DSS20. LÂU ĐÀI MUIDER
Maarten ‘ t Hart
Translated from Dutch into English by Michele Hutchison
Translated from English into Vietnamese by Phan Thien Tri
Được đào tạo như một nhà sinh vật học thuộc ngành động vật học và nghành học nghiên cứu về hành vi, tập quán của động vật trong môi trường thiên nhiên, Maarten ‘ t Hart (1944) là một trong những tiểu thuyết gia Hà Lan thành công nhất kể từ thập kỷ 1970. Flight of Curlews(1978) là quyển tiểu thuyết đột phá của ông. Sách của ông được dịch sang nhiều thứ tiếng, nhất là tiếng Đức, nơi ông có số đông độc giả. Tin lành giáo, thiên nhiên và nhạc cổ điển là những chủ đề tái diễn đều đặn trong tác phẩm của ông.
Khi tôi – hành khách duy nhất – bước ra khỏi nhà ga mà không có một ngôi làng hay thị trấn cùng đồng hành, và nhìn đến chân trời trống vắng. Tôi hầu như có thể nghe giọng nói của bố tôi: “Vị mục sư già ở nhà thờ Cơ Đốc Giáo Phục Hưng đã thường không viết sẵn bài giảng của ông ra giấy, nhưng trên đường bước lên bục giảng vào mỗi sáng Chủ nhật, ông thường nhờ một người bề trên nhét một mảnh giấy trắng đã được xếp nhiều lần vào tay ông. Ngay khi bước lên bục giảng, nó được mở ra và ông đọc lớn đoạn trích từ kinh thánh mà người bề trên đã viết, cho những người đi lễ đang run rẩy nghe. Ông thường chế tác một bài giảng quanh đoạn trích đó, mà không chuẩn bị trước và chỉ ứng khẩu từ những gì có trong đầu ra. Nhưng khi ông mở mảnh giấy ra thì chẳng có gì trong đó cả.
“ Không có gì” ông hét vang như sấm xuyên khắp nhà thờ.
“Ông lật tờ giấy qua mặt kia và hô lớn “không có gì” một lần nữa trước khi tiếp tục với, “Hư vô, hư vô ! Thượng Đế kiến tạo thế gian này từ hư vô”. Rồi ông đã cho một bài thuyết giảng tuyệt vời đến nỗi những ai chứng kiến hôm đó vẫn còn thảo luận về nó với niềm xúc cảm đến rơi nước mắt mãi tới ngày nay”.
Đúng vậy, tôi nghĩ, Thượng Đế đã tạo ra thế giới này từ hư vô, và cái đầu tiên mà Người đã xây dựng là toà nhà ga xe lửa mà bây giờ tôi đang bước tới, rồi sau đó Người tạo ra đường chân trời, và Người lắp đầy khoảng trống ở giữa bằng những cánh đồng mới cày xong, và, cuộc sống thanh đạm như hệ thống thần học và phương pháp ứng dụng đức tin vào nếp sống Cơ Đốc như một Calvinist thực sự. Người gieo rắc một ít cây cối khẳng khiu chung quanh. Và rồi, đằng sau những đám mây, Người bắt mặt trời mọc lên, soi sáng khắp những người chân chính và những kẻ ác độc, và đẩy đưa tôi đến nơi ao tù nước đọng này để trải qua cả ngày trời lê bước theo một người thợ bắt chuột. Còn nữa, Người cung ứng một phóng viên của đài phát thanh đi theo để ghi thu mọi thứ tôi và người thợ bắt chuột có thể nói với nhau, để có thể phát thanh một lúc sau đó.
Tôi đã có thể nhận thấy anh phóng viên nhỏ con, lưng hơi khom đang tiến về phía tôi trên sân ga bị bỏ trống. Anh ta bắt tay tôi và nói, “Chuyến tàu của anh bị trễ mười lăm phút”.
“Vâng,” tôi nói, “ chậm trễ. Dạo này tàu luôn luôn có sự chậm trễ.”
“Anh có biết tại sao không?” anh ta hỏi.
“ Không,” tôi nói.
“Bởi vì quá nhiều người ném mình đằng trước xe lửa,” anh ta nói.
“Ồ,” tôi nói.
“Vâng,” anh ta nói, “Bạn tôi, một người Bỉ, có lần đã nói đúng là người Hà Lan điển hình khi lao chính mình dưới tàu lửa. Không tốn một chút gì”.
Chúng tôi đi ngang qua một bãi đất bỏ hoang hoàn toàn để tới chỗ xe anh đã đậu, sau đó chúng tôi lái xe xuyên qua vùng đất trang trại. Tôi ngạc nhiên vì thậm chí có lắm những con đường. Chúng tôi lái xe về phía chân trời bị dạt sạch, bên kia chân trời toạ lạc một thị trấn và nhà ga của nó mà tôi đã để lại phía sau. Vượt qua khỏi thị trấn chúng tôi tiếp tục lái xe về phía chân trời kế tiếp, anh phóng viên nói, “Chúng ta cần phải thoả thuận chính xác trước những gì chúng ta sắp làm. Chúng ta cần lên kế hoạch nghiêm túc và suy nghĩ kỹ mọi thứ bằng tất cả mọi khả năng tốt nhất của chúng ta.
“Tại sao?” tôi hỏi.
“Bởi vì nếu không sẽ rất lộn xộn. Ngoài ra, chúng tôi cần trình bày câu chuyện cho thính giả mà không cho họ có bất cứ thứ gì họ có thể sử dụng để đi tới những kết luận riêng của họ. Chúng ta phải giới thiệu người thợ bắt chuột và việc làm của anh ta càng bình tĩnh và khách quan càng tốt; chúng ta cần để thời gian cho người nghe”.
“Tất cả phụ thuộc vào người làm nghề bắt chuột này thuộc loại người nào”.
“Không,” anh ta nói, “Ông bạn không được nói như thế. Nếu đó là phương thức của bạn, bạn sẽ nhận một số thông tin hời hợt và có lẽ hợp lý hơn. Nhưng đó chỉ ở một mức độ nào đó của công việc. Chúng ta chỉ nhìn từ bên ngoài và đó chính xác là những gì chúng ta không thể làm. Chúng ta cần cung cấp cho thính giả một sự giải thích mang tính xác thực”.
Tôi nhìn ra phía chân trời đang di chuyển. Tôi thầm nghĩ, nếu tôi biết trước điều này, thì tôi đã nói không khi anh ta hỏi.
Bất ngờ, chúng tôi đến một ngôi làng mà có vẻ như chỉ bao gồm nhiều hơn khu nhà thờ một chút. Anh phóng viên đậu xe ở bãi cỏ công cộng của làng và chúng tôi tiến về phía khách sạn nơi chúng tôi được thu xếp để gặp người bắt chuột. Xét thấy tôi chưa từng nghe nói đến ngôi làng này trước đây. Băng qua bãi cỏ để đến khách sạn giống như đang đi vào vùng chân không, như thể tôi không thực sự hiện hữu ở đó bởi vì ngôi làng đã không tồn tại. Tôi cũng không ngạc nhiên khi phát hiện rằng khách sạn hoàn toàn trống vắng – làm sao người bắt chuột có thể đang chờ chúng tôi ở đó? Một cảm giác lạ lẫm dâng trào khi bước chân vào một khách sạn lặng yên quá sớm vào buổi mai. Chiếc đồng hồ treo tường kế bên quầy rượu không nghe tiếng tích tắc. Tiếng lách cách của xô múc nước vang lên từ phía hành lang không thấy rõ, và khi cửa mở, chúng tôi thấy rằng hành lang đã bị ngập nước và trong nước là sự phản chiếu của một cửa sổ ở cuối dãy hành lang, một tia nắng ngắn cũn chiếu xuyên qua nó. Mặt nước long lanh. Trông giống như một dòng sông đang chảy xuyên qua khách sạn. Rồi cửa đóng lại và tôi bỗng chú ý thấy, bên trên quầy rượu, một bộ sưu tập các đầu hươu với những nhánh gạc lớn. Những con hươu đã chết dương mắt trừng trừng nhìn tôi từ bên dưới những bộ gạc của chúng.
Cửa vào hành lang lại mở và một phụ nữ với giẻ lau sàn nhà nhìn quanh giá móc áo khoác ngoài và hỏi, “Tôi có thể giúp gì, thưa các quý ông?”
Chúng tôi sắp gặp người bắt chuột ở đây,” anh phóng viên nói. “Ông ấy có vẻ như chưa có mặt ở đây; chúng tôi thu xếp để gặp nhau vào lúc tám giờ rưỡi, và bây giờ gần chín giờ rồi. Cô có thấy bất cứ ai không?”
“Không, sáng nay chưa thấy ai tới.”
“Tôi chỉ đơn giản là không hiểu tại sao. Cô làm ơn mang cho chúng tôi hai tách cà phê ngay lúc này?”
“Vâng,” cô nói và vẫn tiếp tục lau sàn nhà.
Chúng tôi ngồi vào một bàn duy nhất còn ghế quanh nó.
“Tôi chắc chắn là đúng tám giờ rưỡi,” tay phóng viên nói một cách đầy lo lắng.
Tôi sắp định nói là người bắt chuột có lẽ đang làm một vòng chuẩn bị cho những cái bẩy của anh ta để đuổi cổ những con vật không cần thiết thì anh phóng viên liền nói,” Bây giờ, trước tiên chúng ta hãy thống nhất một cách chính xác những gì chúng ta sắp làm. Tôi đang tưởng tượng những điều sau đây: chúng ta sẽ cùng đi với người bẩy chuột khi hắn làm công việc của hắn. Anh sẽ đi kế bên hắn ta và tôi sẽ đi sau anh, và bất cứ khi nào anh nói điều gì đặc biệt thú vị với nhau, tôi sẽ chỉa cặp mi-cờ-rô giữa vai hai người. Mục đích là để anh có cuộc tranh luận rõ ràng. Không được chuyện tầm phào, chuyện vui vặt vãnh, mà là cuộc đàm thoại đi thẳng vào trọng tâm. Thoả đáng hơn cả là một chuyện gì đó đầy kịch tính mà cả hai không hoàn toàn đồng ý, nhưng nhớ giữ khoảng cách nữa, đừng để chính mình bị lôi cuốn vào – điều này sẽ rất tai hại”.
Người phụ nữ lau sàn nhà tạm ngưng công việc và mang vào hai tách cà phê. Khi tôi nếm thử thứ chất lỏng này, tôi tự hỏi liệu bà ta đã không chỉ vắt nước giẻ lau vào cà phê của tôi, nhưng tôi nghĩ: bà ta không sai, cà phê kinh tởm quá. Tại sao không chỉ phục vụ nước nóng đã sử dụng?
Khi tôi nhấp một ngụm cà phê một cách thận trọng, một người đàn ông lớn tuổi nhỏ con xuất hiện ở cửa. Ông tiến về phía tôi. Tay ông chìa ra. Ông không mỉm cười nhưng quanh đôi mắt thâm đen của ông, hiện rõ hằng trăm nếp nhăn, tất cả chỉa về phía mái tóc muối tiêu, ngắn và dày, được cắt ngắn sát sọ đầu. Ông bắt tay anh phóng viên rồi cởi áo khoác ngoài. Rồi ngồi đối diện với tôi, ngay lập tức bắt đầu nói về loài chuột nước. Ông tiếp tục nheo mắt, và, thỉnh thoảng, một vẻ buồn bã lướt qua khuôn mặt. Ông lấy ống điếu ra, bình thản nhét thuốc vào.
“Vậy là,” ông nói, “Tôi phải nói với các ông đôi chút về việc làm của tôi và các ông sẽ cùng ra ngoài với tôi cả ngày. Được rồi, tốt lắm. Nhưng trước khi chúng ta ra ngoài, tôi muốn cung cấp cho các ông một số thông tin cơ bản. Nghe đây, những thợ bắt chuột vẫn còn được tuyển dụng ở cấp vùng, vì vậy, các tỉnh khác nhau sẽ trả lương khác nhau. Điều này, dĩ nhiên, gây nên sự ganh tị. Đáng lẽ đã nên quốc hữu hoá cách đây khá lâu rồi, nhưng thôi, đó là vấn đề khác. Mãi đến nay, nghề bẩy chuột xếp vào Bộ Giao Thông và Quản lý Sông Ngòi. Chính là chuột nước nhưng từ lâu, thật rõ ràng là chuột nước phá hoại nông nghiệp nhiều hơn là hệ thống sông ngòi. Vì vậy, hiện nay họ không biết chúng tôi thuộc về - chà – và đó luôn luôn là vấn đề với các loại động vật.”
“Ông nói đúng đó,” tôi nói, “ loài cá gai không rơi vào bất cứ ai.”
“Ông muốn nói sao?” ông ta hỏi. “Ông biết thế nào?”
“Ồ,” tôi nói, “Có lần tôi muốn làm một phim về loài cá gai, vì vậy tôi kêu gọi trợ cấp ngân sách cho phim từ Bộ Văn Hoá và hỏi liệu tôi có thể nộp đơn xin trợ cấp không. Họ nói: được, nhưng loài cá gai thuộc về Bộ Nông Nghiệp và Đánh Bắt Thuỷ Sản. Ông sẽ phải áp dụng theo họ, và họ cho tôi số máy để gọi. Vì vậy tôi đã gọi. Một người ở đầu dây đó hỏi,”Đó là loại cá gì? Cá nước ngọt hay cá nước mặn?” “Ồ”, tôi nói, vào mùa sinh sản chúng sống ở vùng nước ngọt, và hết mùa sinh sản, chúng sống ở ngoài biển. “Ồ,, thế thì chúng rơi vào Bộ Đánh Bắt Thuỷ Sản” người đó nói và cũng cho tôi số máy. Tôi gọi đến số máy đó và trình bày câu chuyện của tôi. “Chúng là loại cá có thể ăn được hay không?” người đó hỏi. “Thưa ông,” tôi nói, “Tôi không biết liệu ông có bao giờ thấy cá gai chưa, nhưng nếu đã thấy, ông sẽ biết nó không thể ăn được”. “Ồ,” ông ta nói, “ thế thì chúng không thuộc Bộ chúng tôi”. Kết quả là, loài cá gai không rơi vào bất cứ bộ nào. Chúng không phải là cá nước ngọt vì chúng bơi ra biển vào mùa thu và chúng không phải là cá biển vì bạn không thể ăn chúng. Nhưng điều đó thực ra chẳng liên quan gì đến việc hôm nay. Chúng ta đang nói về loài chuột nước”.
“Vâng,” người thợ bẩy chuột nói,” ngoài việc thật không rõ ràng nó thuộc bộ nào, còn có một vấn đề nữa. Bắt chuột nước không phải là một nghề chính thức. Bất cứ ai cũng có thể làm được. Bạn không cần phải có bằng cấp. Đó chính là lý do tại sao nghề này được trả lương rất thấp, dù rằng nó là một nghề rất vất vả đòi hỏi một lượng lớn kiến thức chuyên môn. Hoặc nếu không, tất cả trở nên phá sản vì bạn bắt được quá nhiều mẻ phụ.
“Mẻ phụ?” tay phóng viên hỏi,”Đó là gì?”
“Ồ, nhiều động vật khác hơn là chuột nước trong các lưới giăng và các bẫy chuột của bạn.
Chuột đồng nâu thông thường, chuột nước hay vịt trời”.
“Hoặc chim lặn,” tôi nói thêm vào một cách ngẫu nhiên.
“Vâng,” ông ta nói, tất cả mọi nếp nhăn trên đuôi mắt ông ta biến mất trong giây lát và một sự cảnh giác nào đó xuất hiện trong đôi mắt sâu thẳm của ông. “Vâng, vấn đề lớn nhất của chúng ta là, loài chim lặn. Chúng lặn sâu một khoảng thời gian dài và bơi thật xa. Chúng giống như đi xuyên qua các ống cống bên dưới đường. Không có một động vật đơn thuần nào khác, ngoài chuột nước, làm điều đó. Ồ, loài rái cá cũng làm điều đó nữa, nhưng ông còn tìm đâu ra chúng nữa?”
Ông đốt ống điếu và nói, khi ông ta tự liệm chính mình trong làn khói màu trắng xanh đầy tang chế, “Chúng tôi đã có một vụ tai tiếng một lần ở đây. Năm con chim lặn trong một mẻ lưới.” Ông nhất ống điếu lên, kéo một hơi dài và bình luận. “Nhưng giờ đây chúng tôi có nhiều bẫy chuột tốt hơn và bẫy lưới được bảo vệ thêm bằng một then cài, mà chỉ loài chuột nước mới có thể mở được, vì vậy vấn đề chỉ là trong quá khứ. Loài chuột bơi với một tốc độ rất nhanh và chúng tôi đã có thể thích nghi các phương thức đánh bắt của chúng tôi với tốc độ của chúng. Nào chúng ta khởi hành chứ?”
Ông ta đứng dậy, khoác áo ngoài và rời khỏi khách sạn trước khi anh chàng phóng viên có đủ thời gian thu xếp các thiết bị.
“Thú vị” tôi nói, “điều này hứa hẹn sẽ rất vui. Cậu đã ghi âm được bất cứ thứ gì chưa?”
“Chưa,” anh ta trả lời một cách nôn nóng. “ Chúng ta đã thoả thuận là sẽ thu âm bên ngoài, có phải không?”
“Nhưng tại sao lại không ngay bây giờ? Thật khá hấp dẫn là loài chuột nước đó lại không rơi vào bất cứ bộ nào, có phải không?”
“Ồ, vấn đề đó là gì? Đó chỉ là những sự kiện, Thực tế có thể cho ta biết những gì? Vừa rồi, đó là về sự giải thích các sự kiện. Chúng ta cần chọn lọc các sự kiện một các cẩn thận. Chúng ta không thể chỉ thu âm một cách bừa bãi. Điều đó sẽ khiến cho tất cả lâm vào lối chuyện trò trần tục”.
“Vâng, cậu có thể nói lại điều đó một lần nữa,” tôi nói.” Dạo nọ, tôi có một sinh viên, chuyên nghành xã hội học, cậu ấy muốn làm một đề tài phụ nghiên cứu về hành vi và tập quán của động vật trong môi trường thiên nhiên và đã quan sát hành vi của loài cá gai. Cậu ta xuất hiện ngày đầu, ngồi xuống trước bể cá và hộp dụng cụ thử nghiệm, bị giật mình và lao ra nấp đằng sau một cây. Cậu sinh viên của tôi chờ một lúc nhưng con cá gai vẫn chưa xuất hiện lại sau mười phút, cậu ta bỏ đi. Hôm sau, cậu ta đến trở lại cùng với thùng dụng cụ, nấp phía sau một cây lần thứ hai. Điều tương tự diễn ra suốt một tuần lễ bởi vì loài cá gai vẫn cứ nhút nhát trừ phi bạn ngồi trước nó cả ngày mỗi lần. Trong suốt tuần lễ thứ hai, cậu sinh viên nói với tôi, “ Em đang cố gắng để làm bất cứ sự khảo sát nào, nhưng không thành vấn đề bởi vì thực sự là về ý tưởng, về sự hiểu biết sâu sắc hơn và về sự tổng hợp của chúng. Có lẽ anh cũng nên thực hiện sự khảo sát như thế cho tôi và tôi cũng sẽ quan tâm đến các ý tưởng”.
“Hoàn toàn đúng,” tay phóng viên nói, “anh sinh viên ấy đã hiểu nó hoạt động như thế nào. Vậy là ông thực hiện việc khảo sát này cho cậu ấy có phải không?”.
“Không,” tôi nói.
“Tại sao không?” tay phóng viên hỏi vì ngạc nhiên.
Nhưng tôi không trả lời. Tôi bước ra khỏi khách sạn và gia nhập với người thợ bẩy chuột, anh ta đang mang đôi ủng cao. Sau khi mang ủng xong, anh ta lấy ra một đôi ủng khác cho tôi từ trong cốp xe anh ta. Sau đó, anh ngồi vào sau vô lăng. Anh phóng viên bước lên phía sau và bất thình lình, trong lúc người thợ bắt chuột khởi động máy, chìa hai chiếc mi-cờ-rô giữa hai vai của chúng tôi.
“Đã sẵn sàng, ông có thể khởi hành,” phóng viên nói.
“Lúc này của năm, thời tiết khá ôn hoà,” tôi nói với người thợ bẩy chuột.
“Vâng,” ông ta nói, “gần giống như mùa xuân. Hoa lài mùa đông đã nở rộ”.
Ông có nghĩ là chúng ta có thời tiết nắng ấm hôm nay không?” tôi hỏi.
“Rất có thể,” ông ta nói. “ sáng nay dự báo thời tiết cho biết mặt trời sẽ bị che khuất trong các đám mây và thỉnh thoảng có mưa rào”.
Hai chiếc mi-cờ-rô màu xám đã biến mất và tôi nghe có tiếng cạch của máy thu băng được tắt phía sau tôi.
“Bây giờ hai vị hãy nhìn kỹ các mương nước,” người thợ bẩy chuột nói.”Tôi sẽ lái xe chậm lại. Hai vị sẽ có thể tự quan sát. Các nông gia phải cày cách mương nước khoảng một mét rưỡi, nếu không máy cày của họ sẽ bị lún xuống các hang đi sâu vào lòng đất dọc theo các mương nước. Hai vị có thể thấy rõ chứ?”
“Vâng,” tôi nói, khi tôi nghiên cứu mấy miệng hang đen ngòm có thể thấy rõ bên trên đường nước. “Nếu mực nước không thay đổi như thế, bạn sẽ có ít lỗ hang hơn,” tôi nói.
“Đúng vậy,” người thợ bẩy chuột nói,”chúng luôn luôn đào những lỗ hang bên trên đường nước. Nếu nước lên cao, chúng đào hang cao hơn, nếu nước rút xuống, thì chúng di chuyển xuống theo đường nước”.
“Có thể nào tạo ra một hệ thống thoát nước duy trì cùng mực nước để bạn chỉ có một hệ thống đường hầm nằm ngang không?”
“Ông muốn thiết lập hệ thống như thế bằng cách nào?”
“Điều này rất khả thi,” tôi nói.
Phía sau chúng tôi, tôi lại nghe một tiếng cạch rất rõ. Hai chiếc mi-cờ-rô màu xám xịt xuất hiện giữa chúng tôi giống như một cặp sóc nhỏ nằm ngủ.
“Tiếp tục,” tay phóng viên nói, “cái này hay đấy”.
Tôi nhìn ra đường chân trời khắp nơi và không nói gì.
Người thợ bẩy chuột nói,”Chúng luôn bắt đầu ở một góc và rồi từ đó thuộc địa hoá toàn bộ con mương”.
“Chúng tìm thấy nơi hoàn hảo ở đây,” tôi nói, “Hà Lan được thành lập cho loài chuột nước”
“Ông có thể nhắc lại điều đó không?” ông ta nói, “ nước thì khắp mọi nơi và nông nghiệp cũng vậy, nhưng chúng không rơi vào bất cứ loại qui định nào, và thậm chí chúng cũng chưa lan rộng đến nam Holland và bắc Holland, nơi mà chúng sẽ được thiết lập. Nếu chúng lan đến đó … “
Người thợ bắt chuột ngừng nói để tránh một chiếc xe chở phân chuồng.
“Rồi sao nữa?” tôi hỏi.
“Thì sẽ hết chuyện,” ông ta nói, “ chúng sẽ nhận chìm cả con tàu”. Các đập xả lũ và hệ thống đê diều dễ bị làm thương tổn nhất. Vâng, sẽ chỉ có một giải pháp”.
“Giải pháp gì?”
“Chiếm dụng những nhà thuyền,” ông ta nói.
Mi-cờ-rô biến mất như thể người thợ bắt chuột chỉ đang chờ đợi việc này bởi vì ông thắng gấp. Ông lập tức bước ra khỏi xe và trèo xuống bờ mương. Ông vén gấu đôi ủng lội nước lên và lội xuống nước. Bằng một cử chỉ quen thuộc mà đã để lộ cho thấy rằng ông đã quá biết rõ những gì ông sắp mang lên. Ông giở chiếc bẩy chuột lên. Nó có một con chuột nước màu sắt gỉ với bụng màu xám tái nhợt. Người thợ bắt chuột mở cửa bẩy, vứt con vật nhỏ giữa hai bàn chân tôi, nhất bẩy lên rồi đặt trở lại chỗ cũ. Ông bước ra khỏi mương, tóm lấy con chuột, dùng dao cắt đuôi. Sau đó, ông vứt xác con chuột chết lên cánh đồng ruộng đã cày xong mà nó trải dài từ phía bên kia mương đến tận chân trời đang hừng sáng.
“Hãy hỏi ông ta thêm điều gì đó đi,” tay phóng viên rít lên phía sau tôi.
Phải chăng tôi, một người phỏng vấn không được trả lương, được cho là có nhiệm vụ phải nhảy theo giai điệu của tay phóng viên này? Tôi tự hỏi. Tôi không muốn nghĩ ra thêm bất cứ câu hỏi nào nữa và lặng lẽ chờ người thợ bắt chuột đi tiếp. Nhưng ông ta chỉa về phía tôi một cây màu đỏ nhạt và nói,”cây thường xanh (ở miền đông nam Hoa Kỳ, lá bóng và có hình dáng như quả tim ND). Sắp tới rồi”.
Rồi ông đứng thẳng người dậy và đăm chiêu nhìn về phía chân trời.
“Xấu hổ, trời không ít sương mù hơn,” ông nói, “có lẽ chúng phải mất một khoảng thời gian để phát hiện ra tôi có mặt ở đây”.
Chúng tôi nhìn lên bầu trời màu xám đậm, và đang trở thành màu xám lợt hơn ở phía nam.
“Vâng, đây, chúng đây rồi,” ông nói.
Tôi thấy hai chấm đen đang từ bầu trời xa tiến về phía đông nam; chúng dần dần bắt đầu trông giống như những con chim. Những con chim đã đến gần với sự vỗ đôi cánh rộng cho đến khi chúng đột ngột bay lượn vòng tròn trên thửa ruộng nơi xác con chuột nằm.
“Hai con chim ó bu-tê-o,” tôi nói.
“Vâng,” ông ta nói, “ chúng thấy chuột ngon như tôi thấy. Chuột nước là món ăn hợp khẩu vị nhất của chúng vào lúc này của năm. Chúng tôi chia phần cho chúng một cách bình đẳng; nếu trong một ngày tôi bắt được sáu, thì mỗi chúng tôi đều có hai.”
Hai con chim ó bay vòng từ từ quanh xác chết của con vật nằm trên đất canh tác giống như một vết bẩn đã bạc màu.
“Chúng sẽ không nhào xuống mãi đến khi chúng ta đi khuất,” người thợ bắt chuột nói, “ và chúng sẽ nuốt nhanh con vật trong nháy mắt. Chúng thường theo tôi suốt ngày, dọn sạch mọi thứ tôi bắt được. Ồ, sự tái sanh ! Khi tôi đầu thai trở lại, tôi hy vọng mình trở thành một con chim ó. Không ai ghét chúng hoặc đố kỵ chúng hoặc cần đến chúng. Chúng không bao giờ bị buồn khổ hoặc gặp nguy hiểm, và bao lâu mà chúng còn ăn xác thối, thì chúng chẳng cần phải giết bất cứ ai còn sống. Và bạn có thể dám cá là nơi đây chính là thiên đàng của chúng. Loài chuột nước vẫn tiếp tục nhận chìm đất nước Hà Lan này cho đến khi nào không còn hậu duệ của loài người còn sót lại của những người một thời đã xâm lấn nơi này bằng thuyền gỗ. Và rồi nó sẽ giống hệt như nó đã luôn luôn là ở nơi đây. Loài chuột nước sẽ sinh sôi nẩy nở ở vùng châu thổ đen này, cũng như loài chim ó sẽ giúp họ khỏi phải mai táng những xác chuột chết. Và loài rái cá cũng sớm trở lại. Ông có biết không có thú vật cưng nào trung thành hơn một con rái cá? Nếu chủ chúng chết, chúng cũng chết theo. Vào thời Trung cổ, những người nghèo không kham nổi nuôi một con chó cưng, đã nuôi rái cá, và họ cũng rất may mắn được có chúng nữa. Chúng là động vật đáng yêu nhất dưới ánh mặt trời này. Tôi đã chứng kiến điều đó ở Châu Mỹ”.
Ông ta ngưng nói chuyện, dụi mắt một lúc và tôi nghe tay phóng viên thì thầm phía sau tôi, “Không khả dụng đối với tôi,” anh ta tắt máy ghi âm khi người thợ bắt chuột thong thả lái đi. miệng lầm bầm, “Chúng đâu có biết là chúng may mắn biết bao được sống ở đây. Tôi có thấy chúng ở Alaska, ở Canada, vào giữa mùa đông khi trời rét như cắt và chúng có thể vẫn tồn tại vì chúng có lớp da tuyệt vời, và ngay cả trong điều kiện nhiệt độ âm bốn mươi độ chúng vẫn có thể làm cho một ít nước toả ra như một nhóm. Nhưng ở đây, tại đất nước này, chúng không cần làm như thế chút nào. Ở đây chúng giống như những quan lớn. Nơi đây là vùng Đất Hứa, không rái cá, hoặc diều hâu, không mèo rừng hoặc chồn hoang.
“Thế chồn hôi không bắt chúng sao?” tôi hỏi.
“Không, chồn hôi không thích bị ướt chân,” người thợ bắt chuột nói.
“Và chồn cáo?” tôi hỏi. “Chúng đang bành trướng khắp nơi phải không?”
“Ông đang nói với tôi, nhưng chồn cáo cũng không thích xuống nước nữa, mặc dầu đôi lúc chúng cũng vớ được một chú chuột nước nhỏ lạc lõng, dại dột. Nhưng, nên nhớ: loài chuột nước hiếm khi liều lĩnh chạy lên đất liền. Có rất nhiều thức ăn dưới nước và dọc theo các bờ mương; chúng chỉ chui vào địa đạo từ bờ nước là gặp củ cải trắng, khoai tây, củ cải đường và đủ các loại cây trồng khác và chúng cũng có thể đi từ Vlissingen đến Groningen mà không phải băng ngang qua bất cứ con đê nào. Chờ chút, có một bẩy chuột khác ở đây. Ông ta bước xuống xe và thọc tay xuống nước. Một con chuột nước dính đầy bùn hiện ra trong chiếc bẩy, người thợ bắt chuột vội bắt nó ra và cắt đuôi.
“Hãy hỏi ông ta tại sao ông tiếp tục cắt đuôi chuột,” tay phóng viên thì thầm.
“Khỏi cần phải hỏi,” tôi nói, “Tôi có thể kể anh nghe. Ông ta làm vậy là để ngăn chận bất cứ ai tìm thấy chuột bị cắt đuôi và giao nó cho ông. Ông phải trả một khoảng tiền thưởng cho mỗi cái đuôi. Trước kia, thường là năm guilders, nhưng tôi không biết nay có còn giá đó không.”
“Vâng,” người bẩy chuột nói, “tiền thưởng vẫn còn giữ giá đó.”
“Vậy là năm guilders được mười lăm năm rồi,” tôi nói. “Bố tôi giết một con tại nghĩa trang vào năm 1963 và nhận được năm guilders.”
“Trong suốt mùa đông khắc nghiệt đó, Tôi sẽ cá cược? Vâng? Ắt hẳn đã là một cụ chuột già lẩm cẩm. Những con đực đứng tuổi thường đi lang thang ra ngoài một mình. Có lẽ đang tìm kiếm một nơi thích hợp để gối đầu vĩnh cữu.
“Thật kỳ lạ biết bao khi mà tiền thưởng từ lâu vẫn không tăng,” tôi nói.
“Không, không lạ đâu,” người thợ bẩy chuột nói, “thật dễ dàng hơn gấp năm lần để bắt được một con chuột nước hơn trước kia và mọi thứ đắt đỏ hơn gấp năm lần kể từ khi chúng lần đầu tiên bơi xuôi theo dòng sông Rhine.” Ông vứt con chuột chết dính đầy bùn vào một đám ruộng. Hai chấm đen từ trên bầu trời lặng lẽ bay đến.
“Có lẽ điều này rất lý thú đối với ông. Cách đây ba năm, một người xa lạ đang giao nộp cho tôi giữa khoảng mười đến mười bốn đuôi chuột một tuần. Việc này tiếp diễn khoảng gần một năm và tôi rất ngạc nhiên rằng tôi chưa bao giờ thấy gã đó ra đồng và tôi cũng không bao giờ có bất cứ một đầu mối nào về việc hắn ta bắt những con chuột đó ở đâu. Nhưng, - không thành vấn đề đối với tôi; Tôi không mất một khoảng tiền thưởng nào từ túi tiền của tôi. Một ngày nọ, trong khi tôi đang nói chuyện với một đồng nghiệp và ông bạn đó nói với tôi rằng mỗi tuần một gã nhăng nháo trẻ tuổi đầy tự phụ nào đó nộp cho bạn tôi từ mười đến mười lăm đuôi. “Với bộ ria mép dính chặt?” tôi hỏi, “Vâng, đúng đó” bạn ấy nói “Và mái tóc giống như có đất sét xát vào rồi chải ngược ra sau?” “Vâng,” anh ấy nói. “Tôi sẽ không miêu tả nó như cách anh nói, nhưng nó trông rất giống mái tóc của Elvis Presley. “Vậy đúng là gã đó rồi.” tôi nói. “Mình sẽ không nhận của hắn nữa nếu hắn đúng là người mà bạn vừa đề cập, tại sao hắn không đứng trước mi-cờ-rô và mở miệng ra chứ? Bạn có thể kiếm được một khoản tiền lớn với việc làm này, nhất là nếu bạn không biết điều chết tiệt về việc rao hàng bằng giọng của một nhà buôn tiếp thị, sẽ rất đáng xấu hổ.”
“Tôi đã tiếp xúc với một vài đồng nghiệp khác. Lại cũng cùng câu chuyện giống nhau ở khắp mọi nơi: một anh chàng trạc hai mươi tuổi nộp đuôi chuột khắp mọi nơi. Do vậy, tôi phản đối việc này một cách miễn cưỡng, tôi phải nhờ đến cảnh sát tham gia. Sau mười tám tháng trời êm đẹp – vẫn còn khá nhanh, bạn không nghĩ vậy sao? – hoá ra là một Hạt nào đó bị nạn đói hoành hành đang sống trên một điền trang rộng lớn với một ao nước dưới mỗi cây cổ thụ. Hắn đã thả chuột nước vào điền trang và bên ngoài đó, hắn ta nuôi chúng trong lô đất chuồng ngựa để trống. Đừng hỏi tôi bằng cách nào, tôi không có một manh mối nào. Mỗi ngày hắn ta bắt một vài con chuột từ các ao, và hắn cắt đuôi một vài trong số những con chuột mà hắn nuôi trong các chuồng ngựa (tôi vẫn còn phải trả năm guilders một đuôi, một con chuột của một con chuột) và hắn bán lớp da chuột còn lông cho nghành công nghiệp da lông thú, bởi vì ở Bỉ hiện nay vẫn còn thịnh hành trong việc buôn bán bộ da lông chuột nước, trong khi ở đây, tại xứ sở Hà Lan này, mặt hàng này bị cấm, và hắn còn bán các thứ chứa bên trong lớp da chuột cho các nhà hàng hải sản dọc theo duyên hải như thỏ nước, và hắn bán cho anh chàng đó với giá năm mươi Francs một đuôi. Vì ở Bỉ bạn mua hoàn toàn như cho không một đuôi chuột, cho nên anh chàng đó thường buôn lậu hai túi đeo bên yên xe đầy đuôi chuột qua biên giới trên chiếc xe mô-bi-lét của hắn mỗi tuần.
Tay phóng viên thậm chí không gặp chút rắc rối nào trong việc mở máy thu âm của anh ta, nhưng tôi hỏi, “Tại sao bán da lông chuột nước lại bất hợp pháp ở đây?”
“Bởi vì tấm da còn lông của loài chuột nước không có giá trị như nhau quanh năm. Nó dày nhất vào mùa Thu – sẵn sàng cho mùa Đông tới. Nếu bạn muốn buôn bán chúng, thật rõ ràng rằng mối quan tâm cao nhất của mọi người là chỉ bắt chúng vào mùa Thu và để chúng tự do suốt mùa Xuân và mùa Hè. Và những gì bạn có được lúc đó là không cần phải đuổi chúng đi, nhưng thực ra là hưởng lợi từ sự có mặt của chúng. Càng nhiều chuột, càng có nhiều tấm da lông. Đó là một phương sách hợp lý. Bây giờ tôi phải kiểm tra một cống nước ở chỗ này”.
Ông ta bước xuống mương nước và kéo lên một cái bẩy lưới từ bên dưới một cái đập. Có hai con chuột nước trong bẩy.
“Những con này không bị hại. Chúng chỉ bị nhận nước thôi. Món của tôi tối nay đấy; không có thịt nào ngon hơn thịt chuột nước – hương vị đậm đà, không dai và có mùi gia vị giống như thịt thú săn ngon nhất và không nhạt nhẽo; nó ngay cả còn mềm hơn thịt nai một tuổi. Thảo nào loài thú ăn thịt sống nhai ngấu nghiến chúng một cách ngon lành. Thật không thể nào tin nổi là chúng xoay sở để thoát khỏi Tiệp Khắc, nơi một hoàng tử đã mang chúng về từ Alaska đầu tiên thả chúng vào nơi hoang dã. Vâng, điều kỳ diệu là chúng xoay sở để lan tràn ra khắp mọi nơi, trong khi mọi thứ và mọi người có thể ăn đều thấy chúng ngon tuyệt. Chúng hẳn phải là động vật gây giống tuyệt vời nhất. Con cái của chúng có quanh năm.
“Vâng,” tôi nói, “vì vậy có vẻ như một nhiệm vụ đầy vô vọng để tống khứ chúng”.
Tôi nghe một tiếng tách đằng sau tôi. Hai chiếc mi-cờ-rô màu xám lặng lẽ xuất hiện giữa hai chúng tôi trở lại.
Tôi chưa bao giờ phải lo lắng về việc bị thất nghiệp,” người thợ bắt chuột nói ngay sau đó và rồi thong thả bước đi dọc theo bờ mương. Tôi bước theo sau ông, còn tay phóng viên đi trước tôi và sau người thợ bắt chuột và chìa một mi-cờ-rô vào miệng ông ta, còn chiếc kia vào miệng tôi, tôi nghĩ: Trong bao lâu nữa ông ta sẽ nhất chiếc này lên? Chúng tôi vẫn đang đi bộ dọc theo mương nước, người thợ già bước chậm rãi, gần như lê bước vì mệt, tay phóng viên vén quần lội dưới mương giống như con diệc mong bắt được một mẻ cá, và tôi bước theo anh ta chẳng nói gì, và thấy từ bên ngoài khoé mắt tôi, hai chấm đen từ từ bay trên bầu trời.
“Ông có thể khởi động lại đi,” tay phóng viên nói.
Tôi nhìn anh ta và nghĩ: anh ta trông giống như con bù nhìn đang đi với hai tay dang ra, và cái quần dài đen, chiếc áo khoác màu đen đó .Thật giống hệt như một bóng hình đang bước đi vậy, thực ra như thể anh ta không có ở đây nhưng đã gửi bóng dáng của mình, và tôi lại nghe anh ta nói,”Ông có thể bắt đầu bây giờ.”
“Bình tĩnh nào!” người bắt chuột nói, “ chúng ta có cả một thời gian dài phía trước”.
Chúng tôi bước đi trong cảnh tiêu điều mùa đông im lặng chết người, dọc theo con mương, rồi dọc theo con mương thứ hai, người bắt chuột chỉ cho tôi mỗi lần thấy những hang chuột hoặc dấu chân chuột nước, hoặc những chóp màu đỏ nhỏ xíu của cây thường xanh đang lú ra khỏi bùn. Tôi kinh ngạc trước sự kiện rằng tôi và người thợ bắt chuột đã hiểu nhau mà không cần nói ra một lời nào. Chúng tôi chỉ bước và bước dọc theo các con mương tiếp tục đến khúc quanh từ đó các kênh mương phụ hiện ra và các chấm đen vẫn bay theo chúng tôi với tốc độ chậm đủ để giữ chúng khỏi bị chộp cổ. Anh phóng viên tắt máy thu âm và nói, “Được rồi, bây giờ tôi đã đủ âm thanh nền rồi”.
Chúng tôi đi bộ từ chỗ đặt bẩy này đến chỗ đặt bẩy kế tiếp và không một bẩy nào trống không cả. Người thợ bắt chuột tiếp tục giở lên những chiếc bẩy đầy ắp từ các cống nước và nghĩ, nếu ông luôn bắt được nhiều như thế này, đất nước hẳn phải là một nơi lúc nhúc với những đàn chuột nước. Có tới ba loại chuột nâu ở một trong những cống nước, và một trong những chiếc bẩy tuôn ra một con chuột không đuôi (“tôi sẽ sớm bắt con vật này lại để lấy năm guilders,” người bắt chuột nói).Buổi sáng trôi qua, và cơn mưa phùn giá lạnh mà đẹp đổ xuống khi chúng tôi cuốc bộ về lại chỗ xe của người thợ bắt chuột đậu. Chúng tôi tiến về khách sạn, hành lang bây giờ đã khô, tôi gọi mấy cái bánh xăng-uýt, ngồi xuống một chiếc bàn mà có lẽ đã được đặt cho bữa cơm tối.
Tôi hỏi người thợ bắt chuột, “Ông đã đậu lại ở cái nghề này như thế nào?”
“Chuyện dài lắm,” ông nói, “nhưng những gì nó đưa tới là rằng tôi đã thử khá nhiều những thứ mà một người đàn ông có thể làm được trước khi tôi từ từ nhận ra rằng, thực ra, ngành nghề lâu đời nhất một người đàn ông đã từng có, vẫn còn cung ứng một sự thoả đáng nhất, dù rằng tôi thực hành nó bằng những chiếc bẩy sập và bẩy lưới hơn là bằng cung và tên. Nhưng sự khác biệt là không nhiều lắm, và tôi sớm khám phá ra rằng không có cách nào tốt hơn để kiểm tra xem liệu những con mương sạch trước kia chưa đảm trách bởi loài chuột là cởi ngựa đến tận những nơi đó và khảo sát chúng trên lưng ngựa. Hôm nay tôi lái xe là vì các ông đến, nhưng thường là tôi làm mọi thứ trên một con ngựa, mặc dầu bộ mà tôi không còn thuộc về nhất định đã thấy thật kỳ lạ là tôi đã thích lúa mạch hơn là xăng dầu. Tôi khởi nghiệp bằng việc theo học chuyên ngành lâm nghiệp ở Wageningen nhưng tôi chưa tốt nghiệp ở đó vì tôi có dịp để đến Venezuela. Tôi đi đốn củi với những người bản xứ một vài tháng. Mỗi ngày tôi vào rừng với bốn mươi người bạn. Họ đi chân trần và gần như mỗi ngày một trong số họ thường dẫm lên một trong những con rắn màu xanh rêu nhỏ xíu, và bị chúng cắn. Trong vòng hai phút, người bản địa này đã vặn vẹo rất nhiều, hai bàn chân thường lên tới mái tóc xoắn của anh ta và chúng tôi uốn cho anh ta thẳng lên lại. Và móc anh lên một chiếc cán và hai người đàn ông khác đưa vai vào mỗi đầu cán để khiêng anh ta đi. Tôi liên tục yêu cầu ông chủ của tôi trang bị giày cho những người bản xứ đó, nhưng ông ta nói vô ích thôi. Vì vậy tôi đã dành dụm tiền và mua bốn mươi đôi giày cho một lần đi núi. Họ rất mừng. Bốn mươi con người da đen mang tám mươi chiếc giày vào rừng và hôm đó không một cái chết đơn thuần nào đến với họ. Nhưng vào ban đêm họ bắt đầu chơi bài – giày là tiền đặt cược ! Họ chơi cho đến khi nào một người thắng hết tất cả số giày đó. Ngày hôm sau họ vào rừng trở lại. Một người buộc bốn mươi đôi giày lại với nhau và mang chúng trên vai. Thế là hôm đó chúng tôi lại có một thân thể vặn vẹo nữa. Rồi tôi trở về Hà Lan. Tôi không thể tìm thấy bất cứ thứ gì thích hợp với tôi. Tôi làm việc trong ngành cung ứng lương thực và ngay cả trong ngành xây dựng một thời gian. Tôi đã làm mọi thứ, nhưng việc mà tôi thích nhất là cán bộ lâm nghiệp. Vì vậy khi loài chuột bắt đầu xuất hiện ở đây, tôi nhanh chóng trở thành thợ bẩy chuột. Kể từ đó, tôi rất hạnh phúc, nhất là bên ngoài đây, ở miền quê này, nơi mà bạn không tình cờ gặp phải một bóng người, tôi lại có đủ các thứ mà tôi cần: một con ngựa, một mái nhà che nắng che mưa, không một người đàn bà nào ở chung quanh, một xô lúa mạch, một ít thuốc lá khi nào thích hợp, một bình đông cũ để pha cà phê trong đó, và đủ các loại việc làm khác nhau ở ngoài trời. Nhưng thực sự là anh làm nghề gì? Tôi hiểu là anh làm việc ở một trường đại học, và ngoài việc đó ra, anh còn viết lách, anh phóng viên đã kể cho tôi biết?”
“Đúng vậy,” tôi nói.
“Vâng,” ông ta nói, “ tôi đã gặp một vài nhà văn trong đời tôi. Thường thì họ đến đây với đủ các loại lý do quan trọng cho công việc viết lách của họ. Bề ngoài là họ không thể làm bất cứ thứ gì khác, họ phải, đó là điều bắt buộc, đó là một nhu cầu, một sự cần thiết, và nếu họ muốn làm ra vẻ bí ẩn với bạn hơn, họ nói họ muốn mang lại một sự thay đổi trong việc viết lách của họ, nhưng cảm nghĩ của tôi là rằng họ đã thiếu may mắn đủ để có thể là những kẻ nói láo bẩm sinh. Mỗi nhà văn là một người được sinh ra để nói láo, và trong khi bạn không tiến xa hơn trong xã hội này, hay trong bất cứ nơi nào khác, họ cực chẳng đã phải làm như một kẻ lừa đảo. Nhưng dẫu sao ! Nếu bạn là một nhà văn, tôi có một câu chuyện rất hay về loài chuột nước để kể cho bạn. Cách đây hơn sáu tháng, người chủ của một toà lâu đài, Huys Hooghgelegen, đã hỏi liệu tôi có muốn tạt vào trong để xem vì ông nghi ngờ khu điền trang của ông đã bị chuột nước tràn vào để phá hoại. Vì vậy tôi đến đó và chúng tôi cùng đi rảo quanh khu điền trang mênh mông của ông và ông kể với tôi rằng con số ngày càng gia răng của những bông hoa biến mất khỏi các luống hoa. Thoạt đầu, ông nghĩ các con của ông đã hái hoa, nhưng vì chúng khăng khăng phủ nhận bất cứ thứ gì có liên quan với việc ấy, ông bắt đầu nghi ngờ một ai khác ắt hẳn đang hái trộm hoa thược dược, quả lê vàng. Ông đã không xoay sở để tóm lấy bất cứ ai về chuyện này, dù rằng bông hoa vẫn cứ biến mất trên cơ sở hằng ngày. Những gì ông đã chú ý thấy là chúng chủ yếu bị hái trộm ở vùng phụ cận của cái ao lớn nhất của ông. Trong ao - vâng, thỉnh thoảng những người họ hàng thân thuộc đến để làm những việc điên rồ để vui chơi giải trí – ông đã cho xây một mô hình theo tỉ lệ của toà lâu đài Muider, với một chiếc cầu và những bức tường dày, các tháp canh và tháp pháo với những khẩu súng thần công nhỏ được lắp đặt trên đầu mỗi bức tường. Ông tiếp tục nghe những tiếng động bên trong toà lâu đài. Dường như toà lâu đài quá nhỏ để không thể chứa nổi một con ma thực sự, và vì ông không tin vào những con ma lùn, nên ông phỏng đoán rằng những con chuột đồng hay chuột nhà ắt hẳn đã đang tận dụng nơi đón khách của ông, và mời một thợ bẩy chuột thường xuyên đến. Nhưng ông không tìm thấy bất cứ thứ phân chuột hay dấu răng hay ổ chuột nào. Đây là lý do tại sao ông thôi nghĩ rằng loài chuột nước có lẽ đã chiếm cứ chỗ ở trong lâu đài Muider. Khi chúng tôi đi bộ quanh lâu đài, tôi đã có thể thấy từ xa rằng ông ta đã đúng. Cái ao quanh nơi tiêu khiển của ông đầy ắp những cây hoa súng, nhưng không có lấy một bông hoa nào hay ngay cả một nụ hoa nào được thấy. Nếu bạn biết rằng loài chuột nước rất thích nhét đầy bao tử chúng với những chồi hoa súng, bạn có thể đoán ra trường hợp bị cắt và bị khô. Đối với tôi: loài chuột nước đã tràn vào toà lâu đài. Điều duy nhất tôi thấy lạ là chúng đã chọn Lâu Đài Muider đó. Nó không giống như chỗ ở thích hợp cho loài chuột nước chút nào. Tôi liền đưa ra kết luận một con chuột già cô độc chiếm lấy chỗ ở; nó tự tách mình ra khỏi bầy đàn và đã có chút thú vị trong đầu. Chúng tôi xem xét toà lâu đài tới một chừng mực có thể. Và chơi trò bin-go: bạn biết loài chuột nước quậy tung mọi thứ lên với đất mùn. Chẳng mấy chốc tôi đã thấy gã chuột già vô hình ấy đã lấp đầy các cửa ra vào với đất mùn, và đóng kín các cửa sổ với đất mùn, và khoá chặt các tháp súng với đất mùn. Ngay cả các họng súng thần công nhỏ cũng đã nhét đầy đất mùn. Tôi đặt bẩy lưới không chỉ bên dưới chiếc cầu vào lâu đài mà còn kế bên tất cả các hang khác mà tôi có thể tìm thấy trong toà lâu đài bên dưới đường nước. Nhưng tôi chẳng bắt được thứ gì.
“Ngài bá tước ấy đã gọi điện cho tôi mới đây, để báo cho tôi biết là cuối cùng ngài cũng đã xoay sở để bắt được con vật ấy. Một đêm ông nghe những tiếng động từ dưới bể bơi, đang để trống vào mùa đông, và lần theo tiếng động ông phát hiện một con chuột nước đã rơi xuống bể và không thể ra được. Và điều này sẽ chứng minh con người hoảng sợ biết bao đối với loài chuột nước bởi vì ông đã đổ xăng lên con vật, châm lửa một tờ báo và ném vào nó. Khủng khiếp!”
“Tại sao con người quá kinh sợ đối với loài chuột nước?” tôi hỏi.
“Bởi vì chúng quá bự và chúng nhảy xổ vào bạn”.
“Thực vậy sao?” tôi hỏi. “Chúng làm điều đó?”
“Nếu bạn ở ngoài đồng với một con, nó thản nhiên tiến về phía bạn. Chúng không biết sợ là gì và nếu bạn không tránh đi, chúng sẽ cố cắn bạn đó. Người ta sợ phát chết đối với chúng. Nhưng bây giờ tôi để cho hai ông bạn nghỉ ngơi ít phút và rồi chúng ta sẽ đi xem một con đê và hai ông có thể thấy loại thiệt hại nào mà chúng đã gây ra”.
Ông ta rảo bước ra ngoài và tay phóng viên thì thầm,”Chúng ta phải hướng đề tài này sang cách khác, chứ nếu không sẽ không có giá trị.”
“Anh đã không ghi âm câu chuyện lý thú về toà lâu đài Muider sao?”
“Không,” anh ta nói một cách bực dọc. “chuyện có tính cách giai thoại vớ vẩn. Không thể đúng sự thật. Tháp súng. Bạn biết tháp súng chỉ có trên máy bay chứ không có trong các toà lâu đài. Mục đích của những câu chuyện như thế đó là gì? Chúng ta cần sự hiểu biết thấu đáo hơn. Chúng ta cần đương đầu với thính giả với những ý tưởng về loài chuột nước và sự thảo luận về cả hai ý tưởng của anh. Một sự trao đổi phải thoát ra khỏi nó. Loài chuột nước chỉ là một phương tiện – mục đích là sử dụng hiện tượng này để đạt được một sự hiểu biết sâu sắc hơn vào cơ cấu của xã hội chúng ta. Đó là về sự xung đột giữa sự giải thích của bạn và thực tế của ông ta, trong đó loài chuột là chất xúc tác. Chúng ta có thể rút ra được những gì từ các thông tin đó? Tất cả những sự kiện đó? Tất cả những câu chuyện vớ vẩn kia? Mục tiêu là các ý tưởng, những sự tổng hợp, và các bản tóm tắt!”
“Anh đã nói điều đó,” tôi nói.
“Vâng, anh ta nói, “Chúng ta cần làm một chương trình mà có vẻ về loài chuột nước nhưng thực ra là phải thâm nhập sâu hơn. Loài chuột nước phải to lớn bằng thế giới”.
“Một con chuột nước khổng lồ?” tôi hỏi một cách ngây thơ.
“Chính xác”, anh ta nói “bắt đầu từ bây giờ thôi hỏi các câu hỏi và bắt đầu thảo luận, đừng theo sau những trải nghiệm của ông ta, mà các ý kiến của ông ta, nếu không sẽ có vẻ hời hợt và có tính chất giai thoại!”
Người thợ bắt chuột trở lại. Chúng tôi đứng dậy, trả tiền, và chẳng bao lâu chúng tôi đang lái xe trong sương mù màu xám nhạt một chiều tháng giêng. Chiếc mi-cờ-rô chìa ra kế bên tôi trở lại, nhưng tôi không hỏi câu nào và cũng không nói chuyện. Tôi chỉ nhìn lơ đãng ra phía những con mương dọc theo đường lộ, nhận ra các biển tên của sự hiện hữu của chúng. Từ lúc này trở đi, tôi gần như không nói vào mi-cờ-rô, nhưng chỉ giữ nó cho riêng tôi để kịp lúc - tôi luôn luôn có thể nhận biết những chủng tử này, dù rằng mãi đến hôm nay tôi vẫn không chú ý đến chúng. Dường như tôi đã từng nghe thấy ai đó, đã tạm thời nắm quyền kiểm soát tư tưởng của tôi, nhận xét rằng: Và đó là điều khó khăn nhất, là một nhà quan sát giỏi. Nó chính là một cái gì đó mà chỉ một đứa bé, chưa bị làm hư hỏng bởi các ý tưởng, mới có thể làm được. Bởi vì mọi thứ bạn nghĩ là một loại gánh nặng đối với sự cảm nhận của các giác quan, được trả giá bằng các lý lẽ của bạn, bởi vì bằng cách này hay cách khác bộ óc của bạn phải làm đúng chức năng của nó . Những gì nó truyền lại không chỉ là chức năng của bộ óc và sự giả tạo không đúng một cách vĩnh viễn và tất yếu và triết lý nông cạn chúng đưa ra, mà còn là khả năng xử lý tất cả những chấn lưu dư thừa đó, thứ vật chất đó trong óc của bạn được sản sinh bởi tư tưởng, và để thay thế nó với một sự cảm thụ duy nhất, luôn chỉ xảy ra một lần cho những cảm giác chỉ xảy ra một lần, bởi vì trong toàn bộ cuộc sống của bạn không có gì giống nhau hoàn toàn, vì vậy mỗi lúc có giá trị riêng của nó, và giá trị đó được ghi nhận qua các giác quan của bạn và vì vậy, thực ra, ngay cả không có bất cứ thời gian nào để lại cho bạn suy nghĩ.
Chúng tôi dừng xe lại và đi bộ dọc theo một dòng sông nhỏ, không chỉ nửa tiếng hoặc một tiếng đồng hồ mà toàn bộ buổi chiều. Tôi đã nghi ngờ người thợ bẩy chuột đã có chủ ý dẫn chúng tôi trên một chuyến đi bộ dài, đúng vậy, ông ta muốn thử khả năng chịu đựng của chúng tôi. Ông ta đã đi bộ một cách không biết mệt mỏi đằng trước chúng tôi, mặc dầu đã cao tuổi, và phần lớn thời gian anh phóng viên vẫn đi giữa ông ta và tôi, thỉnh thoảng chìa mi-cờ-rô của anh ta vào đúng vị trí để có hiệu ứng tốt.
Chắc chắn rồi, người thợ bắt chuột và tôi thỉnh thoảng lại tán gẫu, và một lần nữa cuộc tranh luận có nguy cơ phát triển một cách kịch liệt bởi vì người thợ bắt chuột tình cờ nói rằng các hang chuột không bị vùi lấp cho đến khi nào chúng không còn được sử dụng khoảng hai năm và tôi nói, “ Hiển nhiên. Thực ra, không phải là mối quan tâm to lớn đối với các hang của chúng có sụp đổ hay không khi mà chúng còn ở trong đó, vì vậy, các hang sẽ không sụp đổ trừ phi chuột bị bắt và không thể giữ hang của chúng trong tình trạng tốt được.”.
“Phi lý,” ông ta nói, “chúng đào khá nhiều hang và đào quá sâu, nên luôn luôn có nguy cơ bị sụp đổ”.
“Nhưng như ông vừa nói, các hang sẽ không sụp đổ trừ phi chúng bị bỏ trống khoảng hai năm”.
“Vâng, nếu một máy cày không lái qua chúng.”
“Do vậy chúng mới bị sụp đổ?”
“Đôi lúc,”.
“Thường xuyên?”
“Tôi không biết.”
Đó chính là lúc tay phóng viên đẩy nhanh hoạt động . Chiếc mi-cờ-rô được chỉa vào miệng chúng tôi trở lại và anh ta nói, “Nào hãy tiếp tục sự tranh luận đó, được không.”
“Tất nhiên,” người thợ bắt chuột nói, “như tôi đã nói, luôn luôn có nguy cơ bị sụp đổ nhưng nguy cơ to lớn hơn khi mà các hang bị bỏ trống một thời gian khá lâu”.
“Hoàn toàn đúng,” tôi nói và chúng tôi đi xa hơn dọc theo dòng sông mà ở một vài chỗ đã bị vỡ bờ vì vậy chúng tôi phải lội qua các bóng mây trên mặt nước, và tay phóng viên thu âm tiếng bước chân lõm bõm của chúng tôi. - “Tuyệt để phát lúc mở đầu chương trình,” anh ta nói, “ thiết lập cảnh” – và ánh sáng buổi chiều tháng giêng ảm đạm nổi lên từ mặt đất chưa hoàn toàn đóng băng. Trời trở nên giá lạnh. Đôi bàn tay tôi bắt đầu run, đôi bàn chân là hai tảng băng, nhưng điều này không khiến tôi nản chí vì tôi đang đi dọc theo vùng sông nước phẳng lặng trong đó bóng những cây dương liễu trơ cành tạo thành những bóng hình lặng thinh đầy ma quái.
Khi chúng tôi đến một con đê trên vùng đất cao hơn, người thợ bắt chuột nói, “Có nguy cơ bị vỡ đê ở chỗ này mùa hè vừa rồi. Loài chuột đào xuyên qua vì vậy khi nước sông lên cao, chảy xuyên qua các hang, sở thuỷ lợi địa phương đã phải sử dụng một số máy móc hạng nặng để ép các hang đóng chặt lại”.
Tôi chú ý lắng nghe những gì ông ta nói và nghĩ: Bạn thấy đấy. Những hang này được tạo khá kiên cố, chúng không bị sụp đổ. Chúng cần đến máy móc công nghiệp nặng để ép chúng bị lấp. Nhưng tôi không nói gì, bởi vì tay phóng viên, người mà đã có vẻ không có tai để nghe, đã không cho tôi một cuộc tranh luận mà đáng lẽ tôi đã có với người thợ bắt chuột trước đó.
Chúng tôi tiếp tục đi qua khỏi rừng dương, dọc theo con sông nhỏ. Tôi đã bỏ nhỡ những chấm đen nhưng chú ý thấy một con vịt đen trắng, mắt vàng chỗ dòng sông uốn khúc, thật lạ lùng, đã bơi qua một mình và lặn xuống bên dưới một lúc với sự dễ dàng nhuần nhuyễn hấp dẫn đến nỗi không thể cưỡng lại được mà ngay cả một con chim lặn cũng không thể ngang bằng. Chúng tôi thấy hai con chim lặn nhỏ cách đó không xa. Người thợ bẩy chuột dừng lại một lúc và chỉ tay về phía chúng. Tôi mỉm cười và ông ta nói, “ hai trong số chúng, mặc dầu.”
“Hai trong số gì?” tay phóng viên hỏi.
“Hai con chim lặn,” người thợ bắt chuột nói.
“Vậy chúng là gì?” tay phóng viên hỏi.
“Chim lặn con,” người thợ bắt chuột nói, “ trông kìa, có thấy chúng đang bơi đó không.”
“Ở đâu?” tay phóng viên hỏi và người bắt chuột chỉ tay ra chỗ dòng nước. Nhưng con chim lặn nhỏ đã lặn xuống dưới và anh phóng viên nói, “tôi không thể thấy bất cứ thứ gì.”
Chúng tôi tiếp tục đi bộ. Con đê nhô cao lên trước mặt chúng tôi và đằng sau nó ánh lên một cái hồ được viền quanh bởi những thửa ruộng và một rừng cây. Và bầu trời sáng lên một cách đột ngột lần thứ hai trong ngày, mặc dầu trời đã gần như nhá nhem tối, bởi vì mặt trời bất ngờ chọc thủng những đám mây trước khi ngay lập tức biến mất trở lại. Khi chúng tôi trèo lên đê, tôi nghe tiếng kêu lạc đàn của một con chim mỏ nhác và sau đó một chút, tôi bỗng thấy năm con bay lên từ mép rừng cây màu xám. Chúng đã không bay lên tất cả cùng một lượt, nhưng lần lượt từng con. Trong khi con đầu tiên rời khỏi khu rừng, con sau cùng vẫn còn phải dang cánh.
“Nhìn kìa,” người thợ bẩy chuột nói, “con đê đã bị vỡ ở chỗ này cách đây một hoặc hai năm, bởi vì nó bị yếu đi bởi các địa đạo của loài chuột nước. Chính công trình kiến trúc của cái đập duy nhất này không thuộc về sự quản lý của sở thuỷ lợi địa phương. Khi đê vỡ, họ liền có mặt để sửa chữa. Và kia là đầu nguồn nơi chúng ta sắp tới, ở đây tại Hà Lan này, và đó là lý do tại sao tôi đưa hai vị đến đây vì sẽ là người phạm tội nếu không chỉ cho quí vị chỗ này. Đây, ba mươi centimet dưới đường nước, và bốn mươi centimet bên trên đường nước. Người ta xây lớp ốp mặt băng đá xây để ngăn chuột khỏi đào hang trở lại. Tôi hy vọng đích thân hai vị thấy nó xấu xí biết bao, và sớm muộn gì rồi chúng cũng đào xuyên thủng. Nhưng trước khi điều đó xảy ra, các viên chức chính phủ thuộc các bộ và uỷ ban liên quan sẽ khám phá ra rằng các mặt ốp đá xây rất hiệu quả trong việc ngăn chận chúng khỏi đào hang và họ xây các bờ mương bằng đá xây khắp mọi nơi mãi đến sau một thời gian khá lâu, loài chuột đầu tiên đã đào thủng qua được, bởi vì trước khi điều đó đến các bộ và các uỷ ban thì loài chuột sẽ sinh sôi nẩy nở lên gấp ba mươi lần, hoặc đại loại như thế, và tất cả các bờ sông có lau sậy và thảm thực vật phong phú của chúng ta bị hy sinh hết”.
Ông ta ngừng nói. Ông buồn bã nhìn bờ bên kia của cái hồ nhỏ mà, dưới chân của bờ đê lát đá, tung một cách hiền hoà những đợt sóng nhỏ không biết bao lần lên lớp đá màu xám xanh. Xa hơn nữa, mặt nước phẳng lặng như gương soi. Nó chảy gần như không thể nhận thấy vào cánh đồng cỏ, nơi hàng ngàn con chim sâm cầm đang đứng. Tất cả chúng đang nhìn về phía chúng tôi. Khi chúng tôi đi xuống bờ đá, chúng quay đầu rồi quay tấm thân màu đen của chúng bốn mươi lăm độ và bắt đầu bỏ đi. Đó là một cái gì bạn sẽ không bao giờ quên, tất cả những mỏ chim màu trắng ấy bỗng chốc không còn có thể thấy, và tất cả những thân chim màu đen lặng lẽ di chuyển khỏi chúng tôi một cách có kiểm soát, mặc dầu chẳng cần thiết bởi vì, một khi chúng tôi đến bờ nước, chúng tôi dừng lại để ngắm nhìn những con chim sâm cầm đang từ từ rút lui, bỗng tất cả chúng cùng lúc nhìn lại vì vậy tất cả những chiếc mỏ màu trắng kia có thể nhìn thấy trở lại, và rồi dừng lại tại chỗ của chúng giống như chúng tôi. Mặt trời hiện ra trở lại, ngay tức khắc quét một vệt sáng qua bầy chim, chiếu rọi, soi sáng qua từng con, rồi biến mất khi tia nắng di chuyển, quét nhanh qua chúng tôi như khi nó đến.
Tay phóng viên đến đứng đằng sau chúng tôi, vòng hai micro giữa hai vai của chúng tôi, thì thầm, “Tiếp tục,” nhưng người bắt chuột đặt một ngón tay lên môi và rồi nghiêng ngón tay về phía trước cho đến khi ông chỉ vào những con chim.
“Chú ý,” ông nói nhỏ đến mức tôi cảm thấy như mình bị điếc. Tôi nhìn ngang qua mặt nước đến chỗ các con chim, và thấy rất rõ những đám mây đen, tuy chưa phản chiếu một cách đầy đe doạ trên mặt nước phẳng lặng giữa hồ, nhưng đã làm gợn sóng khắp các mép hồ. Vì tôi chỉ chăm chăm nhìn những đám mây đen chiếu sâu dưới nước, nên tôi phải mất một thời gian để chú ý thấy, dù rằng nó đã diễn ra trước đó một lúc, rằng vài con chim sâm cầm ở giữa đàn chim khổng lồ đang đứng bất động, đang di chuyển sang một bên để cho con vật gì đó đang di chuyển chậm rãi và điềm tĩnh về phía chúng tôi. Khi nó là bất cứ con gì đó đang tiến tới nửa đường, tôi thấy những con chim bình thản và gần như hờ hững dành cho nó một lối đi ngắn, trước khi đứng xếp lại. Tôi nhìn không nháy mắt, quá thích thú để không bỏ nhỡ một giây nào. Tôi nhìn chăm chú vào cái lỗ đang chuyển động xuyên qua đàn chim, tiến gần đến đường nước. Tay phóng viên lại thì thầm phía sau tôi, nhưng tôi đẩy chiếc micro màu xám xịt qua một bên. Những con chim sâm cầm sau cùng di chuyển sang một bên, thoáng hiện ra trong ánh hoàng hôn đầy sương mù đã sẫm tối một hình dạng dài, phẳng, màu đen tự nhúng mình vào trong nước và bắt đầu đan bện những đám mây phản chiếu. Nó để lại phía sau những gợn sóng bắt đầu loang rộng hơn và chảy lùi về phía những con chim, khi nó đến gần nơi mà một phần nhỏ của mặt trời, đã đỏ sẫm, nhưng chủ yếu là bị che mờ bởi những đám mây, bị phản chiếu trong nước. Nó bơi ngang qua mặt trời, biến mặt trời thành những gợn sóng chạy sang bên trái, bên phải và phía sau nó, chẳng bao lâu tan dần, và cùng lúc đó, nó đang tiến về phía chúng tôi. Đồng thời, nó đã có vẻ không thực sự đang di chuyển; như thể ai đó đang kéo nó đi xuyên qua cái hồ, phẳng lặng, màu xám tro đó. Khi nó đến bờ hồ lát đá, cách khoảng mười mét từ chỗ chúng tôi đang đứng, nó do dự một lúc. Đầu nó biến mất dưới nước và chẳng bao lâu xuất hiện trở lại xa hơn khoảng năm mét, và từ đó nó trèo lên bờ, ngay cả không làm rỉ nước, cũng không rùng mình cho nước rỉ ra, trước khi bước đi hết sức chậm rãi từ chỗ chúng tôi băng qua bờ hồ ốp đá xây bóng loáng.
“Nó làm điều đó mỗi đêm,” người thợ bẩy chuột thì thầm.
“Nói lớn lên,” tay phóng viên nói, “nếu không tôi sẽ không thu âm được”.
“Nó ở đây mỗi đêm,” người thợ bẩy chuột nói, xoay về phía tôi để cho tôi cơ hội hiểu theo cách mấp máy môi những lời không nói ra của ông.
“Nó luôn luôn đến đây khoảng giờ này, khi mà những con chim mỏ nhác bay đi và chim sáo đá tìm các cây để ngủ. Tôi nghĩ nó là một trong những lão chuột già đơn độc kia.
“Nó làm gì ở đây?” tôi hỏi càng nhỏ càng tốt.
“Tôi không biết. Có lẽ nó khảo sát bờ hồ để xem liệu có chỗ nào nó có thể đào một cái hang chỉ cho chính nó không, ở đây nơi mà, ít nhất trong lúc này, không có nguy cơ nó sẽ bị quấy nhiễu bởi kẻ khác.
“Ông không bị cám dỗ để bắt nó sao?” tôi hỏi.
“Tôi không thể tự cho phép mình làm điều đó” ông nói, “nó không còn có thể làm hại bất cứ ai nữa. Nó không thể làm những con khác mang thai. Những con chuột cái không muốn giao phối với lão chuột già kiệt sức như nó”.
Ông ta thôi cử động đôi môi không âm thanh nữa, và chỉ nhìn chăm chăm vào một mảng màu đen rộng lớn đang di chuyển không chút vội vàng về phía điểm dừng của bờ đá và là chỗ hồ nước đổ vào con mương.
“Anh có thể nói là lão chuột già này sắp đi tới hồi kết của cuộc đời,” người thợ bẩy chuột nói, “nó làm mọi thứ một cách chầm chậm như thể cõi vĩnh hằng đang ở trong tầm tay”.
Con vật đi lạch bạch một cách chậm rãi, ung dung qua từng viên đá tách biệt. Tôi lấy làm tiếc là tới lúc này nó đã đi khá xa bởi vì tôi không còn thấy gì ngoài một bóng đen mơ hồ, không chỉ đang đi khuất xa mà còn hoà tan dần dần trong buổi hoàng hôn mỗi lúc càng tăng về đêm.
“Không,” người đàn ông lùn, mái tóc muối tiêu, có lần đã đến Venezuela nói, “không, tôi không thể và sẽ không bắt nó. Tôi đến đây mỗi đêm để xem liệu nó vẫn còn sống, và mỗi đêm một niềm hạnh phúc dấy lên trong tôi khi thấy con vật còn đó – và rồi tôi nghĩ thế giới này không thể là một nơi tồi tệ đến như thế nếu loài chim sâm cầm vẫn còn là một phần đối với một người đàn ông già cô độc, và nếu gã chuột già kia vẫn còn có thể tìm được một nơi để tựa đầu qua đêm”.
Phan Thiện Trì chuyển ngữ
August 2021
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét