài). “Hãy để mắt trên đường, Armand,” ông quát lớn “ Cậu đang làm cái quái gì thế, Armand? Chúng ta phải rẽ phải ở góc đường đó”. Ông hầu như để mắt đến mọi thứ.
Họ hành xử như những gã điên rồ vì họ cảm thấy mình ưu việt hơn mọi kẻ khác. Điều đó bao gồm các loại nghệ sĩ khác, những người mà đôi lúc họ khoan nhượng, nhưng có lúc họ chẳng coi ai ra gì. Tại một câu lạc bộ thuộc tầng lớp cao ở Armsterdam, một nhà thơ nổi tiếng trong chiếc áo khoác ngoài màu đen có lần đã phát biểu về họ, “Những gì quý vị diễn đạt bằng âm thanh cũng giống như những gì chúng tôi vẽ hay diễn đạt bằng ngôn từ”. Họ đã nghe điều đó một lần trước đó, và sự đáp lời duy nhất của họ là, “Ừ hữ.” (Họ chưa bao giờ đề cập chính họ như những nghệ sĩ, nhân đây, họ coi chính họ như là những nhạc sĩ nhạc ja”. Họ còn nghiêm khắc hơn Calvin (học thuyết của John Calvin: người ta được cứu rỗi là nhờ có đức tin vào Thiên Chúa) khi xuất hiện trước thiên mệnh; dù cho họ có diễn xuất ngây ngô như thế nào đi nữa thì sự cứu rỗi vẫn được đảm bảo nhờ ở nghệ thuật và tài năng trong việc trình diễn âm nhạc của họ. “Nếu tôi tình cờ cảm thấy mình đang nằm xuống với quần áo đầy đủ trong một bồn tắm đầy nước,” Armand có lần nói, “tôi vẫn còn là Armand B”. Đó là điều thiết yếu. Họ tin rằng khán giả của họ cũng tin điều đó nữa, và rất thường là họ đúng. Họ là những ảo thuật gia, và là những ông hoàng giữa muôn người, mặc dầu rất có thể họ có cảm giác đó một phần vì họ thường thấy khán giả của họ mãi mê vào hoạt động vô bổ, hết sức tức cười, dễ thất bại đó – để mua vui.
Nhưng họ đã phải tự chứng minh. Có sự phân cấp bậc tự nhiên trong số họ, lãnh đạo họ không phải là người lớn tuổi nhất, cũng không bởi người có phong cách tốt nhất, hay người có chuyên môn cao nhất thuộc các lĩnh vực của họ, mà bởi những người có kỹ năng tổng quát không thể phủ nhận, một loại nhạc sĩ có thể đối mặt với bất cứ những bộ khoá của bài hát nào mà không chút lưỡng lự, có thể đọc như một thiên tài, đọc thuộc lòng loạt hợp âm của 800 tiêu chuẩn.(một tài năng phụ thuộc vào sự biểu diễn thường xuyên, đầy mệt mỏi trong suốt các buổi tổng dợt).
Mặt trời mùa Thu đã biến mất, trời bắt đầu trở lạnh, có tiếng la ó đòi mở máy sưởi, tinh thần của nhạc công thổi kèn đồng thứ hai đang chùng xuống, anh ta đang lo lắng van bấm thấp của mình sẽ gây phiền hà nơi anh. Anh trao cho nhạc trưởng nhạc cụ bị rách bao và có thể bị tổn thương vì thùng đàn trong chiếc xe buýt chật hẹp, di chuyển nhanh đó. Trưởng đoàn tháo ốc van bấm và rồi vặn nó lại. “Tôi không thấy bất cứ thứ gì đặc biệt,” ông nói. Điều đó đã khiến cho người chủ đàn tức điên lên. “Xếp nghĩ là tôi sẽ nói nó đang bị kẹt nếu không có gì sai với nó sao?”. Anh ta hầm hè với trưởng đoàn. Những người khác ủng hộ anh ta, nói rằng anh ta hoàn toàn đúng. “Thư thả nào, hãy bình tĩnh”, trưởng đoàn nói, “Tôi sẽ xem kỹ nó đằng sau sân khấu trước khi ta bắt đầu biểu diễn”.
Xe chạy đường dài đã làm cho tâm trạng họ mất vui. Có lúc họ hát những bài hát thiếu nhi bằng giọng nam cao, nhưng chẳng bao lâu sau đó, một vài người trong số họ rơi vào yên lặng, trong khi số khác lại thả giọng trầm với người bên cạnh về xe cộ, máy hát âm thanh nổi, và trên cả, về những nhạc sĩ khác. “Gã X đó chẳng biết mình đang làm gì” được tiếp theo sau bởi, “Thế còn về anh chàng Y thì sao – dạo này hắn thổi kèn sao sao ấy, giống như thằng điên!” Họ cũng biết về các nhà kinh điển của họ, và nói với nụ cười tao nhã của kẻ sành điệu về Beiderbecke, Rank, Trumbauer, Lang, Nichols, Busse và Mole. Giống như họ đang biểu diễn các trang từ John O’Hara mà ngay cả chẳng biết gì về nó.
Khi họ đến gần điểm hẹn, họ lấy hơi và rống họng lên như đám nhóc trong chiếc xe buýt nhà trường. “Tôi sẽ chơi, chúa ơi, bản “Thể xác và Linh hồn,” một trong số họ nói.”Tớ hy vọng như vậy, bởi vì tớ đang mất lòng thành,” một gã khác trả lời. Một lần nữa, tính chân thật đã bị cấm một cách nghiêm ngặt.
Chiếc xe buýt đậu lại trong sân trường. Chín giờ mười phút tối. Họ bị trễ mười phút, nhưng chắc chắn vở kịch thường lệ của nhà trường đang tiến hành. Họ luôn luôn đến trễ. Họ đậu xe giữa nhóm xe của giáo viên. “ Lối này, thưa các quý ông,” một cậu bé khuôn mặt non choẹt với chiếc băng quanh cánh tay nói.
Đã có một nhóm vài học sinh đứng trên các bậc tam cấp bằng đá ở lối vào, chúng tự coi chính mình đủ lớn đối với bữa tiệc bên trong và đang chờ để nghênh đón ban nhạc. Khi chúng quan sát mấy người đàn ông cùng với nhạc cụ của họ đang đến gần, mấy cô gái trong nhóm chúng có cái nhìn trơ tráo, đầy chỉ trích trong mắt, có lẽ ngay cả còn có dấu hiệu giễu cợt trong đó. Chúng đã không hạ thấp cái nhìn chăm chăm lúc các nhạc sĩ đi ngang qua khỏi họ vài bước, mặc dầu vậy, vẫn có hai cô trong nhóm đã hơi đỏ mặt. Một cô có mái tóc màu bạch kim lộng lẫy, dễ chừng khoảng hai mươi bảy nhưng trông như gái mười bảy – chỉ đôi gò má tròn trĩnh tiết lộ tuổi thật của cô ta; số còn lại chỉ làm cho phần lớn những phụ nữ đứng tuổi xấu hổ mà thôi – đã thì thầm với bạn, “Anh chàng kia trông có vẻ hơi cáu kỉnh!”. Cô ta muốn nói đến Koos, cậu ta vẫn còn lo lắng về nhạc cụ của mình.
“Cô nghĩ ?” Tom hỏi, bằng một giọng điệu không quá thân mật, đưa bộ gió cao to duềnh dàng của anh đến chỗ dừng đột ngột ngay trước mặt cô. Những công dân bình thường cả hai phái đều phải học cách tự cư xử trước các nhạc sĩ. Một khoảng cách nhất định không chỉ phải được duy trì mà còn phải được tạo ra. “ Hãy cẩn thận,” họ nói như thể họ là những giáo viên. Cùng lúc đó, phải thừa nhận rằng Tom có trình độ biết đánh giá nhiệt tình, miệng lưỡi và lắm lời đối với vẻ đẹp của phụ nữ.
Cô gái nháy mắt một lần nữa, với cặp lông mi dài, nhưng Tom trút chỗ còn lại của cơn phẩn nộ của anh lên cậu bé mặt còn non choẹt, người mà đã dám nhận xét, “ Các quý ông đã hơi bị trễ rồi đó”.
“Có vẻ như các người đã bị trễ với mọi thứ thì có,” Tom bắt bẻ lại, nhắm vào dáng người lùn tịt khẳng khiu từ đầu xuống chân. Sau đó cậu bé nín thinh.
Ngang qua vũ trường đông nghẹt, ánh đèn lờ mờ, trang trí tẻ nhạt, nơi mà ngửi thấy giống như mùi coca cola âm ấm, mùi bánh pudding phủ đầy bột và mồ hôi của trẻ con, họ len lỏi quanh co về phía sân khấu. Vác nhạc cụ trên đầu giống như những cu-lie, họ chen lấn qua đám đông, họ chạm nhẹ thân mình lên – một số có chủ đích hơn mấy người khác - các cô nữ sinh đang đứng thành hàng dọc theo bức tường. Ngay cả những cô nhỏ tuổi nhất cũng thầm thì với nhau về dáng vẻ và quần áo của các nhạc sĩ, nhưng các giáo viên suỵt họ, bắt phải giữ im lặng, vì vở kịch, như họ mong đợi, đang đến hồi sôi nổi. Armand và Tom để ý thấy một số những cặp mắt đang lấp lánh trong bóng tối hướng về phía họ, khi họ hô to, “Xin mời vào!” và “Vui lòng di chuyển lên phía trên?” Các bạn phải sử dụng lời nói để bắt những cậu bé du côn này vào chỗ của chúng. Nếu bạn cố gắng trở thành một “quý ông”, thì sau này người ta sẽ tận dụng bạn khi đứng trên sân khấu.
Cuộc giao tranh mở đầu vẫn chưa phân thắng bại. Một khi mà cả tám người trong số họ vẫn còn đang chuẩn bị phía sau sân khấu và đang lắp đặt nhạc cụ (khi diễn xuất đàn gỗ còn đang tiếp tục, họ nghe rất rõ lời thì thầm đầy chán nản của nhạc công thổi kèn đồng), cùng lúc ấy, cô gái có mái tóc màu bạch kim mà họ đã thấy ở lối vào, đang bước lên các bậc thang, sự lắc lư đôi mông của cô gây sự chú ý khiến đám đông la ó. Cô đứng bên cạnh nhạc công chơi trống, theo dõi từng cử chỉ khi anh lắp mấy cái chập chả và gắn bàn đạp trống. “Cái gì đang vo ve, vo ve thế?” anh hỏi bằng giọng thân mật. Cô ta giật mình, rồi mỉm cười và nhìn vào mắt anh. “Tom,” anh nói, “giúp tôi một tay đi, tôi không biết phải làm gì với ả này”. Tom bước tới, nắm chặt cánh tay mập ú của cô, đẩy cô về phía cầu thang và nói. “Cô thuộc về phía dưới kia, mặt ngựa à, trừ phi cô đang tìm phòng vệ sinh”. Tính thô bạo chưa từng bị tổn thương, “Cút khỏi đây ngay, chị gái à,” nhạc trưởng, đang lau kèn đồng của Koos, quát to. Bỗng những giọng nói đầy giận dữ vang lên từ khán giả, “Suỵt, Suỵt, nếu cứ để ngay cả một trong những ả như thế lên sân khấu, trước khi nhận ra hậu quả, thì họ đã tràn ngập khắp nơi, dẫm lên các nhạc cụ như những con voi. Và rồi họ nhớ lại, hồi còn ở trường của họ, các cô gái không thể làm chuyện sai trái như thế nào; các giáo viên nam rần rần phát triển sự mê đắm làm sao, còn giáo viên nữ thì lại có những lý thuyết thiếu tính thực tiễn về tính ưu việt của phái nữ, chẳng ai đối hoài gì đến học sinh nam. Giờ đây chúng đã có cơ hội để lật ngược thế cờ.
Trong khi vở kịch chưa có dấu hiệu kết thúc, khán giả trở nên ồn ào hơn, các nam diễn viên trẻ rống bể cổ họng để lấn át sự náo động ầm ĩ. Một số học sinh gây rối trật tự đã kêu la những thứ như, “Xuống đi!,”, “Đủ rồi!” Đám đông lúc này không còn cười chế nhạo lời của các vai diễn mà cách diễn vụng về của họ. Một sự phẩn nộ không kiềm chế được lan toả khắp vũ trường.
“Tôi không thể tin là tôi đã đánh bại được nó vì việc này”. Armand nói. Hai gã muốn vào lại bên trong vũ trường, và mặc dầu trưởng đoàn đã nói,”Chắc chắn là không thể!”, họ đã bỏ ra ngoài.
Khi người chơi đàn bass đi xuyên qua đám đông, qua mặt một cô gái nhỏ nhắn, có vẻ ít thách thức hơn, anh đưa tay vuốt tóc cô ta, cô cúi gập người xuống trong cơn ho, khuôn mặt trẻ con của cô trở nên đỏ ửng. “Suỵt,” một giáo viên rít lên. Họ luôn luôn chọn những cô gái như thế này cho loại việc kiểu đó,” cô lầm bầm một cách tức bực với một đồng nghiệp nam, và anh gật đầu.
Dường như sự thiếu kiên nhẫn đang chuyển sang một thứ gì khác. Những sự ngâm nga không trôi chảy trên sân khấu có lúc buộc phải sớm dừng lại, và rồi một cái gì đó cuối cùng đã xảy ra. Tình trạng lo lắng có vẻ trẻ nít đã ngự trị khắp tất cả mọi người trước đó đã tan biến. Học sinh bắt đầu toát ra những trận cười khúc khích của sự mong đợi mang tính cách tình ái. Và không những chỉ học sinh mà các giáo viên cũng chồm lên khỏi chỗ ngồi, lấy giọng chú bác nhất có thể để nói chuyện với nhóm những cô gái đứng thành hàng dọc theo bức tường, và trong vũ trường đông nghẹt khán giả, các nhạc sĩ cũng trở nên dò dẫm bước vào, lúc này các cô gái đang di chuyển để tránh đường, không chỉ bằng giọng nói mà bằng tay chân của họ nữa. Nhạc trưởng, vẫn còn đang đứng ở các bậc tam cấp đằng trước sân khấu, cố vẫy tay gọi người của ông bước vào; dường như đối với ông thời gian biểu diễn sắp bắt đầu.
Và chắc chắn đủ, đám đông bắt đầu cổ vũ trong sự nhiệt tình đầy châm biếm và không ngớt vỗ tay trong cảm giác nhẹ nhỏm đầy ác ý. Diễn viên trẻ - những người trình diễn trước – và đạo diễn đã được thể hiện bằng sự đánh giá cao. Ngay cả còn có một bó hoa cho người nhắc tuồng.
Nhưng rồi quãng nghỉ sau màn một cũng đã đến.
“Chúa ơi,” Armand lại nói, “Đã quá mười giờ rồi. Tôi sẽ phải rời đi lúc nửa đêm, một hợp đồng bao giờ vẫn là một hợp đồng”.
“A, cậu sẽ làm cái quái gì,” những gã khác nói, vừa mỉm cười.
Họ tiến về phía quầy rượu dùng tạm thời, rõ ràng là được chế tác và trang trí bằng bàn tay của học sinh. Những người phục vụ cửa hàng này nhận lệnh từ những ông hoàng học sinh trẻ bằng sự cúi đầu chào với đôi chút mỉa mai, châm chọc: “ Hai coca cola phải không, thưa ngài?” Sự phấn khích trong giọng nói của bọn trẻ chẳng khác nào một thứ cháo đặc chảy vào tai chúng; không có cách nào thoát ra. Học sinh nam reo mừng đến khản giọng, các cô nữ sinh thì la oai oái. Có người nhảy lên sân khấu và la to – sau khi tiến sát lại đằng trước mi-cờ-rô đứng tắt ngấm – rằng đã tới lúc các lớp năm thứ nhất và năm thứ hai ra về. Cô gái nhỏ, bị cốc lên đầu lúc nãy đã dậm mạnh chân lên sàn gỗ trong cơn phẩn nộ, “Mẹ kiếp, tại sao lại về lúc này chứ?” cô la lên với âm lượng lớn đến bất ngờ, so với khổ người nhỏ nhắn của cô, nhưng một cô khác bự con hơn, với mái tóc bạch kim bắt đầu xô đẩy cô về phía lối ra. “Vào đây,” trưởng đoàn nói một cách đầy kích động khi kéo mạnh vai các đồng nghiệp của ông ra khỏi mấy chiếc ghế cao quanh quầy rượu, nơi họ đã đang âm thầm ký tặng cho nhóm các cậu học sinh nam rụt rè, nhút nhát.
Trong khi đó, tại các dãy hành lang - nhất là chung quanh khu vệ sinh, đầy ắp tiếng rì rầm với hoạt động suốt lúc giải lao – chất chứa dẫy đầy một loại khiêu dâm cấp ba vô hình nhưng ghê tởm. Các cô gái lén lút, ngắm nhìn qua đuôi mắt ti hí, mà gần như không thể thấy được dưới đôi mi sụp xuống một cách kín đáo của họ. Họ đã nhìn và rồi làm bộ như không nhìn những chàng trai ở tận cuối dãy hành lang, đang la quát lẫn nhau qua sự lúng túng làm tung toé nước từ bồn rửa mặt vào nhau khi chúng ra vào khu vực được chỉ định của họ. Bên ngoài vũ trường, mùi phảng phất từ phòng trẻ em chơi tràn ngập trường học như thể các học sinh nam nữ vẫn còn một ít điều để học từ cô giáo chúng về vệ sinh.
Ghế ngồi, giá để bản nhạc và bộ trống được đẩy về phía trong sân khấu trong khi màn vẫn chưa mở. Tất cả họ trở lại trạng thái vui vẻ. Họ đã phải chờ khá lâu để có thể bắt đầu đến nỗi họ đang rất háo hức để biểu diễn. Họ đặt sự tinh tế lớn lao hơn bao giờ hết vào việc thử các nhạc cụ, lên dây đàn và khởi động. Một mi-cờ-rô được kiểm tra cực kỳ kỹ lưỡng. “Sẵn sàng chưa?” nhạc trưởng từ chỗ ngồi của mình trước đàn piano lớn tiếng hỏi. Người duy nhất không gật đầu là Koos, đang ngồi cúi mặt và ủ rũ. “Koos,” nhạc trưởng hỏi, “Cậu sẵn sàng rồi chứ.” “Vẫn chứng cũ, thưa xếp”. Có vẻ không ổn rồi. Ông ta chộp lấy miệng kèn giữa ngón tay cái và ngón trỏ, nâng nó lên rồi đặt vào hai môi, một cử chỉ độc đáo khiến ông nổi tiếng. “Giống như bé bi đang bú tí,” Tom đã có lần mô tả cách đó.
Nhạc trưởng nâng một tay lên trên các phiếm – cử chỉ sau cùng lôi cuốn sự chú ý – những nhạc công khác liếc nhìn một cách căng thẳng qua khoé mắt đến bàn chân ông, nó bắt đầu vỗ theo nhịp, nhẹ nhàng và chính xác – thoạt đầu chỉ nhịp đầu của khổ nhạc, rồi cả bốn nhịp như thường lệ. Toàn ban nhạc lao vào hành động như một cái máy. Cuối cùng, nhạc trưởng mỉm cười. Màn sân khấu từ từ kéo lên trước sự vỗ tay từ phía khán giả.
Họ chơi một giai điệu đặc trưng ngắn và các nhịp kết thúc liền được tiếp theo bởi tiếng reo hò cổ vũ đến khản cả giọng. Số giáo viên lớn tuổi có vẻ ngạc nhiên, nhưng họ thông cảm, trong khi những cái đầu cuồng nhiệt của đám học sinh đang há hốc mồm la thét.
Nhạc trưởng đứng dậy từ đàn piano và công bố cảnh một. “Một trong những bản này là theo yêu cầu đặc biệt” ông tuyên bố, và trò mánh lới nhà nghề này diễn ra xuất sắc như đã từng, nhiều tiếng reo hò và những tràng vỗ tay tán thưởng vang lên.
Trước bản thứ ba, tất cả nhạc sĩ bắt đầu chơi với nhịp điệu mạnh bằng sức mạnh cơ bắp bản thân, như thể đã có chút ít khó khăn khi phải đem hết sức ra để biểu diễn một thứ uỷ mị như thế. Nhưng nhạc công chơi kèn trôm-bon lại nhân lúc này bật lên chỗ cao của bài hát, hát một cách rung động vào quãng âm cao của bài hát giống như một cô bé mồ côi ngoan ngoản, khiêm tốn, dịu hiền nhưng đủ sức làm cho chính bài hát được nghe và được cảm nhận, không bởi khán giả, mà bởi những nhạc sĩ giàu tưởng tượng khác, bất cứ khi nào họ có thể. Những người duy nhất ở đây là những trẻ vị thành niên và những thầy giáo lớn tuổi trán đầy nếp nhăn.
Người chơi kèn trôm-bon cho rằng chính mình là “một nhạc sĩ của nhà soạn nhạc”, một cụm từ anh nhặt được trong một tạp chí Mỹ.
Các em học sinh nhảy một cách nhiệt tình nhất, các nữ sinh chùng gối xuống giống như những con gấu cái ở mỗi nhịp đầu khổ nhạc rồi nảy ngửa ra sau giống hệt những người Javan giã gạo rất điêu luyện. Nhưng hông của ngay cả những cô gái nhỏ nhất cũng lắc và xoay theo nhịp điệu giống như những con báo con trong tình trạng động đực, tạo nên một sự tương phản lố bịch với những khuôn mặt ngây thơ, thường mang kính, dịu dàng một cách khổ sở của chúng. “ Một buổi khiêu vũ theo nghi lễ đáng xấu hổ,”,Tom thì thầm với Armand, người vừa mới khởi động một bản solo cla-ri-nét thông minh và trang trọng, Những học sinh nam nện những bước chân loạn xạ quanh vũ trường, ngây ngô và kích động. Họ tiếp tục cho đến mười một giờ.Trên sân khấu, những chàng trai trao đổi những lời khen tặng chân thành khó tìm thấy ở bất cứ nơi nào trên trái đất. “ Một bản so lo hùng hồn, Tom hả,” nhạc công chơi trống nói. Họ đã đưa niềm sảng khoái của âm nhạc vào tai chẳng chút nghi ngờ. Họ chơi thêm một vài bản nhạc theo yêu cầu, nhưng linh hồn của mỗi bản nhạc vẫn còn trên sân khấu. Cách phân nhịp, sự tinh luyện, quãng trưởng, tài khéo léo, thể trữ tình, sự cải biên, và nhạc xuynh nhún nhảy đầy sôi động là cho các nhạc sĩ, còn các giai điệu du dương là dành cho khán giả.
Quãng giải lao ngắn sau màn hai được loan báo để học sinh có thể tổ chức cuộc xổ số. Màn sân khấu vẫn để mở, ban nhạc ngồi nghỉ tại chỗ, nhạc cụ vẫn trên đầu gối, một cái nhìn cao ngạo trong ánh mắt khi họ nhìn lơ đãng ra khỏi vũ trường – tất cả, ngoại trừ Koos, người mà đang vụng về sửa lại nhạc cụ của mình,
Trên sân khấu, ngay trước mặt họ, một phụ nữ trẻ cường tráng đang đứng trước mi-cở-rô, xoay lưng về phía họ, Cô lấy mấy số ra khỏi giỏ và đọc lớn, kích động sự cuồng nhiệt của những người trúng giải. Một lần, khi cô ta cúi gập người tới phía trước, Armand lén lút chỉa kèn cla-ri-net của anh vào hông cô ta. Mấy nhạc công khác khúc khích cười. Tom thấy từ một bên hông đó chính là cô gái có mái tóc màu bạch kim mà anh đã tống cổ ra khỏi sân khấu trước buổi diễn. Ngay lúc đó cô nhìn về phía anh, đôi mắt có phẩm chất của người phụ nữ trưởng thành trở nên tối sầm lại. Cô không nói một lời.
Cô bốc tiếp hai hoặc ba số khác ra khỏi giỏ, đọc lớn và rồi nói vào mi-cờ-rô với một nụ cười mỉm, “Xin chờ một chút,” Vẫn với nụ cười thật tươi, cô nhẹ bước xuống sân khấu.
Trong khi đó, Koos đang phàn nàn với nhạc công chơi kèn bass: “Cậu có nghe tối nay tớ có vẻ ghê tởm biết bao với cái van bấm chết tiệt bị kẹt này không?”
Nhạc công chơi kèn bass trầm ngâm nhìn lên trần nhà rồi đáp bằng giọng vui vẻ, “Không, mình nghe cũng giống như thường ngày thôi mà!” Koos gật đầu một cách rầu rĩ. Anh cũng rời khỏi sân khấu, mang kèn theo với anh. Anh muốn rửa sạch van bấm mà đã đang làm thương tổn tâm hồn anh xuống một trong những bồn rửa mặt trong toa- lét.
Ở cuối dãy hành lang dài vắng vẻ là những cửa đề chữ ”Vệ sinh nữ”. Thấy không có ai, và cũng không đủ thì giờ nhìn kỹ, Koos kéo một trong những cánh cửa mở, lộ ra từ bên trong rất nhiều bồn rửa mặt và gương soi. Mọi người đều ở trong hội trường, và anh nghĩ họ vẫn còn trong đó, chứ nếu không, thì cũng dễ dàng để giải thích họ đã đang làm gì. Bất cứ ai cũng có thể thấy anh ở tại một bồn rửa với chiếc kèn trôm-bon, van bấm và hộp dầu.
Chỉ một phút sau, cánh cửa nơi anh vừa bước vô bị khoá lại từ phía hành lang. Anh có thể nghe rõ tiếng chìa khoá xoay trong ổ khoá. “Ê!” Anh la to, nhưng đã quá trễ.
“Quỉ tha ma bắt Koos đâu rồi?” trưởng đoàn nói. Cuộc xổ số đã kết thúc cách đó một lúc. Hằng trăm học sinh đang chăm chăm nhìn lên ban nhạc trong sự mong đợi đầy bực tức. Các giáo viên đang, kín đáo nhưng chẳng còn hứng thú, nhìn đồng hồ. Ban nhạc thì vẫn chưa bắt đầu. “Hãy tiếp tục , các quý ông,” hiệu phó nhà trường nói với cặp chân mày dựng ngược về phía người nhạc trưởng, người đang đáp lời, như sắp khóc, rằng chúng tôi mất tích một trong những nhạc công. “Hay là nó đi tự tử,” Armand nói, vì, như đã từng, ý thức rõ nhiệm vụ chuyên môn của mình như một gã ngốc học làm khôn”. Nhạc công chơi kèn bass được phái đi tìm hắn. Anh biết quá rõ đâu là khu vệ sinh nam, và rảo bước đến đó vừa kêu to một cách liều lĩnh.”Kobus,” nhưng dĩ nhiên không có lấy một tiếng trả lời. Trên đường trở lại, anh chú ý thấy cô gái có mái tóc màu bạch kim gặp ở lối vào hội trường, đang nói với thầy hiệu phó và một giáo viên lớn tuổi, “Trong khi con đang trên sân khấu họ đã chạm vào sau mông con.” Máu dồn lên đôi má đứng đắn của vị giáo viên bị tai tiếng.
Vì nhóm học sinh đang bắt đầu hát những thứ đáng ghét – một số các cô gái quắc mắt, thè lưỡi - và vì thầy hiệu trưởng đang ném một cái nhìn dò hỏi về phía anh, nên nhạc trưởng quyết định bắt đầu chơi mà không có Koos.
Ngay từ lúc khởi đầu, sự cải biên bất đắc dĩ này có vẻ bị rỗng một cách kỳ lạ, gần giống như trẻ nít, họ phải phá vụn phần đặc biệt hai kèn, đó là chưa kể đến kèn số một chơi bản solo chính của Koos. Điều đó đã không đến nỗi tồi tệ đến như thế nếu xét về tình trạng van bấm của kèn anh ta.
Dòng suy nghĩ này dẫn đến sự hiểu nhầm giữa các nhạc sĩ, những người đã ước đoán rằng Koos đã chuồn đi vì anh không thể đối mặt với viễn ảnh của bản solo chính của mình. “Hắn có thể sử dụng kèn của mình cho giai điệu một mà,” Tom nói bằng cái nhún vai. “Loại người gì mà chỉ biết bỏ rơi bạn bè của mình?” (Các bạn gần như có thể nhận ra dấu hiệu của một sự cạnh tranh khốc liệt giữa những người thổi kèn).
Một sự cãi vã bộc phát khi nhạc trưởng muốn chơi tiếp với giai điệu một, sợ rằng họ sẽ sớm hết vốn các tiết mục, trong khi Tom nói sẽ nghe có vẻ rất kỳ cục nếu chỉ chơi một kèn, nhạc công trôm-bon cũng từ chối không chơi nữa. Armand hơi cáu gắt đánh lên một giai điệu khác nhưng nhạc trưởng khước từ và bắt đầu đếm ngược nhịp độ. Khán giả cười reo một cách khinh bỉ và bắt đầu la ó. Cô gái với mái tóc màu bạch kim, lúc này đang tán gẫu với một giáo viên đầu hói, nói,”Ban nhạc này chắc chắn có mùi rồi, có phải không, thưa thầy?”
Họ bắt đầu chơi một bản mới và đặt hết mọi nổ lực vào nó, nhưng không có được niềm vui thường lệ trong công việc. Tay chơi ghi-ta chửi thề khi bị đứt một dây đàn; trong nghề biểu diễn âm nhạc, cũng như trong mọi ngành nghề khác, điều xấu ít khi đến một lần. Trong cái yên lặng tương đối của bản solo trầm – đang lấp kín vào để tạm thay cho tiếng đàn ghi-ta bị hỏng – cuối cùng họ có thể nghe thấy tiếng đập mạnh đầy cảm thông và buồn bã nơi cánh cửa ở hành lang. Khán giả và toàn ban nhạc cười reo trong sự kết hợp.
Người chơi đàn ghi-ta lần theo dấu vết của nguồn âm thanh – theo sau là hai cậu nhóc đang cười như nắc nẻ - và đã tìm thấy Koos, những tràng chửi thề rít lên rất chói tai từ đằng sau cánh của bị khoá của anh. Không ai tìm thấy chìa khoá cửa đâu cả.
Ban nhạc tạm dừng. Họ đã bị xúc phạm quá đáng. “Đưa ngay anh chàng ấy ra hay là chúng tôi sẽ không chơi một bản nào nữa,” họ quát to.
Phải mất một thời gian khá lâu mới tìm ra chìa khoá. Cuối cùng, chính cô gái với mái tóc màu bạch kim, với một nụ cười mỉm đầy tử tế, nhưng rất độc đoán, người mà bỗng nhớ lại điều gì đó về một chìa khoá thứ hai. Như một thiên thần cứu hộ, cô đã giải thoát được Koos. Với một tay ôm chặt kèn đồng, bị bao vây bởi đám học sinh đang khúc khích cười, với dáng đi lom khom, anh đi loạng choạng trở lại sân khấu. Khán giả cười chế nhạo khi anh về lại chỗ ngồi. “Cậu đã chuồng đi đâu mất vậy?” nhạc trưởng hỏi một cách ác ý, nhưng Koos tuông ra một tràn ngôn từ có tính cách xem thường rằng ông nên câm cái mồm thối lại. Mi-cờ-rô hút được sự trao đổi này, và đám đông vỡ oà bằng tràng pháo tay quái ác. Trong lúc hỗn độn này, cô gái có mái tóc màu bạch kim nhảy lên sân khấu, nhanh tựa như mèo, chộp lấy micro, và loan báo một cách inh tai rằng vào dịp lễ kỷ niệm vào tháng Mười hai tới, họ sẽ thuê một ban nhạc hay nhất. Cô ta được thưởng bằng một tràng đứng dậy vỗ tay.
Chính ngay khi họ đang vội vàng chơi trở lại để có thể nhận chìm phát ngôn của cô gái có mái tóc màu bạch kim thì một thầy giáo có cái sọ đầu hói, đôi mắt chó sắc như dao bước lên sân khấu, dang rộng hai cánh tay ra hiệu cho họ dừng lại. “Vị này, hãy theo tôi,” ông nói với Koos, người mà đã phóng cho ông một cái nhìn ngơ ngác và từ chối. Ông tóm lấy cánh tay của Koos, kéo lê anh ta đi và rít lên, “Đi ngay, ông bạn, hay là tôi sẽ gọi cảnh sát”. Tom muốn đấm vào mặt ông, nhưng nhạc trưởng phóng ra khỏi chỗ ngồi phía sau đàn piano, khuyên ông ta hãy bình tĩnh và ra dấu cho Koos bước đi trong lặng lẽ. Khán giả buông ra một tràng lăng mạ mới.
Cậu bé có khuôn mặt non choẹt, với băng tay, người mà đã đón họ ở lối vào, bắt đầu nhảy lên nhảy xuống một cách vụng về giữa các nhạc cụ, đòi được biết liệu họ sẽ có chơi bất cứ một loại nhạc trời đánh thánh đâm nào nữa không. Sau khi hất văng đi cây kèn trumpet của Koos ra khỏi ghế, Tom hạ xuống một cú đấm khiến tung thằng bé bay khỏi sân khấu. Có một khoảng lặng yên hoàn toàn trong hội trường, tiếp theo là một làn sóng thù địch dâng trào . “Lũ đồng tính bẩn thỉu!” hai hay ba giọng khàn khàn quát to. “Lũ đồi truỵ!” cô gái có khuôn mặt đỏ ửng la to. Tiếng la sau cùng ấy nhanh chóng được vọng lại bởi tiếng la ó của nhiều khán giả khác.
Một vài trong số các nhạc sĩ có thể nghe rõ vị giáo viên già đang trút cơn giận lên Koos ở phía sau sân khấu: “Ông đến nhà vệ sinh nữ để làm gì?” Hãy cho tôi biết sự thật!” Câu trả lời không thể nghe rõ.
Hai hay ba chàng trai chạy đến chỗ vị giáo viên già, vừa la to vừa thề rằng:” Gã mèo cái đó chỉ đến để rửa kèn của hắn ta, chứ không như chúng ta nghĩ là để làm bậy như thầy hiểu”.
“Có chắc là ông không đến đó để làm việc gì khác chứ”.
“Các quý ông, các quý ông!” người lãnh đạo ban nhạc la lớn, mặt trắng bệt như tờ giấy, khi cả hai ông ta và ông hiệu trưởng đang muốn giải quyết nhanh cho xong chuyện. Một thầy giáo trẻ dạy thể dục, chen lấn vào sau hậu trường, sẵn sàng ẩu đả với nhạc công chơi kèn bass và nhạc công chơi trống, cả hai người này đã phát triển cao các cú đánh bằng cổ tay, nhờ ở nghề nghiệp của họ, và muốn kết thúc nhanh công việc của thầy ấy.
Trong khi đó, Tom và nhạc công chơi kèn tôm-bon đang thu dọn những nhạc cụ dễ vỡ - nửa để phòng xa, nửa để sẵn sàng trả đũa. “Tôi sẽ không chơi bất cứ một bản nào nữa ở chỗ hắc điếm này,” họ bảo nhau. Số khác noi gương họ, một khi mà họ giải phóng được người bạn thân Koos của họ. Lão đầu hói dậm mạnh chân xuống sàn, quai hàm ông ta nghiến lại vì giận dữ.
Họ ngồi trên sân khấu với nhạc cụ được xếp vào thùng, đôi cánh tay vắt chéo. Khán giả đang la hét điên cuồng. Nhạc công chơi trống tiếp tục lặng lẽ tháo dỡ bộ trống, quay lưng và chỗ lồi ra phía sau của anh về phía đám đông đang phẩn nộ. Anh đánh rơi những cái chập chả bóng loáng xuống sàn sân khấu với tiếng vang inh tai, giống như một cuộc tuyên bố chiến tranh lớn.
Các giáo viên, người phục vụ và những học sinh lớp lớn với băng tay đang đi tha thẩn khắp mọi hướng, mặt mày tái mét. (Thật đáng ngạc nhiên không biết bao nhiêu người trong số họ đeo băng tay, mọi người, dù trẻ mấy đi nữa đều muốn mình trở nên quan trọng). Đây là một sự vi phạm hợp đồng,” người đầu hói quát to, đang từ máy điện thoại trong phòng hiệu trưởng trở ra. Học sinh, đang tạo thành một đội hình hàng dọc rộng bằng hội trường, chăm chăm nhìn ông, và rồi nhìn vào ban nhạc bất hợp tác, và bắt đầu, như thể bị xô đẩy bởi sự thôi thúc của một số người da đỏ từ sự vô ý thức tập thể, xông lên sân khấu. Đó là, ít nhất khoảng hai mươi nam sinh leo lên và trườn bò như các chiến sĩ trong một sứ mệnh liều chết, trèo lên dốc thoai thoải đằng trước pháo đài.
Tom, nhạc công chơi trống và nhạc công chơi kèn bass, đang cười thầm, bảo vệ vị trí của họ bằng mưu lược của những tay quyền anh nhà nghề. Lần lượt từng học sinh một bị đánh sập xuống đám đông đang sục sôi bên dưới. Sự đau đớn và giận dữ của chúng nhanh chóng lan truyền sang người khác, thế là chúng được khuyến khích bởi các cô gái mặt đỏ ngầu. Với những tiếng la chiến đấu đầy căng thẳng, một đợt tấn công mới tiếp theo, từ một lớp học đã tranh luận về Hoà bình Thế giới ngay hồi chiều này.
Những người cung ứng thực phẩm, với bản năng của những kẻ bị áp bức tự tuyên bố, ngay lập tức đứng về phía những gì họ đang chứng kiến như những người giúp đỡ được thuê, gia nhập lực lượng các nhạc sĩ. Một gã to lớn với cặp mắt kiếng đã dập đầu hai cậu học sinh lên nhau trước khi quăng chúng lại đám đông.
Giám đốc nhà trường giơ hai tay cao khỏi đầu, cố tiến tới chỗ mi-cờ-rô, đang phát ra những tiếng rầm rầm thường xuyên và nhỏ. Tiếng la quát của ông không thể hiểu được nếu không có điện từ. Một cô gái cao to nhảy lên sân khấu, ngay trước mặt ông, và rạch toét mặt Koos bằng móng ngón tay giữa của cô. Người chơi kèn bass tóm lấy đầu cô, nhận xuống như thể đang giữ cô dưới vòi nước đang chảy. Khi cô vặn mình tuột khỏi tay anh ta, anh cảm thấy hơi ấm và ướt từ miệng đang thở hỗn hển của cô giữa các ngón tay của anh. Rồi cô cắn và anh thả tay với một tiếng thét lớn, nhưng đồng thời anh thúc đầu gối vào mông đít gầy nhom của cô, đẩy cô bay về phía mi-cờ- rô, khiến nó ngã lên người ông hiệu trưởng, gần như đẩy ông ta khỏi làm nhiệm vụ. (Ông khập khiễng bỏ đi).
“Đủ rồi, đủ rồi! Mẹ kiếp”. Ai đó quát to bằng giọng của vận động viên Olympic từ phía ban công ở trong một tình trạng trống vắng, đối diện trực tiếp với sân khấu. Tất cả họ dừng lại, nhưng không rõ là có phải vì giọng nói kia, hay vì những gì chưa được khám phá cùng lúc ấy nơi hành lang vắng lặng.
Một vài cô gái đang khóc tức tưởi. Trên thềm của hành lang, một cậu học sinh từ các lớp nhỏ đã nằm, lúc đầu chưa được thấy, và đã bị bắt giữ. Một vệt dài của chất lỏng chảy chầm chậm bên dưới cậu ta, rồi từ từ lan ra khắp trên nền nhà lát đá. Thật như thể cậu học sinh bất hạnh này đã tự mình hy sinh vì lợi ích của sự hoà giải.
Giữa lúc yên lặng đầy xúc động, một bóng người từ ban công được nghe đang nện mạnh bước chân xuống các bậc cầu thang. Tôi không thể làm việc bằng bàn tay này rồi, người chơi kèn bass nghĩ. Sẽ tốn kém rất nhiều tiền vì nó.
Người đàn ông đang đi xuống cầu thang tỏ ra là một cảnh sát viên vai to trán rộng, với mái tóc màu xám, lởm chởm đầy kịch tính – loại cảnh sát điều tra Hindenburg trong bộ thường phục. Ông ra lệnh cho những kẻ tấn công trở về vị trí ban đầu với một cánh tay duỗi ra và một ngón trỏ đang rung rung, và cảnh báo các nhạc sĩ nên giữ bình tĩnh với cái bĩu môi khinh khỉnh của ông. “Trở lại chỗ ngồi!” ông ra lệnh cho họ, gập đầu vào ghế trên sân khấu, một số trong họ đang nằm nghiêng qua một bên hông. Chỉ Tom và nhạc trưởng không tuân lệnh. Ai là kẻ phải luồn cúi? Họ dường như hỏi nhau với cặp lông mày dựng ngược, đoàn kết như thể họ là những người bình đẳng trong ban nhạc.
Viên cảnh sát phụ trách việc này với một nụ cười tự mãn. “Những người bị thương – đang chịu đựng chủ yếu từ những cục sưng ù và những vết trầy – sẽ bị dẫn đi và được tham dự - cô gái có mái tóc màu bạch kim khá bạo dạn hoá ra lại là nhân chứng trợ giúp đầu tiên, và một giáo viên dạy thể dục nữa, đã khiến cho cuộc điều tra giống như Dunant ở Solferino vậy.
Nạn nhân trẻ tuổi nằm ở hành lang được cẩn thận đưa về nhà bằng một trong những chiếc xe của giáo viên. Cô hiệu phó hơi phấn khích cùng với sự phụ giúp của người cung cấp thực phẩm đang lau chùi cái chất lỏng đầy xấu hổ trên sàn nhà, mà việc này có vẻ như đã thâu đạt được từ nguồn siêu nhiên và ý nghĩa mà đã thách thức chính các nền tảng xã hội. Hoặc có lẽ đó chính là ánh sáng ở dãy hành lang. Cả hai người làm việc trong âm thầm.
Trong khi bên ngoài, những bậc phụ huynh đầy lo âu- gần như khoảng mười hai ba mươi – đang đi xuyên qua lối vào mặt trước và đập vào cửa chính của giảng đường. “Chuyện gì đang xảy ra ở đây vậy?” Giọng người phụ nữ thỏ thẻ qua lớp kính. Một chỉ huy trưởng cảnh sát biết rõ mọi chuyện tiến về phía họ, nói bằng những lời êm dịu và ra lệnh đóng cửa vũ trường lại. Ông ta có vẻ lo lắng rằng những học sinh sẽ tấn công vào sân khấu nữa.
Thầy hiệu trưởng trở lại, trong tình trạng sức khoẻ tốt và có ý định muốn phát biểu ý kiến, nhưng may là mi-cờ-rô bị hỏng lúc nó ngã. Đội ngũ giáo viên và lực lượng cảnh sát cùng kết hợp tổ chức một loại toà án nhân văn, ở đó mọi người có thể “nói ra” hay “ làm sáng tỏ vấn đề”. Điều này đã đánh thức tính hay nhạo báng nghề nghiệp của các nhạc sĩ và cơ hội để có sự đối thoại nghiêm túc có vẻ khá mỏng manh. Người chơi đàn bass lầm bầm cái gì đó về hội Quốc Liên. Anh đã yêu cầu rằng kẻ tấn công anh phải đích thân băng bó tay anh.”Cô có thể đụng đầu gối tôi khi cô tiếp xúc nó?” anh hỏi cô ta. “Tôi không biết tại sao phía sau của cô lại rắn chắt như đá vậy”. Cô chăm sóc tay anh mà không bình luận, giống như một y tá dày dạn.
Cô học sinh có mái tóc màu bạch kim rất quyến rủ, người mà đã đang đứng tách xa qua một bên từ nãy giờ, với một nụ cười trịch thượng trên khuôn mặt, đã khai trước toà rằng cô đã khoá cửa nhốt anh chàng đáng sợ đó (ý chỉ Koos) để bảo vệ những cô gái trẻ khỏi bị hiếp dâm – đó là điều tối thiểu nhất tôi có thể làm được. Tên phạm tội được tâng bốc toét miệng cười khoái chí. Chứng cớ ngoại phạm trong lúc chơi nhạc của anh cuối cùng cũng được miễn cưỡng chấp nhận.
Có đôi chút bất ngờ là ở chỗ ban nhạc được yêu cầu phải hoàn tất buổi trình diễn theo hợp đồng. Xét về tất cả thời gian bị trễ, có nghĩa là khoảng hai mươi phút hay đại loại như vậy. Armand đề nghị họ sẽ chơi cùng một tiết mục mười lần liên tục ; nhạc trưởng bắt đầu trở nên tái mặt trở lại cho đến khi ông được giải thích rằng đó chỉ là nói đùa thôi.
Lắc đầu, các nhạc sĩ lại tháo nhạc cụ ra khỏi thùng, còn học sinh – giận dữ, ngạc nhiên, được vinh dự tất cả cùng một lúc – không còn khiêu vũ nữa mà chỉ nhìn lên sân khấu như những quan toà nghiêm nghị. Tuy vậy, những học sinh trẻ tuổi nhất thỉnh thoảng lại ngáp ngắn ngáp dài; chúng không còn có vẻ ngây thơ nữa, mà khờ khạo. “Hãy nhìn toàn bộ các cử tri tương lai kìa,” những nhạc công lầm bầm với nhau. Kèn của Koos đã tỏ ra ăn năn vì vô tổ chức bằng cách hoạt động hoàn hảo. Nó khiến Koos phấn chấn ngay lập tức. “Cậu nên hất nó ra khỏi ghế thường xuyên hơn,” mấy bạn diễn khác nói trong sự nhẹ nhỏm. Khi họ đã thực hiện một cách tượng trưng các điều khoản đã được thoả thuận bằng cách diễn thêm hai tiết mục nữa, thì bữa tiệc âm nhạc được chính thức tuyên bố kết thúc. Ngay lúc này, họ dường như đang tiến tới một vụ tranh chấp nghiêm trọng về tiền thù lao, vì ban tổ chức muốn cắt bớt họ mười lăm phút tiền công. “Tôi sẽ kéo cái thứ chết tiệt ở các bức tường kia xuống,” Tom doạ, sẽ cho mọi người thấy bàn tay giương cao của vợ hắn. Nhưng toàn bộ sự việc đã được giải quyết một cách thân mật.
Cuối cùng không ai biết chính xác ai là người đáng bị đổ lỗi, ai đáng được trả tiền công bao nhiêu. Tất cả đều mỉm cười một cách không đáng tin cậy khi họ chào tạm biệt.
Một cô bạn sốt sắng của cô gái có mái tóc màu bạch kim đang đứng chờ ở lối ra, một cô gái khác phía trước cô thấp hơn nhưng khá quyết tâm để cạnh tranh với tinh thần chiến đấu của bạn cùng lớp,”Tôi nghĩ rằng thứ âm nhạc mà các ông chơi kinh tởm quá,” cô nói với một cái mỉm cười mà đã chịu đựng từ việc không bác bỏ, có thể cô bắt chước từ một trong những thầy giáo của cô. “Không có sự biện hộ cho một trình độ thưởng thức tồi,” Tom trả lời, dòng nhạc cổ điển mà anh dành cho những dịp đặc biệt như dịp này.
Mối ràng buộc lâu dài và chặt chẽ của ban nhạc với nhà trường chắc chắn đã rất bền chặt. “Đó là một công việc thường xuyên khác đã đổ xuống cống” họ nói với nhau trên đường về nhà. Thực vậy, có lẽ họ đã bị các trường trong vùng tỏ ra lạnh nhạt.
Trong suốt mấy tiếng đồng hồ liền, trong đêm tối của cuộc hành trình về nhà của họ, Koos, với vết cào dài đang nóng rát, cảm thấy như một anh hùng và người hối lỗi cuộn vào nhau thành một, nhưng anh ta rơi vào giác ngủ ngay sau khi cả nhóm hát một bài hát hơi dâm đãng được đệm bằng tiếng vỗ tay theo nhịp. Lời của bài hát khó mà có bất cứ thứ gì khác hơn là một tràng những từ đồng nghĩa trẻ con đối với những bộ phận trên cơ thể phụ nữ. Nhạc trưởng hơi bị suy sụp để không tham gia, ông lắc đầu buồn bã. Ông tự hỏi liệu rồi còn có khi nào trong đời, cuối cùng, mình có cơ hội làm việc với những người trưởng thành hơn không. Nhưng ông cũng mỉm cười một chút, vì dẫu sao thì những cậu nhóc này đều do tự tay mình tuyển chọn.
Khoảng ba giờ sáng, tất cả đã ngủ say, trừ Armand, dĩ nhiên. Nhạc trưởng đang chập chờn thiu thiu ngủ, vẫy tay cho anh ta dừng lại một quán cà phê tự phục vụ cho những người lái xe đường dài để uống cà phê.
Việc làm tiếp theo của họ, là buổi dạ hội tại một trường trung học ở miền tây của đất nước, Tom và Armand đã thân mật với mấy cô gái ngay tại cửa vào – tôi muốn nói, thân mật theo nghĩa lịch sự - Họ đã đáp ứng mọi nhu cầu nhỏ nhoi của họ mà không chút trễ nải.
Các nhạc sĩ thậm chí còn cân nhắc việc mang theo một hoặc hai trong số những người vợ của họ trong chuyến đi sắp tới – như một loại trừng phạt có tính cách mê tín, được thanh toán trước. Nếu tất cả họ ngồi ép sát lại một chút, thì sẽ đủ chỗ. Có lẽ họ sẽ mang theo những người mà đã nài nỉ đòi theo lâu nhất. Cái quái gì vậy, đúng không?
“Các người, những mụ đàn bà nanh ác chắc chắn có những ý tưởng kỳ lạ vào những ngày này,” nhạc công chơi kèn bass thay thế nói.
Phan Thiện Trì chuyển ngữ
June, 2021
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét