TRUYỆN NGẮN MỸ - AMERICAN SHORT STORIES
SSA1. ĐÔI BÍT TẤT LỤA - Kate Chopin https://gtvh51.blogspot.com/2021/11/ssa-bit-tat-lua-kate-chopin-mot-ngay-no.html
SSA2. QUÀ TẶNG CÁC ĐẠO SĨ - O’ Henry https://gtvh51.blogspot.com/2021/11/truyen-ngan-my.html
SSA3. NHÓM LỬA https://gtvh51.blogspot.com/2021/11/ssa3.html
SSA4. SAU HAI MƯƠI NĂM - O’ Henry https://gtvh51.blogspot.com/2021/11/ssa4-sau-hai-muoi-nam-henry-vien-canh.html
SSA4+ CÂU CHUYỆN MỘT GIỜ -Kate Chopin , https://gtvh51.blogspot.com/2021/11/ssa4.html
SSA5. ÔNG LÃO BÊN CẦU - Ernest Hemingway https://gtvh51.blogspot.com/2021/11/ssa5_12.html
SSA7. CÔ BÉ BÁN DIÊM - O’ Henry https://gtvh51.blogspot.com/2021/11/ssa7.html
SSA8. BIẾN CỐ XẢY RA Ở CẦU OWL CREEK - Ambrose Bierce https://gtvh51.blogspot.com/2021/11/ssa8.html
SSA9. CON CHÓ MÀU NÂU SẪM - Stephen Crane https://gtvh51.blogspot.com/2021/11/ssa9.html
SSA11. THÙNG RƯỢU Edgar Allan Poe https://gtvh51.blogspot.com/2021/11/ssa11.html
SSA12. CĂN PHÒNG TRÊN TẦNG THƯỢNG - O’Henry https://gtvh51.blogspot.com/2021/11/ssa12.html
SSA15. NUỐI TIẾC - Kate Chopin https://gtvh51.blogspot.com/2021/11/ssa15.html
SSA16. KẺ THÈM TIỀN - O’ Henry https://gtvh51.blogspot.com/2021/11/ssa16.html
SSA18. CÁNH CỬA MÀU XANH LỤC - o Henry https://gtvh51.blogspot.com/2021/11/s-sa18.html
SSA19. CĂN PHÒNG CÓ TRANG BỊ ĐỒ ĐẠC - O’ Henry https://gtvh51.blogspot.com/2021/11/ssa19.html
SSA20. CÂU CHUYỆN CÒN DANG DỞ - O’ Henry https://gtvh51.blogspot.com/2021/11/ssa20.html
SSA21. CƠN BÃO ĐI QUA - Kate Chopin https://gtvh51.blogspot.com/2021/11/ssa21_15.html
SSA22. NGƯỜI PHỤ NỮ ĐÁNG KÍNH - Kate Chopin https://gtvh51.blogspot.com/2021/11/ssa22.html
SSA23. NỤ HÔN - Kate Chopin https://gtvh51.blogspot.com/2021/11/ssa23.html
SSA27. CÂY XƯƠNG RỒNG - O’ Henry https://gtvh51.blogspot.com/2021/11/ssa27.html
SSA24. KỴ SĨ TRÊN BÂU TRỜI - Ambrose Bierce https://gtvh51.blogspot.com/2021/11/ssa24.html
SSA29. MỘT NGÀN ĐÔ LA - O' Henry https://gtvh51.blogspot.com/2021/11/ssa29.html
SSA26. TRÁI TIM KỂ CHUYỆN - Edgar Allen Poe https://gtvh51.blogspot.com/2021/11/ssa26.html
SSA27. VIÊN CẢNH SÁT VÀ BẢN THÁNH CA - O ‘ Henry https://gtvh51.blogspot.com/2021/11/ssa28.html
SSA30. NGÔI GIÁO ĐƯỜNG VÀ CỐI XAY GIÓ - O’ Henry
https://gtvh51.blogspot.com/2022/03/ssa30-ngoi-giao-uong-va-coi-xay-gio-o.html
SSA31. CHUYỆN MỘT TỜ BÁO - O’ Henry https://gtvh51.blogspot.com/2021/11/ssa3-1.html
SSA33. MỘT NƠI SẠCH SẼ, SÁNG SỦA - Ernest Hemingway https://gtvh51.blogspot.com/2021/11/ssa33.html
SSA34. RẶNG ĐỒI TỰA ĐÀN VOI TRẮNG -Ernest Hemingway https://gtvh51.blogspot.com/2021/11/ssa34.html
SSA35. MỘT TRUYỆN RẤT NGẮN - Ernest Hemingway https://gtvh51.blogspot.com/2021/11/ssa3-5.html
SSA36. CƠN GIÓ BA NGÀY - Ernest Hemingway https://gtvh51.blogspot.com/2021/11/ssa36.html
SSA37. NGƯỜI CON GÁI - O’ Henry https://gtvh51.blogspot.com/2021/11/ssa-37.html
SSA38. CHÀNG TUỔI TRẺ GOODMAN BROWN- Nathaniel Hawthorne https://gtvh51.blogspot.com/2021/11/chang-tuoi-tre-goodman-brown-hawthorne.html
SSA41. THIÊN THẦN CẢI DẠNG - Marktwain
https://gtvh51.blogspot.com/2022/03/thien-than-cai-dang-t.html
SSA42. GIAI NHÂN HAY HỔ DỮ - Frank R. Stockton
https://gtvh51.blogspot.com/2022/03/ssa42-giai-nhan-hay-ho-du-frank-richard.html
SSA43. HÊN TOÀN TẬP
https://gtvh51.blogspot.com/2022/12/hen-toan-tap-toi-co-mat-tai-mot-bua.html
SSA2.. QUÀ TẶNG CỦA CÁC ĐẠO SĨ O’Henry
Một đô la tám mươi bảy xu. Đó là tất cả. Trong số này, sáu mươi xu là tiền một xu. Những đồng xu được tiết kiệm mỗi lần một hai xu qua sự mặc cả với người bán tạp hóa, người bán rau, người bán thịt đến nỗi hai má tôi nóng bừng vì sự phản đối thầm lặng mà sự tiết kiệm đó gây ra. Della đếm đi đếm lại đến ba lần. Một đô la tám mươi bảy xu. Và ngày mai là lễ giáng sinh.
Chẳng có gì khác để làm ngoại trừ nằm phịch xuống chiếc ghế dài cũ kỹ và hú lên. Della đã làm như thế, mà điều này gợi lên sự phản ánh luân lý rằng cuộc sống bao gồm nước mắt, tiếng thở dài và nụ cười, và tiếng thở dài chiếm ưu thế.
Trong khi chủ nhân của ngôi nhà đang dần dần giảm từ giai đoạn một sang giai đoạn hai, chúng ta hãy nhìn xung quanh chính ngôi nhà. Căn hộ có trang bị đồ đạc với giá 8 đô la một tuần. Nó không hẳn miêu tả sự nghèo đói trắng trợn, mà là sự nghèo đói âm thầm một cách hùng hồn.
Ở mặt tiền tầng dưới có một cái hộp thư, trong đó không một lá thư nào và một nút bấm chuông điện, chưa có bàn tay nào có thể bóp một tiếng. Bên trên được đính kèm một tấm thẻ có dòng chữ: "Ông James Dillingham Young."
Dillingham đã nổi đình đám suốt một thời kỳ thịnh vượng trước đây, khi chủ sở hữu của cái tên nói trên nhận được ba mươi đô la một tuần. Bây giờ, khi thu nhập này giảm xuống còn 20 đô la, các chữ cái trong từ "Dillingham" trông mờ đi, như thể đang tự hỏi nghiêm túc: tại sao không thu nhỏ lại còn một ký tự "D" khiêm tốn và không giả tạo? Nhưng khi ông James Dillingham Young về nhà và lên căn hộ của mình trên lầu, ông luôn được chào đón bằng một tiếng gọi âu yếm "Jim!" - và cái ôm dịu dàng của bà James Dillingham Young, đã được giới thiệu với bạn dưới cái tên Della. Và điều này thực sự rất tốt.
Della khóc xong, lấy khăn vuốt lại đôi má. Bây giờ cô đang đứng bên cửa sổ và chán nản nhìn con mèo xám đang đi dạo dọc theo hàng rào xám dọc theo sân sau xám xịt. Ngày mai là Giáng sinh, và cô chỉ có một đô la và tám mươi bảy xu để mua quà cho Jim! Trong nhiều tháng, cô đã tiết kiệm từng xu, và đó là tất cả những gì cô có được. Hai mươi đô la một tuần sẽ không giúp bạn tiến xa. Các chi phí nhiều hơn cô tính toán. Điều này luôn luôn xảy ra với các chi phí. Chỉ một đô la 87 xu cho một món quà cho Jim! Jim thân yêu của cô! Cô để ra bao nhiêu giờ vui vẻ để nghĩ xem nên tặng gì cho anh nhân dịp Giáng sinh. Một thứ gì đó rất đặc biệt, hiếm có và quý giá, một thứ gì đó thậm chí có chút xứng đáng với sự tôn quý được sở hữu bởi Jim.
Có một tấm kính xuyên sáng ở bến tàu giữa các cửa sổ của phòng. Bạn đã bao giờ nhìn vào bàn trang điểm của một căn hộ được trang bị nội thất 8 đô la chưa? Một người rất gầy và rất nhanh nhẹn có thể, bằng cách quan sát hình ảnh phản chiếu của mình theo một sự thay đổi liên tiếp của bộ cánh đẹp của mình, hình thành ý tưởng khá chính xác về ngoại hình của chính mình. Delle, người mảnh khảnh, đã quá thành thạo nghệ thuật này.
Cô đột ngột nhảy khỏi cửa sổ và lao đến trước gương. Đôi mắt cô lấp lánh, nhưng khuôn mặt đã biến sắc sau hai mươi giây. Nhanh chóng cô buông mái tóc ra và để xoả hết chiều dài của nó.
Vợ chồng James Dillingham Young có hai báu vật là niềm tự hào của họ. Một là chiếc đồng hồ vàng của Jim, từng là của cha anh và ông nội anh, vật còn lại là mái tóc của Della. Nếu Nữ hoàng Sheba sống ở ngôi nhà đối diện, thì một ngày nào đó Della, sau khi gội đầu, chắc chắn sẽ sấy tóc xõa bên cửa sổ - đặc biệt là để làm cho tất cả trang phục và đồ trang sức của Bệ hạ phai nhạt. Nếu Vua Solomon làm người gác cổng trong cùng một ngôi nhà và cất giữ tất cả tài sản của mình trong tầng hầm, thì Jim sẽ lấy đồng hồ ra khỏi túi mỗi lần đi ngang qua - đặc biệt là để thấy ông ta bức râu vì ghen tị.
Và rồi mái tóc xinh đẹp của Della rơi xuống quanh cô, tỏa sáng và lung linh như những dòng chảy của thác nước màu hạt dẻ. Chúng dài xuống dưới đầu gối và che gần như toàn bộ hình dáng của cô như một chiếc áo choàng. Nhưng ngay lập tức, cô lo lắng và vội vàng quấn tóc lên lại. Sau đó, như thể do dự, cô ấy đứng bất động trong một phút, và hai ba giọt nước mắt rơi trên tấm thảm đỏ tồi tàn.
Với chiếc áo khoác nâu cũ trên vai, với chiếc mũ nâu cũ trên đầu - và, tung váy lên, lấp lánh những tia sáng ướt trong mắt, cô ấy đã vội vã ra khỏi cửa, xuống cầu thang, chạy ra đường phố.
Cô dừng lại trước biển hiệu ghi: “M-me Sophronie. Sản phẩm Tóc đủ loại”. Della chạy lên tầng hai thì dừng lại, thở hổn hển.
“Bà sẽ mua tóc của tôi chứ?” cô hỏi bà.
“Tôi đang mua tóc,” Madame trả lời. – Lấy nón ra xem hàng.
Thác nước hạt dẻ lại bắt đầu chảy.
“Hai mươi đô la,” Madame nói, như thường lệ đang cân một khối dày trên tay đã quen thuộc..
“Hãy đưa cho tôi nhanh lên,” Della nói.
Hai giờ tiếp theo cô lướt đi trên đôi cánh màu hồng – hãy bỏ qua cho vì phép ẩn dụ khó hiểu. Della lùng sục khắp các cửa hàng để tìm một món quà cho Jim.
Cuối cùng thì cô ấy cũng tìm thấy nó. Không nghi ngờ gì nữa, nó được làm cho Jim, và chỉ cho anh ấy. Không có gì thuộc loại này được tìm thấy trong các cửa hàng khác, và cô ấy đã lật mọi thứ từ trong ra ngoài. Đó là một sợi dây chuyền bạch kim cho một chiếc đồng hồ bỏ túi, một thiết kế đơn giản và công kỷ, quyến rũ với những phẩm chất thực sự của nó, chứ không phải với sự rực rỡ phô trương - tất cả những điều tốt đẹp đều phải như vậy. Nó, có lẽ, thậm chí có thể được coi là xứng đáng của một chiếc đồng hồ. Ngay khi Della nhìn thấy nó, cô biết rằng sợi dây chuyền đó phải thuộc về Jim. Cô ấy cũng giống như Jim. Khiêm tốn và nhân phẩm - những phẩm chất này đã phân biệt cả hai. Hai mươi mốt đô la phải trả tại quầy thu ngân, và Della vội vã về nhà với số tiền tám mươi bảy xu. Với một dây chuyền như vậy, Jim ở bất kỳ xã hội nào cũng sẽ không xấu hổ khi hỏi bây giờ là mấy giờ. Đồng hồ của anh ấy tuyệt vời như vậy, anh ấy thường nhìn nó một cách khó chịu vì dây da cũ mà anh sử dụng thay cho dây chuyền.
Khi về đến nhà, sự phấn khích của Della giảm dần và nhường chỗ cho sự thận trọng và tính toán. Cô lấy chiếc máy uốn tóc của mình ra, châm lửa và bắt đầu sửa chữa những thiệt hại do lòng rộng lượng kết hợp với tình yêu thương mà ra. Và đây luôn là công việc khó nhất, các bạn của tôi ơi - một công việc khổng lồ.
Trong vòng chưa đầy bốn mươi phút, mái đầu của cô ấy được bao phủ bởi những lọn tóc nhỏ dựng đứng, khiến cô trông giống như một cậu học sinh trốn học. Cô nhìn hình ảnh phản chiếu của mình trong gương rất lâu, cẩn thận và phê phán.
Cô tự nhủ, “nếu Jim không giết tôi ngay khi anh ấy nhìn, anh ấy sẽ nghĩ tôi trông giống như một cô gái đồng ca đến từ Đảo Coney. Nhưng tôi có thể làm gì, ồ, tôi có thể làm gì đây với chỉ một đô la và tám mươi bảy xu? "
Lúc bảy giờ cà phê đã được pha xong, và một cái chảo đặt trên bếp ga đã nóng, sẵn sàng để nấu món sườn.
Jim không bao giờ về muộn. Della nắm chặt sợi dây chuyền bạch kim trong tay và ngồi xuống mép bàn gần cửa trước nơi anh thường bước vào. Ngay sau đó cô nghe thấy tiếng bước chân của trên cầu thang xuống tầng một, và trong một thoáng cô trở nên tái mặt. Cô có thói quen hướng về Chúa bằng những lời cầu nguyện ngắn ngủi về đủ thứ chuyện nhỏ nhặt hàng ngày, và cô thì thầm vội vàng:
Lạy Chúa, xin hãy khiến anh ấy thấy con vẫn còn xinh đẹp”.
Cánh cửa mở ra và Jim bước vào và đóng nó lại sau lưng anh ta. Anh trông có vẻ hơi gầy và rất nghiêm túc. Thật không dễ dàng gì để trở thành gánh nặng cho một gia đình ở tuổi hai mươi hai! Anh đã cần một chiếc áo khoác mới trong một thời gian dài, và đôi tay anh ấy lạnh cóng mà không có găng tay.
Jim đứng bất động trước cửa, giống như một người định cư ngửi thấy mùi chim cút. Đôi mắt anh nhìn Della với một biểu cảm mà cô không thể hiểu được, và cô cảm thấy sợ hãi. Đó không phải là tức giận, ngạc nhiên, trách móc, hay kinh hoàng – không phải bất kỳ biểu cảm nào trong số những cảm giác mà cô có thể mong đợi. Anh chỉ nhìn cô, không rời mắt, trên mặt không chút biểu cảm nào đặc biệt.
Della bật dậy khỏi bàn và lao đến anh ta.
“Jim, anh yêu,” cô ấy đã khóc, “đừng nhìn em như vậy!” Em đã cắt tóc và bán nó bởi vì em sẽ không sống nổi nếu không có gì để tặng anh vào dịp Giáng sinh. Chúng sẽ mọc lại nhanh thôi mà - Anh không giận, phải không? Em không thể làm gì khác. Tóc em mọc nhanh kinh khủng. Hãy chúc “Giáng sinh vui vẻ!” Jim, và hãy tận hưởng kỳ nghỉ nhé. Nếu anh biết món quà mà em đã chuẩn bị cho anh thì quả là một món quà tuyệt vời, tuyệt vời!
Em đã cắt tóc? Jim hỏi một cách căng thẳng, như thể, mặc dù bộ não anh làm việc căng nhất, anh vẫn không thể nắm bắt được sự thật này.
“Vâng, em đã cắt nó và bán nó,” Della nói. - Nhưng anh sẽ yêu em như nhau chứ? Em vẫn là em, dù tóc ngắn, có phải không.”
Jim ngơ ngác nhìn quanh phòng.
“Em nói mái tóc của em đã biến mất?” anh hỏi với vẻ khẩn trương vô nghĩa.
“Đừng tìm, anh sẽ không tìm thấy chúng đâu,” Della nói. - Cô nói với anh: “Em đã bán chúng - Em cắt chúng ra và bán chúng.
Đêm nay là đêm Giáng sinh, Jim. Hãy tốt hơn với em, bởi vì em đã làm điều đó vì anh. Có thể đếm được những sợi tóc trên đầu em, - cô nói tiếp, và giọng nói dịu dàng của cô bỗng nghiêm nghị, - nhưng không ai, không ai có thể đo được tình yêu của em dành cho anh! “Nào hãy chiên miếng thịt nướng đi, Jim?”
Và Jim nhanh chóng thoát ra khỏi sự bàng hoàng. Anh vòng tay ôm Della của anh. Chúng ta hãy khiêm tốn và xem xét một số chủ đề nước ngoài trong vài giây. Cái nào nhiều hơn - tám đô la một tuần hay một triệu một năm? Một nhà toán học hoặc nhà hiền triết sẽ đưa ra câu trả lời sai cho bạn. Các đạo sĩ mang đến những món quà quý giá, nhưng không có một món nào trong số đó. Tuy nhiên, sự khẳng định mơ hồ này sẽ được giải thích sau.
Jim lấy một gói từ túi áo khoác và ném nó xuống bàn.
“Đừng hiểu lầm anh, Dell, ”anh nói. “Không có kiểu tóc và kiểu tóc nào có thể khiến anh ngừng yêu cô gái của anh. Nhưng hãy mở gói này ra, rồi em sẽ hiểu tại sao phút đầu tiên anh hơi sững sờ”.
Những ngón tay trắng nõn xé sợi dây và tờ giấy. Một tiếng kêu vui mừng vang lên ngay sau đó - than ôi! Một sự thay đổi nữ tính thuần tuý, thay vào đó là những giọt nước mắt đầy kích động và rên rỉ, đến nỗi cần phải viện tới ngay tức khắc tất cả sức mạnh an ủi có sẵn của chủ nhân ngôi nhà.
Vì những chiếc lược bày ở đó, - một bộ lược - một chiếc ở phía sau và hai chiếc ở bên cạnh - mà Della đã ngưỡng mộ từ lâu trong tủ kính bày hàng ở phố Broadway. Những chiếc lược tuyệt vời, những chiếc lược bằng mai rùa thuần tuý, với những chiếc vòng nạm ngọc sáng bóng được gắn ở các cạnh, và chỉ phù hợp với màu tóc nâu của cô ấy. Cô biết chúng là những chiếc lượt đắt tiền. Della biết điều này - và trái tim cô chỉ đơn giản là khao khát chúng và mòn mỏi trong một thời gian dài vì khao khát mà không có chút hy vọng nào để chiếm hữu chúng. Và bây giờ, chúng đã thuộc về cô, nhưng mái tóc đẹp đáng lẽ đã tô điểm cho sự rực rỡ đầy khao khát giờ không còn nữa.
Tuy nhiên, cô ôm chặt chiếc lược vào ngực và cuối cùng, khi cô ấy tìm thấy sức mạnh để ngẩng đầu lên và mỉm cười trong nước mắt, cô nói:
“Tóc em mọc rất nhanh, Jim!”
Sau đó, cô ấy đột nhiên nhảy lên như một con mèo con bị bỏng và kêu lên:
“Ôi chúa ơi!”
Jim vẫn chưa được nhìn thấy món quà tuyệt vời của cô. Cô háo hức chìa sợi dây chuyền ra cho anh trong lòng bàn tay đang mở rộng của mình. Thứ kim loại quý xỉn màu dường như loé sáng phản chiếu niềm vui tươi sáng và chân thành của cô.
“Nó có đáng yêu không anh Jim?” “Em đã săn lùng khắp thành phố cho đến khi tìm thấy thứ này. Bây giờ anh có thể xem giờ ít nhất hàng trăm lần một ngày. Đưa cho em chiếc đồng hồ của anh. Em muốn xem tất cả trông như thế nào cùng nhau”.
Nhưng Jim, thay vì nghe lời, lại nằm xuống chiếc ghế dài, đặt hai tay dưới đầu và mỉm cười.
“Dell, ”anh ấy nói,“ chúng ta sẽ phải cất những món quà Giáng sinh của chúng ta đi, hãy giữ chúng một thời gian. Hiện tại chúng quá tốt để không thể sử dụng. Anh bán đồng hồ để lấy tiền mua lược cho em. Và bây giờ, có lẽ, là lúc để chiên những miếng cốt lết.
Các đạo sĩ, như bạn đã biết, là những nhà thông thái, đã mang quà đến cho Em Bé trong máng cỏ, là những người khôn ngoan đến kinh ngạc. Chính họ đã bắt đầu nghệ thuật làm quà tặng Giáng sinh. Và vì họ khôn ngoan, thì quà tặng của họ chắc chắn cũng khôn ngoan, thậm chí có thể có quyền trao đổi đã thỏa thuận trong trường hợp không phù hợp. Và ở đây tôi đã kể cho bạn nghe một câu chuyện không mấy hay ho về hai đứa trẻ ngốc nghếch từ một căn hộ tám đô la, chúng đã hy sinh kho báu lớn nhất của mình cho nhau một cách thiếu khôn ngoan nhất. Nhưng lời cuối cùng gửi đến những người khôn ngoan nhất thời đại chúng ta, hãy nói rằng trong tất cả những ai tặng quà thì hai người này là người khôn ngoan nhất. Trong tất cả những ai cho và nhận quà , chẳng hạn như họ là người khôn ngoan nhất, chỉ có những người như họ mới thực sự khôn ngoan. Mọi nơi và mọi nơi. Họ là những đạo sĩ.
Phan Thiện Trì chuyển ngữ
Oct, 2021
…………………………………………………………………
"Quà tặng của các đạo sĩ" là một truyện ngắn (phần lớn là do kết thúc bất ngờ).
Tựa đề của tác phẩm là sự hồi tưởng lại câu chuyện của Cơ đốc giáo, Tân ước về việc tôn thờ các đạo sĩ và việc họ mang những món quà đến cho Đấng Cứu Thế mới sinh. Có một điểm danh với thời gian nghệ thuật của câu chuyện - đêm Giáng sinh (ban ngày, buổi tối). Một kinh thánh khác, hồi tưởng Cựu ước là sự so sánh giữa hai vật gia truyền chính - mái tóc nâu của Della và đồng hồ vàng của Jim - với trang phục và đồ trang trí của Nữ hoàng Sheba và các kho báu của Vua Solomon (tương ứng).
Việc tường thuật được thực hiện thay mặt cho tác giả. Văn bản định kỳ chứa các tham chiếu đến người đọc (ví dụ: "những người bạn của tôi"). Hai lần tác giả đưa người đọc ra khỏi tầm quan sát của các nhân vật: lần đầu tiên ở đầu truyện, trong cảnh Della khóc khi nhận ra rằng mình không thể mua được món quà xứng đáng với Jim bằng số tiền tiết kiệm được; lần thứ hai ở cuối tác phẩm - trong vòng tay âu yếm của một cặp vợ chồng trẻ. Trong trường hợp đầu tiên, tác giả tập trung sự chú ý của người đọc vào "Nhà riêng" bằng cách hòa mình vào không gian nghệ thuật của tác phẩm; thứ hai, nó nói bằng văn bản thuần túy rằng bạn cần phải "Khiêm tốn hơn" và đề nghị tập trung vào "Xem xét một đối tượng nước ngoài"điều đó trở thành ý chính câu chuyện.
THE GIFT OF THE MAGI
By O’ Henry
One dollar and eighty-seven cents. That was all. And sixty cents of it was in pennies. Pennies saved one and two at a time by bulldozing the grocer and the vegetable man and the butcher until one's cheeks burned with the silent imputation of parsimony that such close dealing implied. Three times Della counted it. One dollar and eighty-seven cents. And the next day would be Christmas.
There was clearly nothing left to do but flop down on the shabby little couch and howl. So Della did it. Which instigates the moral reflection that life is made up of sobs, sniffles, and smiles, with sniffles predominating.
While the mistress of the home is gradually subsiding from the first stage to the second, take a look at the home. A furnished flat at $8 per week. It did not exactly beggar description, but it certainly had that word on the look-out for the mendicancy squad.
In the vestibule below was a letter-box into which no letter would go, and an electric button from which no mortal finger could coax a ring. Also appertaining thereunto was a card bearing the name "Mr. James Dillingham Young."
The "Dillingham" had been flung to the breeze during a former period of prosperity when its possessor was being paid $30 per week. Now, when the income was shrunk to $20, the letters of "Dillingham" looked blurred, as though they were thinking seriously of contracting to a modest and unassuming D. But whenever Mr. James Dillingham Young came home and reached his flat above he was called "Jim" and greatly hugged by Mrs. James Dillingham Young, already introduced to you as Della. Which is all very good.
Della finished her cry and attended to her cheeks with the powder rag. She stood by the window and looked out dully at a grey cat walking a grey fence in a grey backyard. To-morrow would be Christmas Day, and she had only $1.87 with which to buy Jim a present. She had been saving every penny she could for months, with this result. Twenty dollars a week doesn't go far. Expenses had been greater than she had calculated. They always are. Only $1.87 to buy a present for Jim. Her Jim. Many a happy hour she had spent planning for something nice for him. Something fine and rare and sterling--something just a little bit near to being worthy of the honour of being owned by Jim.
There was a pier-glass between the windows of the room. Perhaps you have seen a pier-glass in an $8 Bat. A very thin and very agile person may, by observing his reflection in a rapid sequence of longitudinal strips, obtain a fairly accurate conception of his looks. Della, being slender, had mastered the art.
Suddenly she whirled from the window and stood before the glass. Her eyes were shining brilliantly, but her face had lost its colour within twenty seconds. Rapidly she pulled down her hair and let it fall to its full length.
Now, there were two possessions of the James Dillingham Youngs in which they both took a mighty pride. One was Jim's gold watch that had been his father's and his grandfather's. The other was Della's hair. Had the Queen of Sheba lived in the flat across the airshaft, Della would have let her hair hang out of the window some day to dry just to depreciate Her Majesty's jewels and gifts. Had King Solomon been the janitor, with all his treasures piled up in the basement, Jim would have pulled out his watch every time he passed, just to see him pluck at his beard from envy.
So now Della's beautiful hair fell about her, rippling and shining like a cascade of brown waters. It reached below her knee and made itself almost a garment for her. And then she did it up again nervously and quickly. Once she faltered for a minute and stood still while a tear or two splashed on the worn red carpet.
On went her old brown jacket; on went her old brown hat. With a whirl of skirts and with the brilliant sparkle still in her eyes, she cluttered out of the door and down the stairs to the street.
Where she stopped the sign read: "Mme Sofronie. Hair Goods of All Kinds." One Eight up Della ran, and collected herself, panting. Madame, large, too white, chilly, hardly looked the "Sofronie."
"Will you buy my hair?" asked Della.
"I buy hair," said Madame. "Take yer hat off and let's have a sight at the looks of it."
Down rippled the brown cascade.
"Twenty dollars," said Madame, lifting the mass with a practised hand.
"Give it to me quick" said Della.
Oh, and the next two hours tripped by on rosy wings. Forget the hashed metaphor. She was ransacking the stores for Jim's present.
She found it at last. It surely had been made for Jim and no one else. There was no other like it in any of the stores, and she had turned all of them inside out. It was a platinum fob chain simple and chaste in design, properly proclaiming its value by substance alone and not by meretricious ornamentation--as all good things should do. It was even worthy of The Watch. As soon as she saw it she knew that it must be Jim's. It was like him. Quietness and value--the description applied to both. Twenty-one dollars they took from her for it, and she hurried home with the 78 cents. With that chain on his watch Jim might be properly anxious about the time in any company. Grand as the watch was, he sometimes looked at it on the sly on account of the old leather strap that he used in place of a chain.
When Della reached home her intoxication gave way a little to prudence and reason. She got out her curling irons and lighted the gas and went to work repairing the ravages made by generosity added to love. Which is always a tremendous task dear friends--a mammoth task.
Within forty minutes her head was covered with tiny, close-lying curls that made her look wonderfully like a truant schoolboy. She looked at her reflection in the mirror long, carefully, and critically.
"If Jim doesn't kill me," she said to herself, "before he takes a second look at me, he'll say I look like a Coney Island chorus girl. But what could I do--oh! what could I do with a dollar and eighty-seven cents?"
At 7 o'clock the coffee was made and the frying-pan was on the back of the stove hot and ready to cook the chops.
Jim was never late. Della doubled the fob chain in her hand and sat on the corner of the table near the door that he always entered. Then she heard his step on the stair away down on the first flight, and she turned white for just a moment. She had a habit of saying little silent prayers about the simplest everyday things, and now she whispered: "Please, God, make him think I am still pretty."
The door opened and Jim stepped in and closed it. He looked thin and very serious. Poor fellow, he was only twenty-two--and to be burdened with a family! He needed a new overcoat and he was with out gloves.
Jim stepped inside the door, as immovable as a setter at the scent of quail. His eyes were fixed upon Della, and there was an expression in them that she could not read, and it terrified her. It was not anger, nor surprise, nor disapproval, nor horror, nor any of the sentiments that she had been prepared for. He simply stared at her fixedly with that peculiar expression on his face.
Della wriggled off the table and went for him.
"Jim, darling," she cried, "don't look at me that way. I had my hair cut off and sold it because I couldn't have lived through Christmas without giving you a present. It'll grow out again--you won't mind, will you? I just had to do it. My hair grows awfully fast. Say 'Merry Christmas!' Jim, and let's be happy. You don't know what a nice-what a beautiful, nice gift I've got for you."
"You've cut off your hair?" asked Jim, laboriously, as if he had not arrived at that patent fact yet, even after the hardest mental labour.
"Cut it off and sold it," said Della. "Don't you like me just as well, anyhow? I'm me without my hair, ain't I?"
Jim looked about the room curiously.
"You say your hair is gone?" he said, with an air almost of idiocy.
"You needn't look for it," said Della. "It's sold, I tell you--sold and gone, too. It's Christmas Eve, boy. Be good to me, for it went for you. Maybe the hairs of my head were numbered," she went on with a sudden serious sweetness, "but nobody could ever count my love for you. Shall I put the chops on, Jim?"
Out of his trance Jim seemed quickly to wake. He enfolded his Della. For ten seconds let us regard with discreet scrutiny some inconsequential object in the other direction. Eight dollars a week or a million a year--what is the difference? A mathematician or a wit would give you the wrong answer. The magi brought valuable gifts, but that was not among them. This dark assertion will be illuminated later on.
Jim drew a package from his overcoat pocket and threw it upon the table.
"Don't make any mistake, Dell," he said, "about me. I don't think there's anything in the way of a haircut or a shave or a shampoo that could make me like my girl any less. But if you'll unwrap that package you may see why you had me going a while at first."
White fingers and nimble tore at the string and paper. And then an ecstatic scream of joy; and then, alas! a quick feminine change to hysterical tears and wails, necessitating the immediate employment of all the comforting powers of the lord of the flat.
For there lay The Combs--the set of combs, side and back, that Della had worshipped for long in a Broadway window. Beautiful combs, pure tortoise-shell, with jewelled rims--just the shade to wear in the beautiful vanished hair. They were expensive combs, she knew, and her heart had simply craved and yearned over them without the least hope of possession. And now, they were hers, but the tresses that should have adorned the coveted adornments were gone.
But she hugged them to her bosom, and at length she was able to look up with dim eyes and a smile and say: "My hair grows so fast, Jim!"
And then Della leaped up like a little singed cat and cried, "Oh, oh!"
Jim had not yet seen his beautiful present. She held it out to him eagerly upon her open palm. The dull precious metal seemed to flash with a reflection of her bright and ardent spirit.
"Isn't it a dandy, Jim? I hunted all over town to find it. You'll have to look at the time a hundred times a day now. Give me your watch. I want to see how it looks on it."
Instead of obeying, Jim tumbled down on the couch and put his hands under the back of his head and smiled.
"Dell," said he, "let's put our Christmas presents away and keep 'em a while. They're too nice to use just at present. I sold the watch to get the money to buy your combs. And now suppose you put the chops on."
The magi, as you know, were wise men--wonderfully wise men-who brought gifts to the Babe in the manger. They invented the art of giving Christmas presents. Being wise, their gifts were no doubt wise ones, possibly bearing the privilege of exchange in case of duplication. And here I have lamely related to you the uneventful chronicle of two foolish children in a flat who most unwisely sacrificed for each other the greatest treasures of their house. But in a last word to the wise of these days let it be said that of all who give gifts these two were the wisest. Of all who give and receive gifts, such as they are wisest. Everywhere they are wisest. They are the magi.
SSA3. NHÓM LỬA
Jack London
Đã ban ngày rồi mà trời vẫn lạnh lẽo và xám xịt, cực kỳ lạnh lẽo và xám xịt, khi người đàn ông rẽ sang một bên khỏi con đường mòn chính dọc theo dòng sông Yukon và leo lên bờ đất cao, nơi đây một con đường mòn mờ lối và ít người qua lại dẫn về phía đông qua vùng rừng cây vân sam bát ngát. Đó là một bờ đất dốc, và anh ta dừng lại trên đỉnh dốc để thở, thứ lỗi cho hành động của mình bằng cách nhìn đồng hồ. Không có mặt trời cũng không có một dấu hiệu gì cho thấy mặt trời sẽ xuất hiện, mặc dù không có một đám mây trên bầu trời. Đó là một ngày trời quang đãng, nhưng dường như có một chút ảm đạm không thể thấy rõ trên khuôn mặt của mọi thứ, một cảnh u ám huyền ảo khiến ban ngày trở nên tối tăm, và đó là do không có mặt trời. Sự thật này không làm người đàn ông lo lắng. Anh đã quen với việc thiếu nắng. Đã nhiều ngày kể từ khi anh nhìn thấy mặt trời, và anh biết rằng phải một vài ngày nữa trôi qua trước khi quả cầu rạng rỡ kia sẽ ló dạng phía trên đường bầu trời và lặn ngay lập tức khỏi tầm nhìn.
Người đàn ông nhìn lại con đường anh vừa đi qua. Dòng sông Yukon rộng khoảng một dặm và ẩn mình dưới lớp băng dày ba feet. Trên lớp băng này tuyết phủ dày tới nhiều feet. Tất cả đều là một màu trắng tinh khôi, lăn tăn uốn lượn nhẹ nhàng nơi những tảng băng bị đong cứng đã hình thành. Từ Bắc xuống nam, xa hút tầm mắt, tuyết trải trắng một màu mênh mông, trừ có con đường nhỏ như sợi tóc kia in sẫm màu, ngoằn ngoèo quanh hòn đảo phủ cây vân sam về phía nam, rồi lại quanh co ngược lên phía bắc và biến mất sau một hòn đảo phủ đầy cây vân sam khác. Đường vạch sẫm màu giống như sợi tóc này là con đường mòn - con đường mòn chính - dẫn về phía nam ngót năm trăm dặm đến đèo Chilcoot, Dyea, và hồ nước mặn; và đường đó dẫn đến phía bắc bảy mươi dặm đến Dawson, và vẫn tiếp tục đi về phía bắc một nghìn dặm đến Nulato, và cuối cùng là đến St. Michael nằm trên Biển Bering, phải tới trên một nghìn dặm rưỡi nữa.
Nhưng tất cả những thứ như - con đường mòn nhỏ như sợi chỉ thần bí, dài muôn dặm ấy, bầu trời không có mặt trời, cái lạnh khủng khiếp, cho đến cảnh hoang vu kỳ quái quanh đây - đều không gây bất cứ một ấn tượng gì đối với người đàn ông. Đó không phải là vì anh đã quen với nó từ lâu. Anh là một người mới đến ở vùng đất này, một kẻ chechaquo, và đây là mùa đông đầu tiên anh trải qua ở vùng này. Điều phiền toái với anh là anh không có óc tưởng tượng. Anh nhanh nhạy và tỉnh táo trước mọi việc của cuộc sống, nhưng chỉ quan tâm đến sự việc chứ không đến ý nghĩa của chúng. 50 độ dưới 0 độ có nghĩa là độ lạnh giá phải là 80 độ lẻ. Thực tế đó chỉ gây cho anh một ấn tượng lạnh lẽo và khó chịu, chỉ có vậy thôi. Nó không khiến anh ta suy ngẫm về sự yếu đuối của mình như một sinh vật có nhiệt độ, và về sự yếu đuối của con người nói chung, chỉ có thể sống trong một giới hạn nhất định nào đó của nhiệt và lạnh; và từ đó nó không đưa anh ta đến lĩnh vực phỏng đoán về sự bất tử và vị trí của con người trong vũ trụ. Nhiệt độ âm 50 độ có nghĩa là khả năng xảy rabị chộp vì băng giá, là cái lạnh đến thấu xương, mà muốn chống lại phải được đề phòng bằng cách sử dụng găng tay, mũ bịt tai, giày da đanh ấm và bít tất dày. Đối với anh ta, 50 độ dưới 0 chính xác là 50 độ âm. Anh chưa bao giờ nghĩ liệu còn có bất cứ điều gì khác nữa hay không.
Khi quay lại tiếp tục đi, anh ta nhổ nước miếng lên không trung để đoán xem trời lạnh đến mức nào. Có một tiếng nổ bất thình lình, sắc lẹm khiến anh giật mình. Anh lại khạc nhổ tiếp. Và lần này nước miếng chưa kịp rơi xuống tuyết đã nổ lách tách ngay trong không khí. Anh biết rằng ở năm mươi độ âm, nước miếng nhổ xuống tuyết là nổ lách tách, nhưng lần này nước miếng đã nổ lách tách ngay trong không khí. Không nghi ngờ gì nữa, trời lạnh hơn năm mươi độ dướikhông độ - nhưng lạnh hơn bao nhiêu độ thì anh không biết. Thế nhưng nhiệt độ không thành vấn đề. Anh phải đi đến khu mỏ cũ đã định trước ở nhánh sông bên trái của con lạch Henderson Creek, nơi đó anh em đang đợi. Họ đã vượt qua ranh giới sông Indian Creek đến đấy trước, trong khi anh ta đi đường vòng để xem xét khả năng có thể chở gỗ từ các hòn đảo trên sông Yukon ra được không. Anh mong về đến trại trước sáu giờ, lúc đó trời đã tối, và anh em chắc cũng sẽ về đến nơi. Bếp lửa sẽ nhóm lên, và bữa tối nóng hổi chắc cũng sẵn sàng. Sực nhớ đến bữa ăn trưa nay, anh lấy tay ấn vào cái gói nhô ra dưới áo khoác, được gói trong một chiếc khăn tay và đang nằm dưới áo sơ mi, sát với da thịt anh. Đó là cách duy nhất để giữ cho bánh quy không bị đông cứng vì giá lạnh. Anh cười khoái chí với chính mình khi nghĩ đến những chiếc bánh quy đó, mỗi chiếc bánh quy được cắt đôi, nhúng vào mỡ thịt xông khói, và chiếc nào cũng kẹp một lát thịt xông khói chiên giòn to bự.
Anh lao vào khu rừng cây vân sam bát ngát. Con đường mòn mờ nhạt. Tuyết đã rơi ngập đến ba mươi phân kể từ khi chiếc xe trượt tuyết cuối cùng đi qua, và anh rất vui vì mình đang đi mà không cần có xe trượt tuyết, như vậy đi lại nhẹ nhàng hơn. Thực vậy, anh không mang theo gì ngoài bữa trưa được gói trong chiếc khăn tay. Tuy nhiên, anh cũng phải kinh ngạc trước cái lạnh. Anh kết luận rằng chắc chắn trời rất lạnh khi anh xoa xoa chiếc mũi và xương gò má tê cóng của mình bằng bàn tay đã được đeo găng. Anh là một người đàn ông có râu ria rậm rạp đến thế mà vẫn không che nổi gò má cao và chiếc mũi nhọn hoắc nhô ra một cách khiêu khích trước bầu không khí giá buốt.
Một con chó to thuộc giống bản địa, lai sói vạm vỡ chạy lon ton theo sau gót chân anh, từ thân hình đến tính khí không có bất kỳ sự khác biệt rõ ràng nào so với người anh em của nó là giống chó sói hoang dã. Con vật có vẻ sợ hãi vì cái lạnh khủng khiếp. Nó biết rằng trời rét như thế không phải là lúc ra đi. Bản năng của con vật nhạy bén hơn sự phán đoán của con người nhiều. Trên thực tế, trời không chỉ lạnh hơn năm mươi độ dưới không độ, mà còn lạnh hơn sáu mươi, bảy mươi độ dưới không độ. Nó là bảy mươi lăm dưới không độ. Vì điểm đóng băng là ba mươi hai độ trên không độ, điều đó có nghĩa là đã đạt tới một trăm bảy độ băng giá. Con chó không biết gì về nhiệt kế. Có thể trong não của nó không có ý thức nhạy bén về điều kiện khí hậu rất lạnh như trong não của người đàn ông. Nhưng súc vật cũng có bản năng của nó. Nó kinh qua một cảm giác sợ hãi mơ hồ nhưng đầy đe dọa đã khuất phục nó và khiến nó lượn lờ theo gót chân người đàn ông, và điều đó khiến nó háo hức đặt câu hỏi về mọi cử động bất thường của người đàn ông như thể đang mong đợi ông ta vào trại hoặc tìm nơi trú ẩn ở đâu đó và đốt lửa. Con chó đã học được lửa, và nó muốn có lửa, nếu không thì phải chui xuống tuyết và ôm ấp hơi ấm của nó từ không khí.
Hơi ấm đông lạnh của hơi thở đọng lại trên bộ lông của nó trong một lớp bột sương giá mịn, và đặc biệt là những chiếc lông, mõm và lông mi của nó trắng bệch vì hơi thở kết tinh của nó. Bộ râu và ria mép đỏ của người đàn ông cũng bị đóng băng, nhưng rắn chắc hơn, chất lắng đọng dưới dạng băng và tăng lên theo mỗi hơi thở ẩm ướt mà anh ta thở ra. Ngoài ra, người đàn ông đang nhai thuốc lá nên miệng đông cứng toàn băng tuyết đến mức anh ta không thể dọn cằm để đẩy nước bọt ra. Kết quả là một bộ râu quai nón có màu trắng như pha lê và rắn như hổ phách đang cứ mỗi lúc một tăng chiều dài của nó ra phía dưới cằm. Nếu anh ta ngã xuống, nó sẽ tự vỡ, giống như thủy tinh, thành những mảnh vụn. Nhưng anh không quan tâm với phần phụ thuộc này. Đó là hình phạt mà tất cả những người nhai thuốc lá phải trả ở đất nước này, và trước đây anh cũng đã ra ngoài trong hai đợt rét. Anh biết chúng không quá lạnh như thế này, nhưng hồi đó hàn thử biểu bằng rượu Sixty Mile có lần chỉ năm mươi độ, có lần chỉ năm mươi lăm độ dưới không độ.
Anh tiếp tục đi được vài dặm qua khu rừng bằng phẳng, băng qua một bãi đất rộng, mọc toàn những bụi cây nhỏ, sau đó men theo một bờ sông đã đóng băng đến đáy. Đây là con sông Henderson Creek, và anh biết mình còn cách những nhánh sông mười dặm. Anh nhìn đồng hồ của mình. Mới mười giờ. Anh ta đang đi với tốc độ bốn dặm một giờ, nên anh nhẩm tính mình sẽ đến chỗ ngã ba sông lúc mười hai giờ rưỡi trưa. Anh quyết định sẽ dừng lại ăn trưa ở đó để ăn mừng kết quả.
Con chó lại theo gót anh ta, với cái đuôi cụp xuống trong sự chán nản, khi người đàn ông đi lửng thững dọc theo lòng sông. Vết xe lướt tuyết cũ vẫn còn rõ, nhưng một lớp tuyết dày hàng chục inch đã che phủ hết dấu vết những chiếc xe cuối cùng chạy qua đó. Cả tháng nay, không một người nào qua lại dòng sông lặng lẽ này. Người đàn ông tiếp tục đi một cách kiên định. Anh ta không có nhiều suy nghĩ, và đặc biệt là sau đó anh ta không có gì để nghĩ ngoại trừ việc anh ta sẽ ăn trưa ở chỗ ngã ba sông và đến sáu giờ anh sẽ ở trong trại với các chàng trai. Không có ai để nói chuyện và, nếu có, sẽ không thể nói chuyện vì băng đã đóng cứng trên miệng anh ta. Vì vậy, anh ta tiếp tục nhai thuốc lá một cách đơn điệu và để tăng độ dài cho bộ râu hổ phách của anh.
Thỉnh thoảng ý nghĩ nhắc anh rằng trời rất lạnh và anh chưa bao giờ cảm thấy lạnh đến như vậy. Khi anh bước đi, anh xoa xoa xương gò má và mũi bằng mu bàn tay đang đeo găng. Anh ta đã làm điều này một cách vô thức, thỉnh thoảng anh đổi tay. Nhưng cứ xoa dụi như vậy, ngay khoảnh khắc anh ngơi tay thì xương gò má của anh liền tê cóng đi vì lạnh. và ngay sau đó, đầu mũi anh cũng tê cóng. Chắc chắn hai gò má anh cũng đong cứng; anh biết điều đó, và cảm thấy hơi hối tiếc vì đã không nghĩ cách làm thêm một cái bọc mũi mà Bud vẫn đeo trong những đợt rét đột ngột. Cái bọc mũi ấy cũng che cả hai má và cứu chúng nữa. Nhưng rốt cục điều đó không quan trọng lắm. Gò má bị đóng băng thì đã sao? Có chăng cũng chỉ hơi buốt một chút, đó là tất cả; chúng không bao giờ trở nên nghiêm trọng.
Dù không suy nghĩ gì nhưng anh vẫn rất chăm chú quan sát và nhận thấy những thay đổi trên dòng sông, những chỗ gấp khúc, và những đống gỗ bị nghẽn, ngoài ra anh luôn chú ý kỹ nơi anh đặt chân lên. Một lần, đến một khúc quanh, anh ta đột ngột khựng lại, giống như một con ngựa bị giật mình, rồi lại đi vòng trở lại con đường cũ mấy bước. Con sông mà anh biết đã đóng băng trong suốt đến tận đáy - không một con sông nào có thể chảy vào mùa đông Bắc Cực - nhưng anh cũng biết rằng có những con suối sủi bọt từ những sườn đồi và chảy bên dưới tuyết và trên đỉnh là băng của Lạch nhỏ. Anh biết rằng cả trong những đợt rét đột ngột nhất cũng không bao giờ các con suối đó đóng băng, song như thế lại rất nguy hiểm. Chúng là những cái bẫy. Chúng giấu những vũng nước dưới lớp tuyết có thể dày từ 3 inch đến 3 feet. Đôi khi một lớp băng dày nửa inch phủ trên mặt nước, rồi trên là một lớp tuyết. Đôi khi có những lớp nước và lớp băng xen kẽ, khiến cho ai đó sẩy chân sụp xuống thì cứ gọi là phải ngập đến thắt lưng.
Đó là lý do tại sao anh hoảng sợ như vậy. Anh đã cảm nhận được sự lún xuống dưới chân mình và nghe thấy lớp băng dưới tuyết kêu kêu răng rắc. Và để chân anh ướt trong nhiệt độ như vậy đồng nghĩa với rắc rối và nguy hiểm. Ít nhất thì điều đó cũng có nghĩa là chậm trễ, vì anh sẽ buộc phải dừng lại và đốt lửa, và dưới sự bảo vệ của nó, anh phải để chân trần trong khi anh ta làm khô tất và giày da đanh. Anh đứng và nghiên cứu lòng lạch và bờ của nó, và quyết định rằng dòng nước chảy từ bên phải. Anh ấy suy tư một lúc, xoa xoa mũi và má, sau đó đi sang bên trái, rón rén bước và thử bước chân cho từng bước. Khi đã thoát khỏi mối nguy hiểm, anh ta uống một ngụm thuốc lá tươi và lửng thững bước đi với tốc độ bốn dặm một giờ.
Trong tiến trình của hai giờ tiếp theo, anh đã gặp phải một số bẫy tương tự. Thường thường, tuyết phía trên các vũng nước ngầm có vẻ bề ngoài trũng xuống kết đặt lại dẻo như kẹo để báo hiệu sự nguy hiểm. Tuy vậy, một lần nữa anh đã suýt chết. Nghi ngờ có sự nguy hiểm, anh ta đã bắt con chó đi lên trước. Con chó không muốn đi. Nó cứ chùn phía sau cho đến khi anh đẩy nó về phía trước, khiến nó lướt nhanh qua bề mặt trắng xoá bằng phẳng đó. Đột nhiên nó hụt chân, chệch sang một bên, rồi chạy thoắt đến chỗ vững chắc hơn. Nó đã làm ướt hai chân trước và chân sau của nó, và gần như ngay lập tức nước bám vào chân và chuyển thành băng. Nó nhanh chóng liếm lấy liếm để cho hết lớp băng khỏi chân, sau đó thả mình xuống tuyết, lấy răng cắn hết chỗ băng hình thành giữa các ngón chân. Đây là một vấn đề của bản năng. Để cho đá đọng lại đồng nghĩa với việc đau chân. Nó không biết điều này. Nó chỉ tuân theo lời nhắc nhở bí ẩn nảy sinh từ những hố thẳm bên trong bản thể của nó. Nhưng người đàn ông thì biết, sau khi đạt được phán đoán về chủ đề này, anh tháo găng tay khỏi tay phải và giúp con chó xé các hạt băng nhỏ đi. Anh không để lộ những ngón tay của mình quá một phút, và ngạc nhiên trước cảm giác tê cóng nhanh chóng bao trùm chúng. Chắc chắn là trời rất lạnh. Anh ta vội vàng kéo chiếc găng tay, và đập bàn tay vào ngực mình một cách dã man.
Đã mười hai giờ trưa, lúc này bầu trời trở nên sáng nhất. Tuy nhiên, mặt trời đã ở quá xa về phía nam trong hành trình mùa đông của nó chưa thấy sáng rõ ở đường chân trời. Gò đất cao xen vào giữa đường chân trời và dòng sông Henderson Creek, nơi anh đi dưới bầu trời quang đãng vào buổi trưa và không hắt bóng. Mười hai giờ rưỡi, kém một phút, anh đến ngã ba sông. Anh hài lòng với tốc độ mà anh đã thực hiện. Nếu tiếp tục giữ tốc độ đó, chắc chắn anh sẽ có mặt cùng các bạn trước sáu giờ. Anh cởi cúc áo khoác và áo sơ mi của mình và chuẩn bị bữa trưa. Hành động chỉ mất không quá một phần tư phút, nhưng trong khoảnh khắc ngắn ngủi đó, cảm giác tê dại bám chặt vào chỗ những ngón tay bị lộ ra. Anh không đeo găng tay vào, mà thay vào đó, đánh mạnh các ngón tay hàng chục nhát vào chân. Sau đó anh ngồi xuống một khúc gỗ phủ đầy tuyết để ăn trưa. Cảm giác đau nhói sau khi đánh mạnh các ngón tay vào chân biến đi thật nhanh khiến anh hoảng sợ, Anh không còn có cơ hội để cắn một miếng bánh quy nữa. Anh ta đánh liên tục các ngón tay và mang găng tay vào, và tháo găng bên kia ra để ăn bánh. Anh cố gắng cắn một miếng lớn, nhưng cái miệng bị tuyết đông cứng đã ngăn cản. Anh đã quên khuấy không nhóm lửa và làm tan băng. Anh cười khúc khích trước sự ngu ngốc của mình, và khi anh cười chưa dứt thì anh ghi nhận cảm giác tê dại đang len lỏi vào những ngón tay lộ ra ngoài. Ngoài ra, anh cũng để ý thấy rằng lúc đầu ở mấy đầu ngón chân còn có cảm giác nhức nhối, giờ vừa ngồi xuống thì cảm giác ấy không còn nữa. Anh tự hỏi liệu các ngón chân có ấm hay bị tê. Anh ngó ngoáy chúng bên trong giày da đanh và biết là chúng đã bị tê cóng thật.
Anh vội kéo chiếc găng tay lên và đứng dậy. Anh hơi hoảng. Anh ráng sức dậm chân lên xuống cho đến khi bàn chân có cảm giác đau nhói trở lại. Quả là trời rất lạnh, anh nghĩ bụng. Lão già đến từ Sulfur Creek đó đã nói đúng khi kể rằng thỉnh thoảng ở vùng này trời lạnh khủng khiếp. Và lúc ấy anh đã cười nhạo ông ta! Điều đó cho thấy rằng đừng bao giờ quả quyết một điều gì. Thật chẳng sai chút nào. Trời rét thật. Anh đi đi lại lại, giậm chân rồi lại đập mạnh cánh tay, cho đến khi cảm thấy yên tâm bởi hơi ấm đang quay trở lại. Sau đó, anh ta lấy que diêm ra và tiến hành đốt lửa. Từ trong bụi rậm, nơi nước dâng cao của mùa xuân trước đã để lại những cây củi đã khô, anh kiếm được củi. Cẩn thận lắm ngay từ đầu, anh mới nhen được ngọn lửa, rồi chẳng bao lâu ngọn lửa bùng lên cháy ầm ầm, qua đó anh hơ mặt làm tan băng, và trong sự bảo vệ của lửa, anh mới ăn bánh quy của mình. Trong lúc này, cái lạnh của không gian đã lụi bước. Con chó cũng thấy thỏa mãn bên ngọn lửa, dũi chân sát vào đống lửa để sưởi ấm nhưng cũng nằm đủ xa để khỏi bị cháy sém lông.
Khi anh đã hoàn thành việc ăn, anh cho thuốc vào tẩu và dành thời gian thoải mái để hút thuốc. Sau đó, anh ta kéo găng tay, cố đính chặt hai giải mũ vào vành tai thật kỹ, và tiếp tục đi theo con đường mòn bên sông ngược lên phía nhánh sông bên trái. Con chó tỏ ra rất thất vọng, ngoái lại nhìn đống lửa một cách khao khát. Người đàn ông này không biết lạnh. Có thể tất cả các thế hệ tổ tiên của anh đã không biết gì lạnh, cái lạnh thực sự, cái lạnh một trăm lẻ bảy độ dưới không độ. Nhưng con chó biết; tất cả tổ tiên của nó đều biết, và nó đã thừa hưởng sự hiểu biết đó. Và nó biết rằng thật nguy hiểm khi bước ra ngoài trong cái lạnh khủng khiếp như thế này. Đây chính là lúc nên nằm nép mình trong một cái lỗ trên tuyết và đợi cho đến khi mây kéo về giăng kín cả bầu trời khi cái lạnh này ập đến. Mặt khác, làm gì có sự tương thân tương ái giữa người và động vật, sự thân mật sâu sắc giữa con chó và người đàn ông. Con vật chỉ làm nô lệ vất vả cho con người mà thôi, và những cái vuốt ve duy nhất mà nó từng nhận được là những cái vuốt ve của roi da và những âm thanh thô bạo và đầy đe doạ, là những trận đòn roi. Vì vậy, con chó đã không cố gắng để truyền nỗi sợ hãi của nó cho người đàn ông. Nó không quan tâm đến hạnh phúc của người đàn ông; vì lợi ích của chính bản thân nó mà nó khao khát trở lại ngọn lửa. Nhưng người đàn ông huýt sáo và nói với nó bằng âm thanh của roi da, và con vật vội chạy sát sau gót người đàn ông.
Người đàn ông nhai một ngụm thuốc lá và bắt đầu để bộ râu mới màu hổ phách.. Cũng vậy, hơi thở ẩm ướt của anh ta nhanh chóng đóng băng như bột trên bộ ria mép, lông mày và hàng mi. Dường như không có nhiều những con suối ngầm ở ngã ba bên trái của dòng sông Henderson, vì anh đã đi nửa giờ đồng hồ mà không thấy dấu hiệu nào. Vậy mà vẫn có. Tại một nơi không có dấu hiệu gì, nơi lớp tuyết phủ mềm mại, phẳng lì dường như để báo hiệu có sự rắn chắc bên dưới thì người đàn ông đã sụp chân. Chỗ đó không sâu lắm nên chỉ bị ướt đến nửa đầu gối trước khi anh bước lên được chỗ một lớp băng rắn chắc.
Anh ta tức giận và lớn tiếng chửi đổng mấy câu. Anh ta hy vọng thế nào cũng về đến trại với anh em lúc sáu giờ, và điều này sẽ làm anh ta chậm trễ một giờ, vì anh ta sẽ phải nhóm lửa và hơ khô đồ mang dưới chân anh. Điều này là bắt buộc ở nhiệt độ thấp này - anh biết điều đó; và anh tiến lại gần bờ sông và leo lên. Ở phía trên, nằm trong bụi rậm xung quanh thân của một số cây vân sam nhỏ, có vô số củi khô chứa nhiều nước - chủ yếu là que và cành cây, nhưng cũng có những phần lớn hơn của những cành cây đã khô và cỏ khô, mịn của năm ngoái. Anh chất những cành lớn trên mặt tuyết. Điều này phục vụ cho việc làm nền cho ngọn lửa mới nhóm khỏi bị tắt vì tuyết tan. Ngọn lửa mà anh ta có được bằng cách chạm que diêm vào một mảnh vỏ cây bạch dương nhỏ mà anh ta lấy từ túi của mình. Điều này thậm chí còn cháy dễ dàng hơn so với giấy. Đặt nó trên mặt nền, anh nuôi ngọn lửa non bằng những cọng cỏ khô và những cành cây khô nhỏ nhất.
A nh làm việc đó chậm rãi và cẩn thận, ý thức sâu sắc về sự nguy hiểm đang đợi anh. Dần dần, ngọn lửa bốc mỗi lúc một to hơn, anh châm thêm vào ngọn lửa bằng những khúc củi khô. Anh ta ngồi xổm trên tuyết, kéo những cành cây khô nằm vướng trong bụi rồi vứt thẳng vào đống lửa. Anh biết chắc chắn không có chuyện để lửa tắt. Khi thời tiết ở dưới mức bảy mươi lăm độ dưới không độ, chân lại bị ướt nữa thì ngay từ đầu không được thất bại trong nỗ lực để nhóm lửa. Nếu chân khô thì dù nhóm lửa không được, anh có thể chạy dọc theo con đường mòn nửa dặm thì máu lại lưu thông. Nhưng khi hai bàn chân ướt và tê cóng ở nhiệt độ bảy mươi độ âm thì đừng có nói chuyện chạy cho máu lưu thông. Dù anh ta có chạy nhanh đến đâu, bàn chân ướt sũng sẽ càng tê cứng hơn mà thôi.
Tất cả những điều này người đàn ông đã biết. Ông già ở Sulfur Creek đã nói với anh về điều đó vào mùa thu năm trước, và giờ anh mới thấy hết lời khuyên đó. Tất cả mọi cảm giác đã biến mất khỏi chân anh. Để nhóm lửa, anh buộc phải tháo găng tay, và các ngón tay nhanh chóng tê liệt. Tốc độ bốn dặm một giờ của anh đã giúp tim anh bơm máu đi khắp cơ thể và đến tất cả các đầu ngón tay ngón chân. Nhưng ngay khi dừng lại, hoạt động của máy bơm giảm bớt. Cái lạnh của không gian giáng xuống mỏm hành tinh không được bảo vệ, và anh ta, đang ở trên mũi không được bảo vệ đó, nên hứng lấy toàn bộ sức mạnh của cú đánh đó. Máu của cơ thể anh co lại trước nó. Máu cũng sống, cho nên giống như con chó, máu cũng muốn trốn đi và che đậy bản thân khỏi cái lạnh kinh hồn đó. Chỉ cần anh đi bộ bốn dặm một giờ, anh đã bơm hết lượng máu đó lên bề mặt; nhưng bây giờ nó đã biến mất và chìm xuống các hố sâu trong cơ thể anh. Các đầu ngón tay và ngón chân là nơi đầu tiên cảm thấy sự vắng mặt của máu. Bàn chân ướt át của anh càng đóng băng nhanh hơn, và những ngón tay lộ ra của anh cũng tê liệt nhanh hơn, mặc dù chúng vẫn chưa bắt đầu đông cứng. Mũi và má đã lạnh cóng, trong khi da trên toàn cơ thể anh lạnh toát vì mất máu.
Nhưng anh đã không sao. Ngón chân, mũi và má chỉ bị chạm vào bởi băng giá, vì ngọn lửa đang bắt đầu bùng cháy mạnh. Anh ta đang châm thêm vào bằng những cành cây to cỡ ngón tay của anh. Lát nữa, anh sẽ có thể mồi thêm vào lửa bằng những cành cây to bằng cổ tay anh, rồi anh có thể cởi giày và tất ướt ra hơ khô, và trong khi chờ nó khô, anh có thể giữ ấm đôi chân trần của mình bằng lửa, dĩ nhiên, trước hết phải xoa tuyết vào chân. Nhóm được lửa là đã thành công lắm rồi. Anh đã an toàn. Anh nhớ lại lời khuyên của ông già ở Sulfur Creek, và mỉm cười. Ông già đã đặt ra một luật lệ rất nghiêm khắc là không ai được đi một mình trong vùng Klondike với cái rét năm mươi độ dưới không độ. Thế mà, anh đã ở đây; rồi gặp tai nạn; anh ở một mình; và anh đã tự cứu lấy bản thân mình. Anh cho rằng lão già ấy tính rụt rè như phụ nữ. Tất cả những gì một người đàn ông phải làm là giữ bình tĩnh, và anh không sao cả. Bất kỳ ai là đàn ông đều có thể đi du lịch một mình. Nhưng thật đáng ngạc nhiên, má và mũi của anh lạnh cóng nhanh chóng. Và anh không nghĩ những ngón tay của mình có thể mất sinh khí nhanh như thế, vì chúng không sao cầm nổi một cây củi lên. Chúng mất sinh khí vì anh khó có thể khiến chúng di chuyển cùng nhau để nắm lấy một cành cây, và chúng dường như xa rời cơ thể anh và với anh. Khi chạm vào một cành cây, anh ta phải nhìn xem mình đã cầm được hay chưa. Những sợi dây thần kinh từ óc anh đến các đầu ngón tay anh rõ ràng đã bị tê liệt.
Tất cả điều đó đều chẳng giải thích được gì. Chính ngọn lửa, bùng cháy và nổ lách tách kia là hứa hẹn của sự sống. Anh ta bắt đầu cởi đôi giày da đanh của mình. Chúng được phủ một lớp băng; những đôi tất dày cộm giống như những chiếc bao sắt dài đến đầu gối; và các dây giày da đanh giống như những thanh thép, tất cả đều xoắn và thắt nút như bị cháy. Thoạt đầu, anh dùng các ngón tay tê cóng để giật mạnh dây ra, sau đó, nhận ra có điên rồ mới làm điều đó, anh rút con dao có vỏ bọc của mình ra.
Nhưng trước khi anh ta có thể cắt dây giày thì có chuyện xảy ra. Đó là lỗi của chính anh, hay đúng hơn là do sai lầm của anh. Lẽ ra anh không nên nhóm lửa dưới gốc cây vân sam mà phải nhóm ở ngoài trời. Nhưng nhóm lửa dưới gốc cây thì mới dễ rút cành cây từ trong bụi ra và ném chúng trực tiếp vào lửa sẽ dễ dàng hơn. Bây giờ cái cây mà anh đã nhóm lửa bên dưới lúc này đang nặng trĩu tuyết trên cành của nó. Không một cơn gió nào thổi qua trong nhiều tuần, và từng cành cây đã phủ đầy những tuyết. Mỗi lần anh rút một cây củi từ trong bụi ra là cái cây lại bị lay động nhẹ, vậy mà anh không hay biết gì - một sự kích động không thể nhận thấy, nhưng cũng đủ để gây ra thảm họa. Cành cao tít trên ngọn trút tuyết xuống những cành dưới, và cứ như thế truyền ra khắp cây, chẳng khác gì một trận tuyết lở, cuối cùng đột ngột rơi ào ào xuống anh và đống lửa, dập ngọn lửa tắt ngấm! Nơi trước đấy là một đống lửa, giờ ngổn ngang những tuyết là tuyết.
Anh bị sốc nặng, cứ như vừa mới nghe lời tuyên án tử hình đối với mình. Anh ngồi nhìn đăm đăm vào chỗ lúc nãy còn là đống lửa. Nhưng rồi anh lấy lại được bình tĩnh. Có lẽ ông già vùng sông Sulfur Creek lần này lại nói đúng. Phải chi có một người bạn đồng hành thì bây giờ đâu đến nỗi nguy hiểm. Người bạn đó sẽ có thể nhóm lửa được. Chà, bây giờ việc nhóm lửa lại tuỳ thuộc vào anh, mà lần này nhất định không được để hỏng. Thậm chí có nhóm lửa thành công đi chăng nữa, thì chắc gì mấy ngón chân còn có tác dụng nữa. Đến lúc này, hai bàn chân của anh đã tê cóng rồi, mà cũng còn phải mất một thời gian nữa mới nhóm lửa xong.
Đó là suy nghĩ của anh, nhưng không chỉ ngồi mà nghĩ. Trong lúc ngồi nghĩ như thế, chân tay luôn luôn phải cử động. Anh làm một cái nền mới để nhóm lửa, lần này ở ngoài trời để không có một cái cây nguy hiểm nào có thể làm tắt ngọn lửa được. Tiếp theo anh gom cỏ khô và những cành cây con bị trôi giạt quanh đó từ vụ nước tràn về lần trước. Anh không thể sử dụng mấy ngón tay kéo từng cái một, nhưng vẫn có thể dùng cả hai bàn tay mà quơ cả những cành củi mục và rêu xanh. Đó là cách tốt nhất anh có thể làm được. Anh làm việc một cách rất có phương pháp, thậm chí nhặt cả một ôm lớn những cành to để dùng sau khi lửa đã bùng to. Trong lúc đó, con chó nằm im và chăm chú nhìn anh, với con mắt thèm muốn, vì nó coi anh là người cung cấp lửa, vậy mà mãi không thấy lửa đâu.
Khi tất cả mọi thứ đã sẵn sàng, anh móc túi lấy ra một miếng vỏ cây Phong thứ hai. Vẫn biết cái vỏ còn nằm trong túi, thế mà tìm mãi vẫn không có cảm giác gì, mà rõ ràng anh nghe thấy tiếng lạo xạo của các vỏ cây va vào nhau khi anh mò tìm. Dù cố hết sức nhưng không sao nắm được miếng vỏ cây. Trong khi đó anh vẫn nhận biết được rằng mỗi khoảnh khắc bàn chân anh thêm tê cóng. Nghĩ thế, anh đâm hoảng sợ, nhưng cố gắng giữ bình tĩnh. Anh lấy răng kéo găng tay rồi vung cánh tay tới lui, đập mạnh hai bàn tay vào hai bên sườn. Hết ngồi, anh lại đứng dậy vung tay trong khi đó con chó vẫn ngồi yên dưới tuyết, đuôi nó quấn lấy hai chân trước trông ấm ấp, hai tai sói thính của nó vểnh lên nghe ngóng, chăm chú nhìn người đàn ông. Còn anh, trong lúc vung đôi cánh tay và bàn tay vỗ và đập như thế bỗng cảm thấy trong lòng dấy lên một nỗi ghen tức với con vật vì nó có bộ lông thiên nhiên che chở cho ấm áp và an toàn.
Một lúc sau, anh bắt đầu nhận thấy ở đầu những ngón tay bị đập ấy có dấu hiệu lờ mờ một chút cảm giác. Cái cảm giác ngứa ran mỗi lúc một tăng lên thành một cái đau buốt hành hạ anh, vậy mà anh lại sung sướng reo lên. Anh tháo chiếc găng tay bên phải và thọc vào túi tìm vỏ cây. Những ngón tay vừa để lộ ra liền bị tê cóng. Tiếp theo anh rút ra một bao diêm. Nhưng cái lạnh khủng khiếp đã khiến cho mấy ngón tay mất hết sinh khí. Còn đang loay hoay để tách một que diêm ra khỏi những que khác, thì lại đánh rơi cả bao xuống tuyết. Anh cố nhặt lên mà không sao nhặt nổi. Những ngón tay đã chết hẳn, không có khả năng chạm vào hay cầm được nữa. Anh rất cẩn thận. Anh xua đuổi ý nghĩ về hai bàn chân, cái mũi và hai má bị tê cóng, anh tập trung tâm trí vào việc nhặt bao diêm lên. Anh quan sát, sử dụng thị giác thay cho xúc giác và khi nhìn thấy hai ngón tay ở hai bên bao diêm, anh liền kẹp lấy, nghĩa là, ý chí muốn vậy, nhưng những dây thần kinh đã bị tê liệt nên những ngón tay cũng không tuân theo nữa. Anh kéo găng tay phải vào rồi đập thật mạnh vào đầu gối. Sau đó anh dùng cả bàn tay đeo găng mà xúc bao diêm lên, mang theo cả một nắm tuyết, đặt vào lòng mình. Nhưng tình hình cũng không khá hơn.
Sau một số thao tác, anh mới kẹp được bao diêm vào giữa cùi hai bàn tay đeo găng, rồi đưa lên miệng. Tuyết đóng quanh miệng vỡ tan ra khi anh lấy hết sức để há miệng ra. Anh rụt hàm dưới vào, uốn cong môi trên trông đến kỳ quái, rồi lấy hàm răng trên ngậm bao diêm nhằm để tách lấy ra một que. Anh đã tách được một que nhưng lại để rơi xuống đất. Cũng chẳng ăn thua gì. Không thể nào nhặt que diêm đó lên được. Anh mới nghĩ ra một cách, liền ghé răng cắn lấy que diêm và quẹt mạnh vào chân. Quẹt đến hai mươi lần que diêm mới cháy. Khi diêm cháy, anh vẫn ngậm giữa hai hàm răng và dí sát vào vỏ cây. Nhưng mùi diêm sinh đang cháy bốc ra bay vào mũi, luồn vào phổi, làm cho anh ho sặc sụa. Que diêm rơi xuống tuyết tắt ngấm.
Ông già vùng sông Sulfur Creek nói có lý, anh nghĩ như vậy vào lúc sự tuyệt vọng được kiềm soát lại trỗi dậy: quá năm mươi độ dưới không độ, ai muốn đi đâu phải có bạn đồng hành. Anh đập mạnh hai bàn tay nhưng không gây nên chút cảm giác nào. Bỗng anh dùng răng cởi cả hai chiếc găng tay ra. Anh lấy cùi tay kẹp bao diêm vào. Do cơ bắp ở hai cánh tay không bị tê cóng, nên anh có thể kẹp chặt bao diêm ở chỗ hai cùi tay. Sau đó anh quẹt cả nắm diêm dọc theo cẳng chân. Bó diêm cháy bùng lên, cả bảy mươi que diêm lưu huỳnh cùng bùng cháy lên một lúc! Không có gió thổi nên diêm không tắt. Anh nghiêng đầu sang một bên để tránh khói làm ngạt thở, rồi chìa cả nắm diêm đang cháy vào vỏ cây Phong. Khi giơ diêm như thế anh nhận ra cảm giác ở nơi tay mình. Da thịt anh đang bị đốt khiến anh ngửi thấy mùi, có cảm giác như nó cháy vào tận trong thịt. Cảm giấc ấy dần dần biến thành cái đau nhức nhối. Song anh vẫn cố gắng chịu đựng, vụng về chìa ngọn lửa vào vỏ cây, nhưng miếng vỏ lại không bắt lửa ngay, vì chính bàn tay đang bị cháy của anh cản trở, hấp thụ phần lớn ngọn lửa.
Cuối cùng không chịu nổi, anh hất cả hai tay ra. Nắm diêm đang cháy rơi xuống nghe xèo xèo trong tuyết, nhưng miếng vỏ cây cũng đã cháy. Anh liền chất cỏ khô và những cành cây nhỏ nhất vào ngọn lửa. Anh không còn khả năng chọn được nữa, vì phải dùng hai cùi tay mà kẹp củi. Những mẩu gỗ mục và những đám rêu xanh bám cả vào củi, nên anh phải cố ghé răng mà nhặt bớt đi. Anh nâng niu ngọn lửa một cách cẩn thận và vụng về. Lửa là sự sống, vì vậy không thể để nó tắt được. Máu rút ra khỏi làn da trên thân thể của anh nên anh bắt đầu thấy run lên cầm cập, và thấy người trở nên vụng về hơn. Một mảng rêu to rơi xuống đúng ngay giữa đống lửa nhỏ. Anh lấy ngón tay cố gạt nó ra, nhưng tấm thân run lẩy bẩy làm cho anh gạt lửa đi quá xa, hất tung những mớ cỏ đang cháy và những cành khô, và thế là cả đống lửa nhỏ bị hổng ở giữa. Anh lại cố vun chúng lại, nhưng có cố mấy cũng chẳng ăn thua gì, vì toàn thân anh đang run bắn lên mà củi lại bắn rải rác. Mỗi cành cây phun ra một cuộn khói rồi tắt ngấm. Người nhóm lửa đã không thành công. Nhìn quanh một cách thẫn thờ, mắt anh chợt bắt gặp con chó đang ngồi bên đống lửa đã tàn lụn, người nó cử động có vẻ bứt rứt bồn chồn, hết nhấc chân bên này lại đến chân bên kia và toàn thân cựa quậy luôn, nhưng đang háo hức muốn có một cái gì đó.
Cảnh tượng của con chó khiến anh nảy ra một ý nghĩ man rợ. Anh nhớ đến câu chuyện về một người bị cuốn trong cơn bão tuyết, đã giết chết con nai và chui vào xác của nó mà nằm cho ấm, nên mới thoát chết. Anh sẽ giết con chó và chôn vùi đôi tay vào trong cơ thể ấm áp của nó cho đến khi hết tê cóng, sau đó lại có thể nhóm được đống lửa khác. Anh bèn gọi nó lại gần, nhưng trong giọng nói có pha chút sợ hãi, khiến con chó cũng sợ, vì từ trước đến giờ nó chưa nghe thấy người đàn ông này nói bằng một giọng như thế trước đây. Chắc có chuyện sao đây, và linh tính đa nghi của nó đã đánh hơi thấy sự nguy hiểm nhưng không biết đó là mối nguy hiểm gì. Đâu đó trong óc nó bỗng nhiên thấy xuất hiện một nỗi sợ hãi đối với người đàn ông. Nó cụp tai xuống khi nghe thấy tiếng gọi của người người đàn ông, rồi những động tác bồn chồn, vặn vẹo mình, hết nhấc chân trước lên lại đặt xuống: nhưng nó không đến. Anh bèn chống hai tay quỳ hai gối và bò lại phía nó. Tư thế lạ lùng đó lại gây thêm mối ngờ vực, nên con chó len lén lùi lại.
Anh lại ngồi lên tuyết một lát và cố lấy lại bình tĩnh. Sau đó anh lấy răng kéo găng tay vào và gượng đứng dậy. Trước hết anh liếc nhìn xuống chân để đoan chắc là mình đang thực sự đứng dậy không, vì anh không có cảm giác là chân mình đụng đất. Tư thế đứng thẳng của anh làm cho con vật hết nghi ngờ, và khi anh quát lên ra lệnh nghe như tiếng roi quất, con chó lại ngoan ngoãn nghe theo như thường ngày. Khi nó tiến đến gần tầm tay, anh đã mất tự chủ, vội giơ tay vồ lấy nó, nhưng đến lúc đó anh mới nhận ra rằng tay mình không còn nắm được nữa, còn những ngón tay thì không sao co lại được, mà cũng không có cảm giác gì cả. Trong chốc lát anh quên khuấy mất rằng không những đôi bàn tay mình đã tê cóng mà mỗi lúc chúng còn tê cóng hơn, mọi việc xảy ra rất nhanh, nên con chó chưa kịp bỏ chạy, anh đã ôm chầm lấy nó. Anh ngồi xuống tuyết, và cứ thế ôm lấy nó, trong khi nó cứ gầm gừ, rên rỉ và vùng vẫy.
Nhưng anh cũng chỉ có thể làm được đến thế, nghĩa là cứ ngồi ôm khư khư lấy con vật. Anh nhận ra rằng mình không có khả năng giết được nó. Không có cách nào để làm điều đó. Với đôi tay vô dụng, anh không thể rút hoặc cầm lấy con dao găm hay bóp cổ nó. Anh đành buông nó ra, con vật vội cụp đuôi phóng một mạch chừng mười thước, nó dừng lại, ngoảnh nhìn anh dáng dò hỏi, hai tai vểnh lên.
Anh ngồi xuống nhìn đôi bàn tay xem nó ở đâu, và thấy nó còn đang lủng lẳng ở cổ tay. Anh bỗng ngạc nhiên thấy mình lại phải dùng đến mắt để xem tay mình ở đâu. Anh liền vung tay đập mạnh hai bàn tay đeo găng vào hai bên sườn. Làm như vậy khoảng năm phút, ráng hết sức đủ để bơm máu lên làn da, thế là anh hết run. Nhưng hai bàn tay không chút cảm giác. Anh có cảm tưởng chúng như hai quả cân treo ở đầu cánh tay, vậy mà anh cố truyền cảm tưởng đó xuống thì lại không thấy gì.
Một nỗi sợ hãi về cái chết lờ mờ và nặng nề xâm chiếm anh. Sự sợ hãi đó nhanh chóng trở nên sâu sắc vì anh nhận ra rằng đây không còn là vấn đề đóng băng các ngón tay và ngón chân, hoặc để mất cả hai bàn tay và bàn chân mà đó là vấn đề sống chết, trong đó cơ hội để sống rất mỏng manh. Điều đó làm anh hoảng sợ, khiến anh quay cổ chạy một mạch trên lòng sông dọc theo con đường mòn cũ, lờ mờ sáng. Con chó tham gia chạy theo sau và đuổi kịp anh. Anh chạy thục mạng không biết trời đất là gì, trong nỗi hoảng loạn anh chưa từng có trong đời. Trong lúc chạy loạng choạng trên tuyết, anh lại dần dần nhìn rõ mọi vật: bờ lạch, những đống gỗ cũ ngổn ngang, những cây dương trụi lá và cả bầu trời. Chạy như thế làm cho anh cảm thấy dễ chịu hơn, người không thấy run nữa. Chắc nếu cứ tiếp tục chạy thì hai bàn chân sẽ rã đá; mà dẫu sao, nếu anh cố gắng chạy thêm một đoạn xa nữa, anh sẽ về đến nơi với anh em ở trại. Ngón tay, ngón chân và một phần trên mặt chắc không còn nguyên vẹn, nhưng anh em sẽ chăm sóc anh, cứu vớt cho phần còn lại khi về đến trại. Nhưng đồng thời, anh lại nẩy ra ý nghĩ cho rằng sẽ không bao giờ mình trở về được tới trại và sum họp cùng anh em, rằng đến đó còn cách quá xa, rằng sự tê cóng đã hình thành quá lớn trong anh, và rằng chắc sớm muộn gì rồi cũng sẽ chết cứng thôi. Anh cố xua đuổi ý nghĩ đó, gác nó lại phía sau, nhưng đôi lúc nó lại hiện ra làm anh cứ phải cố sức nghĩ đến chuyện khác cho quên đi.
Anh ngạc nhiên không hiểu sao mình vẫn chạy được với đôi chân tê dại như thế, tê dại đến mức khi trọng lượng thân người đè nặng xuống và lúc chúng chạm đất anh vẫn không có cảm giác gì. Có vẻ như anh đang lướt đi trên mặt đất, chân không chạm đất, không có mối liên hệ nào với trái đất. Có lúc anh thấy như mình đã nhìn thấy thần Mercury có cánh ở đâu đó, rồi cứ thắc mắc liệu thần Mercury có cảm giác giống như anh khi bay lướt trên mặt đất không.
Lý thuyết của việc chạy một mạch về đến trại và gặp gỡ các bạn lúc này là có sai sót trong đó: anh đâu còn sức chịu đựng, Nhiều lần anh vấp ngã, loạng choạng đứng dậy rồi lại ngã. Anh cố gượng đứng lên, nhưng không nổi, quyết định đành phải ngồi nghỉ và quyết định sẽ không chạy mà chỉ bước đều. Lúc ngồi xuống thở, anh thấy người ấm và dễ chịu hẳn lên. Anh không còn run nữa thậm chí có vẻ hơi ấm như tràn râm ran khắp ngực và bụng. Nhưng khi sờ tay lên mũi và má, không có cảm giác gì. Chạy cũng không làm hết tê cóng được. Cả hai bàn tay và bàn chân cũng vẫn không hết tê. Rồi anh lại nghĩ có lẽ phần tê cóng trên thân thể lan rộng hơn thì phải. Anh cố không nghĩ đến điều đó, chỉ nghĩ đến điều khác cho quên đi: anh ý thức rằng cứ nghĩ như thế sẽ gây hoảng sợ, mà anh vốn lại sợ sự hoảng hốt. Nhưng ý nghĩ đó cứ ám ảnh anh một cách dai dẳng cho đến khi nó tạo ra hình ảnh toàn thân bị tê cóng lại. Nghĩ nhiều cũng vậy thôi, thế là anh lại vùng đứng dậy chạy thục mạng dọc theo con đường mòn. Có lần anh chạy chậm lại và đi bộ từ từ, nhưng rồi nghĩ đến chỗ tê cóng đang lan khắp, anh lại lao đầu chạy.
Trong suốt thời gian ấy, con chó vẫn chạy bám sát gót anh. Lúc anh ngã lần thứ hai, nó lại ngồi xuống trước mặt, đuôi quấn lấy hai chân trước, chăm chú nhìn anh một cách tò mò. Sự ấm cúng và an toàn của con vật khiến anh nổi cáu, rồi chửi cho nó một trận, khiến con vật phải cụp tai xuống ra chiều ngoan ngoãn. Lần này cái rét đến với anh nhanh hơn. Anh đang thua trong cuộc chiến với cái giá rét đang lan khắp thân mình, tấn công anh từ mọi phía. Nghĩ đến cái rét tê cóng, anh lại càng chạy thục mạng, nhưng chưa được một trăm feet thì anh đã lảo đảo ngã sấp xuống. Lần hoảng hốt này là lần cuối cùng. Khi đã lấy lại được hơi thở và khả năng kiểm soát, anh ngồi dậy và nghĩ mình có chết cũng phải chết một cách xứng đáng. Tuy nhiên, ý nghĩ đó không đến một cách rõ nét như vậy. Anh chỉ thấy mình như một thằng ngốc, chạy quẩn như con gà bị cắt tiết – anh lại nảy ra sự so sánh đó trong đầu. Thôi thì đằng nào cũng chết cóng, nên phải chết cho đàng hoàng. Khi đã tìm được sự tĩnh tâm mới này, anh bỗng thấy buồn ngủ. Một ý tưởng hay. Anh nghĩ đến giấc ngủ ngàn thu ngon lành, chẳng khác gì uống một liều thuốc ngủ. Chết cóng thì có gì đau đớn như người ta tưởng đâu! Còn có nhiều cái chết khác tồi tệ hơn nhiều.
Anh hình dung ngày mai anh em tìm thấy xác anh. Bỗng nhiên anh thấy mình đang đi cùng mọi người dọc theo con đường mòn và tìm kiếm chính mình. Rồi anh lại cùng với họ đi tới chỗ rẽ của con đường và thấy mình đang nằm trên tuyết. Anh không còn thuộc về bản thân mình nữa, vì thậm chí ngay lúc đó anh đã thoát ra khỏi chính mình, đứng cùng với anh em và nhìn vào xác mình nằm trên tuyết: Trời quả là rất lạnh, anh nghĩ thế. Khi nào về lại Hoa Kỳ, anh sẽ kể lại cho mọi người nghe cái lạnh thực sự nó như thế nào. Nghĩ miên man, anh lại nhớ đến ông già vùng Sulfur Creek. Anh có thể thấy rõ hình ảnh một ông già đang ngồi hút tẩu trong cảnh ấm cúng dễ chịu.
“Ông nói đúng ông già ạ; ông nói đúng đấy” anh lẩm bẩm như đang nói với ông già ở Sulfur Creek.
Sau đó anh thiếp đi trong một giấc ngủ ngon lành và thoả mãn nhất mà dường như chưa bao giờ anh được hưởng. Con chó vẫn ngồi nhìn anh và chờ đợi. Một ngày ngắn ngủi tan dần trong ánh hoàng hôn còn đọng lại mãi không tan. Không có dấu hiệu nào cho thấy là có nhóm lửa. Ngoài ra, theo kinh nghiệm của loài chó, nó chưa bao giờ thấy con người ngồi ở tư thế như vậy trên tuyết mà lại không đốt lửa sưởi. Khi trời mỗi lúc một tối dần, lòng khao khát có một đống lửa xâm chiếm con vật, chân trước của nó động đậy liên hồi, rồi nó khẽ rên rỉ, nó cụp tai xuống trong sự mong chờ người đàn ông mắng. Nhưng người đàn ông vẫn giữ yên lặng. Sau đó con vật rên rỉ to hơn, bò lê dần tới anh và đánh hơi thấy cái chết. Nó đứng thẳng lên và lùi lại. Nó chần chừ một lúc, rồi rú lên một cách thê thảm dưới bầu trời lạnh buốt điểm những ngôi sao sáng lấp lánh như nhảy múa. Sau đó, nó quay đi và chạy ngược theo con đường mòn về hướng trại mà nó quen thuộc, nơi đó sẽ có người cho nó ăn và đốt lửa cho nó sưởi.
Phan Thiện Trì chuyển ngữ
Oct, 2021
To Build a Fire
by Jack London
Day had broken cold and grey, exceedingly cold and grey, when the man turned aside from the main Yukon trail and climbed the high earth- bank, where a dim and little-travelled trail led eastward through the fat spruce timberland. It was a steep bank, and he paused for breath at the top, excusing the act to himself by looking at his watch. It was nine o'clock. There was no sun nor hint of sun, though there was not a cloud in the sky. It was a clear day, and yet there seemed an intangible pall over the face of things, a subtle gloom that made the day dark, and that was due to the absence of sun. This fact did not worry the man. He was used to the lack of sun. It had been days since he had seen the sun, and he knew that a few more days must pass before that cheerful orb, due south, would just peep above the sky- line and dip immediately from view.
The man flung a look back along the way he had come. The Yukon lay a mile wide and hidden under three feet of ice. On top of this ice were as many feet of snow. It was all pure white, rolling in gentle undulations where the ice-jams of the freeze-up had formed. North and south, as far as his eye could see, it was unbroken white, save for a dark hair-line that curved and twisted from around the spruce- covered island to the south, and that curved and twisted away into the north, where it disappeared behind another spruce-covered island. This dark hair-line was the trail--the main trail--that led south five hundred miles to the Chilcoot Pass, Dyea, and salt water; and that led north seventy miles to Dawson, and still on to the north a thousand miles to Nulato, and finally to St. Michael on Bering Sea, a thousand miles and half a thousand more.
But all this--the mysterious, far-reaching hairline trail, the absence of sun from the sky, the tremendous cold, and the strangeness and weirdness of it all--made no impression on the man. It was not because he was long used to it. He was a new-comer in the land, a chechaquo, and this was his first winter. The trouble with him was that he was without imagination. He was quick and alert in the things of life, but only in the things, and not in the significances. Fifty degrees below zero meant eighty odd degrees of frost. Such fact impressed him as being cold and uncomfortable, and that was all. It did not lead him to meditate upon his frailty as a creature of temperature, and upon man's frailty in general, able only to live within certain narrow limits of heat and cold; and from there on it did not lead him to the conjectural field of immortality and man's place in the universe. Fifty degrees below zero stood for a bite of frost that hurt and that must be guarded against by the use of mittens, ear-flaps, warm moccasins, and thick socks. Fifty degrees below zero was to him just precisely fifty degrees below zero. That there should be anything more to it than that was a thought that never entered his head.
As he turned to go on, he spat speculatively. There was a sharp, explosive crackle that startled him. He spat again. And again, in the air, before it could fall to the snow, the spittle crackled. He knew that at fifty below spittle crackled on the snow, but this spittle had crackled in the air. Undoubtedly it was colder than fifty below--how much colder he did not know. But the temperature did not matter. He was bound for the old claim on the left fork of Henderson Creek, where the boys were already. They had come over across the divide from the Indian Creek country, while he had come the roundabout way to take a look at the possibilities of getting out logs in the spring from the islands in the Yukon. He would be in to camp by six o'clock; a bit after dark, it was true, but the boys would be there, a fire would be going, and a hot supper would be ready. As for lunch, he pressed his hand against the protruding bundle under his jacket. It was also under his shirt, wrapped up in a handkerchief and lying against the naked skin. It was the only way to keep the biscuits from freezing. He smiled agreeably to himself as he thought of those biscuits, each cut open and sopped in bacon grease, and each enclosing a generous slice of fried bacon.
He plunged in among the big spruce trees. The trail was faint. A foot of snow had fallen since the last sled had passed over, and he was glad he was without a sled, travelling light. In fact, he carried nothing but the lunch wrapped in the handkerchief. He was surprised, however, at the cold. It certainly was cold, he concluded, as he rubbed his numbed nose and cheek-bones with his mittened hand. He was a warm-whiskered man, but the hair on his face did not protect the high cheek-bones and the eager nose that thrust itself aggressively into the frosty air.
At the man's heels trotted a dog, a big native husky, the proper wolf-dog, grey-coated and without any visible or temperamental difference from its brother, the wild wolf. The animal was depressed by the tremendous cold. It knew that it was no time for travelling. Its instinct told it a truer tale than was told to the man by the man's judgment. In reality, it was not merely colder than fifty below zero; it was colder than sixty below, than seventy below. It was seventy-five below zero. Since the freezing-point is thirty-two above zero, it meant that one hundred and seven degrees of frost obtained. The dog did not know anything about thermometers. Possibly in its brain there was no sharp consciousness of a condition of very cold such as was in the man's brain. But the brute had its instinct. It experienced a vague but menacing apprehension that subdued it and made it slink along at the man's heels, and that made it question eagerly every unwonted movement of the man as if expecting him to go into camp or to seek shelter somewhere and build a fire. The dog had learned fire, and it wanted fire, or else to burrow under the snow and cuddle its warmth away from the air.
The frozen moisture of its breathing had settled on its fur in a fine powder of frost, and especially were its jowls, muzzle, and eyelashes whitened by its crystalled breath. The man's red beard and moustache were likewise frosted, but more solidly, the deposit taking the form of ice and increasing with every warm, moist breath he exhaled. Also, the man was chewing tobacco, and the muzzle of ice held his lips so rigidly that he was unable to clear his chin when he expelled the juice. The result was that a crystal beard of the colour and solidity of amber was increasing its length on his chin. If he fell down it would shatter itself, like glass, into brittle fragments. But he did not mind the appendage. It was the penalty all tobacco- chewers paid in that country, and he had been out before in two cold snaps. They had not been so cold as this, he knew, but by the spirit thermometer at Sixty Mile he knew they had been registered at fifty below and at fifty-five.
He held on through the level stretch of woods for several miles, crossed a wide flat of nigger-heads, and dropped down a bank to the frozen bed of a small stream. This was Henderson Creek, and he knew he was ten miles from the forks. He looked at his watch. It was ten o'clock. He was making four miles an hour, and he calculated that he would arrive at the forks at half-past twelve. He decided to celebrate that event by eating his lunch there.
The dog dropped in again at his heels, with a tail drooping discouragement, as the man swung along the creek-bed. The furrow of the old sled-trail was plainly visible, but a dozen inches of snow covered the marks of the last runners. In a month no man had come up or down that silent creek. The man held steadily on. He was not much given to thinking, and just then particularly he had nothing to think about save that he would eat lunch at the forks and that at six o'clock he would be in camp with the boys. There was nobody to talk to and, had there been, speech would have been impossible because of the ice-muzzle on his mouth. So he continued monotonously to chew tobacco and to increase the length of his amber beard.
Once in a while the thought reiterated itself that it was very cold and that he had never experienced such cold. As he walked along he rubbed his cheek-bones and nose with the back of his mittened hand. He did this automatically, now and again changing hands. But rub as he would, the instant he stopped his cheek-bones went numb, and the following instant the end of his nose went numb. He was sure to frost his cheeks; he knew that, and experienced a pang of regret that he had not devised a nose-strap of the sort Bud wore in cold snaps. Such a strap passed across the cheeks, as well, and saved them. But it didn't matter much, after all. What were frosted cheeks? A bit painful, that was all; they were never serious.
Empty as the man's mind was of thoughts, he was keenly observant, and he noticed the changes in the creek, the curves and bends and timber- jams, and always he sharply noted where he placed his feet. Once, coming around a bend, he shied abruptly, like a startled horse, curved away from the place where he had been walking, and retreated several paces back along the trail. The creek he knew was frozen clear to the bottom--no creek could contain water in that arctic winter--but he knew also that there were springs that bubbled out from the hillsides and ran along under the snow and on top the ice of the creek. He knew that the coldest snaps never froze these springs, and he knew likewise their danger. They were traps. They hid pools of water under the snow that might be three inches deep, or three feet. Sometimes a skin of ice half an inch thick covered them, and in turn was covered by the snow. Sometimes there were alternate layers of water and ice-skin, so that when one broke through he kept on breaking through for a while, sometimes wetting himself to the waist.
That was why he had shied in such panic. He had felt the give under his feet and heard the crackle of a snow-hidden ice-skin. And to get his feet wet in such a temperature meant trouble and danger. At the very least it meant delay, for he would be forced to stop and build a fire, and under its protection to bare his feet while he dried his socks and moccasins. He stood and studied the creek-bed and its banks, and decided that the flow of water came from the right. He reflected awhile, rubbing his nose and cheeks, then skirted to the left, stepping gingerly and testing the footing for each step. Once clear of the danger, he took a fresh chew of tobacco and swung along at his four-mile gait.
In the course of the next two hours he came upon several similar traps. Usually the snow above the hidden pools had a sunken, candied appearance that advertised the danger. Once again, however, he had a close call; and once, suspecting danger, he compelled the dog to go on in front. The dog did not want to go. It hung back until the man shoved it forward, and then it went quickly across the white, unbroken surface. Suddenly it broke through, floundered to one side, and got away to firmer footing. It had wet its forefeet and legs, and almost immediately the water that clung to it turned to ice. It made quick efforts to lick the ice off its legs, then dropped down in the snow and began to bite out the ice that had formed between the toes. This was a matter of instinct. To permit the ice to remain would mean sore feet. It did not know this. It merely obeyed the mysterious prompting that arose from the deep crypts of its being. But the man knew, having achieved a judgment on the subject, and he removed the mitten from his right hand and helped tear out the ice- particles. He did not expose his fingers more than a minute, and was astonished at the swift numbness that smote them. It certainly was cold. He pulled on the mitten hastily, and beat the hand savagely across his chest.
At twelve o'clock the day was at its brightest. Yet the sun was too far south on its winter journey to clear the horizon. The bulge of the earth intervened between it and Henderson Creek, where the man walked under a clear sky at noon and cast no shadow. At half-past twelve, to the minute, he arrived at the forks of the creek. He was pleased at the speed he had made. If he kept it up, he would certainly be with the boys by six. He unbuttoned his jacket and shirt and drew forth his lunch. The action consumed no more than a quarter of a minute, yet in that brief moment the numbness laid hold of the exposed fingers. He did not put the mitten on, but, instead, struck the fingers a dozen sharp smashes against his leg. Then he sat down on a snow-covered log to eat. The sting that followed upon the striking of his fingers against his leg ceased so quickly that he was startled, he had had no chance to take a bite of biscuit. He struck the fingers repeatedly and returned them to the mitten, baring the other hand for the purpose of eating. He tried to take a mouthful, but the ice-muzzle prevented. He had forgotten to build a fire and thaw out. He chuckled at his foolishness, and as he chuckled he noted the numbness creeping into the exposed fingers. Also, he noted that the stinging which had first come to his toes when he sat down was already passing away. He wondered whether the toes were warm or numbed. He moved them inside the moccasins and decided that they were numbed.
He pulled the mitten on hurriedly and stood up. He was a bit frightened. He stamped up and down until the stinging returned into the feet. It certainly was cold, was his thought. That man from Sulphur Creek had spoken the truth when telling how cold it sometimes got in the country. And he had laughed at him at the time! That showed one must not be too sure of things. There was no mistake about it, it was cold. He strode up and down, stamping his feet and threshing his arms, until reassured by the returning warmth. Then he got out matches and proceeded to make a fire. From the undergrowth, where high water of the previous spring had lodged a supply of seasoned twigs, he got his firewood. Working carefully from a small beginning, he soon had a roaring fire, over which he thawed the ice from his face and in the protection of which he ate his biscuits. For the moment the cold of space was outwitted. The dog took satisfaction in the fire, stretching out close enough for warmth and far enough away to escape being singed.
When the man had finished, he filled his pipe and took his comfortable time over a smoke. Then he pulled on his mittens, settled the ear-flaps of his cap firmly about his ears, and took the creek trail up the left fork. The dog was disappointed and yearned back toward the fire. This man did not know cold. Possibly all the generations of his ancestry had been ignorant of cold, of real cold, of cold one hundred and seven degrees below freezing-point. But the dog knew; all its ancestry knew, and it had inherited the knowledge. And it knew that it was not good to walk abroad in such fearful cold. It was the time to lie snug in a hole in the snow and wait for a curtain of cloud to be drawn across the face of outer space whence this cold came. On the other hand, there was keen intimacy between the dog and the man. The one was the toil-slave of the other, and the only caresses it had ever received were the caresses of the whip- lash and of harsh and menacing throat-sounds that threatened the whip-lash. So the dog made no effort to communicate its apprehension to the man. It was not concerned in the welfare of the man; it was for its own sake that it yearned back toward the fire. But the man whistled, and spoke to it with the sound of whip-lashes, and the dog swung in at the man's heels and followed after.
The man took a chew of tobacco and proceeded to start a new amber beard. Also, his moist breath quickly powdered with white his moustache, eyebrows, and lashes. There did not seem to be so many springs on the left fork of the Henderson, and for half an hour the man saw no signs of any. And then it happened. At a place where there were no signs, where the soft, unbroken snow seemed to advertise solidity beneath, the man broke through. It was not deep. He wetted himself half-way to the knees before he floundered out to the firm crust.
He was angry, and cursed his luck aloud. He had hoped to get into camp with the boys at six o'clock, and this would delay him an hour, for he would have to build a fire and dry out his foot-gear. This was imperative at that low temperature--he knew that much; and he turned aside to the bank, which he climbed. On top, tangled in the underbrush about the trunks of several small spruce trees, was a high-water deposit of dry firewood--sticks and twigs principally, but also larger portions of seasoned branches and fine, dry, last-year's grasses. He threw down several large pieces on top of the snow. This served for a foundation and prevented the young flame from drowning itself in the snow it otherwise would melt. The flame he got by touching a match to a small shred of birch-bark that he took from his pocket. This burned even more readily than paper. Placing it on the foundation, he fed the young flame with wisps of dry grass and with the tiniest dry twigs.
He worked slowly and carefully, keenly aware of his danger. Gradually, as the flame grew stronger, he increased the size of the twigs with which he fed it. He squatted in the snow, pulling the twigs out from their entanglement in the brush and feeding directly to the flame. He knew there must be no failure. When it is seventy- five below zero, a man must not fail in his first attempt to build a fire--that is, if his feet are wet. If his feet are dry, and he fails, he can run along the trail for half a mile and restore his circulation. But the circulation of wet and freezing feet cannot be restored by running when it is seventy-five below. No matter how fast he runs, the wet feet will freeze the harder.
All this the man knew. The old-timer on Sulphur Creek had told him about it the previous fall, and now he was appreciating the advice. Already all sensation had gone out of his feet. To build the fire he had been forced to remove his mittens, and the fingers had quickly gone numb. His pace of four miles an hour had kept his heart pumping blood to the surface of his body and to all the extremities. But the instant he stopped, the action of the pump eased down. The cold of space smote the unprotected tip of the planet, and he, being on that unprotected tip, received the full force of the blow. The blood of his body recoiled before it. The blood was alive, like the dog, and like the dog it wanted to hide away and cover itself up from the fearful cold. So long as he walked four miles an hour, he pumped that blood, willy-nilly, to the surface; but now it ebbed away and sank down into the recesses of his body. The extremities were the first to feel its absence. His wet feet froze the faster, and his exposed fingers numbed the faster, though they had not yet begun to freeze. Nose and cheeks were already freezing, while the skin of all his body chilled as it lost its blood.
But he was safe. Toes and nose and cheeks would be only touched by the frost, for the fire was beginning to burn with strength. He was feeding it with twigs the size of his finger. In another minute he would be able to feed it with branches the size of his wrist, and then he could remove his wet foot-gear, and, while it dried, he could keep his naked feet warm by the fire, rubbing them at first, of course, with snow. The fire was a success. He was safe. He remembered the advice of the old-timer on Sulphur Creek, and smiled. The old-timer had been very serious in laying down the law that no man must travel alone in the Klondike after fifty below. Well, here he was; he had had the accident; he was alone; and he had saved himself. Those old-timers were rather womanish, some of them, he thought. All a man had to do was to keep his head, and he was all right. Any man who was a man could travel alone. But it was surprising, the rapidity with which his cheeks and nose were freezing. And he had not thought his fingers could go lifeless in so short a time. Lifeless they were, for he could scarcely make them move together to grip a twig, and they seemed remote from his body and from him. When he touched a twig, he had to look and see whether or not he had hold of it. The wires were pretty well down between him and his finger-ends.
All of which counted for little. There was the fire, snapping and crackling and promising life with every dancing flame. He started to untie his moccasins. They were coated with ice; the thick German socks were like sheaths of iron half-way to the knees; and the mocassin strings were like rods of steel all twisted and knotted as by some conflagration. For a moment he tugged with his numbed fingers, then, realizing the folly of it, he drew his sheath-knife.
But before he could cut the strings, it happened. It was his own fault or, rather, his mistake. He should not have built the fire under the spruce tree. He should have built it in the open. But it had been easier to pull the twigs from the brush and drop them directly on the fire. Now the tree under which he had done this carried a weight of snow on its boughs. No wind had blown for weeks, and each bough was fully freighted. Each time he had pulled a twig he had communicated a slight agitation to the tree--an imperceptible agitation, so far as he was concerned, but an agitation sufficient to bring about the disaster. High up in the tree one bough capsized its load of snow. This fell on the boughs beneath, capsizing them. This process continued, spreading out and involving the whole tree. It grew like an avalanche, and it descended without warning upon the man and the fire, and the fire was blotted out! Where it had burned was a mantle of fresh and disordered snow.
The man was shocked. It was as though he had just heard his own sentence of death. For a moment he sat and stared at the spot where the fire had been. Then he grew very calm. Perhaps the old-timer on Sulphur Creek was right. If he had only had a trail-mate he would have been in no danger now. The trail-mate could have built the fire. Well, it was up to him to build the fire over again, and this second time there must be no failure. Even if he succeeded, he would most likely lose some toes. His feet must be badly frozen by now, and there would be some time before the second fire was ready.
Such were his thoughts, but he did not sit and think them. He was busy all the time they were passing through his mind, he made a new foundation for a fire, this time in the open; where no treacherous tree could blot it out. Next, he gathered dry grasses and tiny twigs from the high-water flotsam. He could not bring his fingers together to pull them out, but he was able to gather them by the handful. In this way he got many rotten twigs and bits of green moss that were undesirable, but it was the best he could do. He worked methodically, even collecting an armful of the larger branches to be used later when the fire gathered strength. And all the while the dog sat and watched him, a certain yearning wistfulness in its eyes, for it looked upon him as the fire-provider, and the fire was slow in coming.
When all was ready, the man reached in his pocket for a second piece of birch-bark. He knew the bark was there, and, though he could not feel it with his fingers, he could hear its crisp rustling as he fumbled for it. Try as he would, he could not clutch hold of it. And all the time, in his consciousness, was the knowledge that each instant his feet were freezing. This thought tended to put him in a panic, but he fought against it and kept calm. He pulled on his mittens with his teeth, and threshed his arms back and forth, beating his hands with all his might against his sides. He did this sitting down, and he stood up to do it; and all the while the dog sat in the snow, its wolf-brush of a tail curled around warmly over its forefeet, its sharp wolf-ears pricked forward intently as it watched the man. And the man as he beat and threshed with his arms and hands, felt a great surge of envy as he regarded the creature that was warm and secure in its natural covering.
After a time he was aware of the first far-away signals of sensation in his beaten fingers. The faint tingling grew stronger till it evolved into a stinging ache that was excruciating, but which the man hailed with satisfaction. He stripped the mitten from his right hand and fetched forth the birch-bark. The exposed fingers were quickly going numb again. Next he brought out his bunch of sulphur matches. But the tremendous cold had already driven the life out of his fingers. In his effort to separate one match from the others, the whole bunch fell in the snow. He tried to pick it out of the snow, but failed. The dead fingers could neither touch nor clutch. He was very careful. He drove the thought of his freezing feet; and nose, and cheeks, out of his mind, devoting his whole soul to the matches. He watched, using the sense of vision in place of that of touch, and when he saw his fingers on each side the bunch, he closed them--that is, he willed to close them, for the wires were drawn, and the fingers did not obey. He pulled the mitten on the right hand, and beat it fiercely against his knee. Then, with both mittened hands, he scooped the bunch of matches, along with much snow, into his lap. Yet he was no better off.
After some manipulation he managed to get the bunch between the heels of his mittened hands. In this fashion he carried it to his mouth. The ice crackled and snapped when by a violent effort he opened his mouth. He drew the lower jaw in, curled the upper lip out of the way, and scraped the bunch with his upper teeth in order to separate a match. He succeeded in getting one, which he dropped on his lap. He was no better off. He could not pick it up. Then he devised a way. He picked it up in his teeth and scratched it on his leg. Twenty times he scratched before he succeeded in lighting it. As it flamed he held it with his teeth to the birch-bark. But the burning brimstone went up his nostrils and into his lungs, causing him to cough spasmodically. The match fell into the snow and went out.
The old-timer on Sulphur Creek was right, he thought in the moment of controlled despair that ensued: after fifty below, a man should travel with a partner. He beat his hands, but failed in exciting any sensation. Suddenly he bared both hands, removing the mittens with his teeth. He caught the whole bunch between the heels of his hands. His arm-muscles not being frozen enabled him to press the hand-heels tightly against the matches. Then he scratched the bunch along his leg. It flared into flame, seventy sulphur matches at once! There was no wind to blow them out. He kept his head to one side to escape the strangling fumes, and held the blazing bunch to the birch-bark. As he so held it, he became aware of sensation in his hand. His flesh was burning. He could smell it. Deep down below the surface he could feel it. The sensation developed into pain that grew acute. And still he endured it, holding the flame of the matches clumsily to the bark that would not light readily because his own burning hands were in the way, absorbing most of the flame.
At last, when he could endure no more, he jerked his hands apart. The blazing matches fell sizzling into the snow, but the birch-bark was alight. He began laying dry grasses and the tiniest twigs on the flame. He could not pick and choose, for he had to lift the fuel between the heels of his hands. Small pieces of rotten wood and green moss clung to the twigs, and he bit them off as well as he could with his teeth. He cherished the flame carefully and awkwardly. It meant life, and it must not perish. The withdrawal of blood from the surface of his body now made him begin to shiver, and he grew more awkward. A large piece of green moss fell squarely on the little fire. He tried to poke it out with his fingers, but his shivering frame made him poke too far, and he disrupted the nucleus of the little fire, the burning grasses and tiny twigs separating and scattering. He tried to poke them together again, but in spite of the tenseness of the effort, his shivering got away with him, and the twigs were hopelessly scattered. Each twig gushed a puff of smoke and went out. The fire-provider had failed. As he looked apathetically about him, his eyes chanced on the dog, sitting across the ruins of the fire from him, in the snow, making restless, hunching movements, slightly lifting one forefoot and then the other, shifting its weight back and forth on them with wistful eagerness.
The sight of the dog put a wild idea into his head. He remembered the tale of the man, caught in a blizzard, who killed a steer and crawled inside the carcass, and so was saved. He would kill the dog and bury his hands in the warm body until the numbness went out of them. Then he could build another fire. He spoke to the dog, calling it to him; but in his voice was a strange note of fear that frightened the animal, who had never known the man to speak in such way before. Something was the matter, and its suspicious nature sensed danger,--it knew not what danger but somewhere, somehow, in its brain arose an apprehension of the man. It flattened its ears down at the sound of the man's voice, and its restless, hunching movements and the liftings and shiftings of its forefeet became more pronounced but it would not come to the man. He got on his hands and knees and crawled toward the dog. This unusual posture again excited suspicion, and the animal sidled mincingly away.
The man sat up in the snow for a moment and struggled for calmness. Then he pulled on his mittens, by means of his teeth, and got upon his feet. He glanced down at first in order to assure himself that he was really standing up, for the absence of sensation in his feet left him unrelated to the earth. His erect position in itself started to drive the webs of suspicion from the dog's mind; and when he spoke peremptorily, with the sound of whip-lashes in his voice, the dog rendered its customary allegiance and came to him. As it came within reaching distance, the man lost his control. His arms flashed out to the dog, and he experienced genuine surprise when he discovered that his hands could not clutch, that there was neither bend nor feeling in the lingers. He had forgotten for the moment that they were frozen and that they were freezing more and more. All this happened quickly, and before the animal could get away, he encircled its body with his arms. He sat down in the snow, and in this fashion held the dog, while it snarled and whined and struggled.
But it was all he could do, hold its body encircled in his arms and sit there. He realized that he could not kill the dog. There was no way to do it. With his helpless hands he could neither draw nor hold his sheath-knife nor throttle the animal. He released it, and it plunged wildly away, with tail between its legs, and still snarling. It halted forty feet away and surveyed him curiously, with ears sharply pricked forward. The man looked down at his hands in order to locate them, and found them hanging on the ends of his arms. It struck him as curious that one should have to use his eyes in order to find out where his hands were. He began threshing his arms back and forth, beating the mittened hands against his sides. He did this for five minutes, violently, and his heart pumped enough blood up to the surface to put a stop to his shivering. But no sensation was aroused in the hands. He had an impression that they hung like weights on the ends of his arms, but when he tried to run the impression down, he could not find it.
A certain fear of death, dull and oppressive, came to him. This fear quickly became poignant as he realized that it was no longer a mere matter of freezing his fingers and toes, or of losing his hands and feet, but that it was a matter of life and death with the chances against him. This threw him into a panic, and he turned and ran up the creek-bed along the old, dim trail. The dog joined in behind and kept up with him. He ran blindly, without intention, in fear such as he had never known in his life. Slowly, as he ploughed and floundered through the snow, he began to see things again--the banks of the creek, the old timber-jams, the leafless aspens, and the sky. The running made him feel better. He did not shiver. Maybe, if he ran on, his feet would thaw out; and, anyway, if he ran far enough, he would reach camp and the boys. Without doubt he would lose some fingers and toes and some of his face; but the boys would take care of him, and save the rest of him when he got there. And at the same time there was another thought in his mind that said he would never get to the camp and the boys; that it was too many miles away, that the freezing had too great a start on him, and that he would soon be stiff and dead. This thought he kept in the background and refused to consider. Sometimes it pushed itself forward and demanded to be heard, but he thrust it back and strove to think of other things.
It struck him as curious that he could run at all on feet so frozen that he could not feel them when they struck the earth and took the weight of his body. He seemed to himself to skim along above the surface and to have no connection with the earth. Somewhere he had once seen a winged Mercury, and he wondered if Mercury felt as he felt when skimming over the earth.
His theory of running until he reached camp and the boys had one flaw in it: he lacked the endurance. Several times he stumbled, and finally he tottered, crumpled up, and fell. When he tried to rise, he failed. He must sit and rest, he decided, and next time he would merely walk and keep on going. As he sat and regained his breath, he noted that he was feeling quite warm and comfortable. He was not shivering, and it even seemed that a warm glow had come to his chest and trunk. And yet, when he touched his nose or cheeks, there was no sensation. Running would not thaw them out. Nor would it thaw out his hands and feet. Then the thought came to him that the frozen portions of his body must be extending. He tried to keep this thought down, to forget it, to think of something else; he was aware of the panicky feeling that it caused, and he was afraid of the panic. But the thought asserted itself, and persisted, until it produced a vision of his body totally frozen. This was too much, and he made another wild run along the trail. Once he slowed down to a walk, but the thought of the freezing extending itself made him run again.
And all the time the dog ran with him, at his heels. When he fell down a second time, it curled its tail over its forefeet and sat in front of him facing him curiously eager and intent. The warmth and security of the animal angered him, and he cursed it till it flattened down its ears appeasingly. This time the shivering came more quickly upon the man. He was losing in his battle with the frost. It was creeping into his body from all sides. The thought of it drove him on, but he ran no more than a hundred feet, when he staggered and pitched headlong. It was his last panic. When he had recovered his breath and control, he sat up and entertained in his mind the conception of meeting death with dignity. However, the conception did not come to him in such terms. His idea of it was that he had been making a fool of himself, running around like a chicken with its head cut off--such was the simile that occurred to him. Well, he was bound to freeze anyway, and he might as well take it decently. With this new-found peace of mind came the first glimmerings of drowsiness. A good idea, he thought, to sleep off to death. It was like taking an anaesthetic. Freezing was not so bad as people thought. There were lots worse ways to die.
He pictured the boys finding his body next day. Suddenly he found himself with them, coming along the trail and looking for himself. And, still with them, he came around a turn in the trail and found himself lying in the snow. He did not belong with himself any more, for even then he was out of himself, standing with the boys and looking at himself in the snow. It certainly was cold, was his thought. When he got back to the States he could tell the folks what real cold was. He drifted on from this to a vision of the old-timer on Sulphur Creek. He could see him quite clearly, warm and comfortable, and smoking a pipe.
"You were right, old hoss; you were right," the man mumbled to the old-timer of Sulphur Creek.
Then the man drowsed off into what seemed to him the most comfortable and satisfying sleep he had ever known. The dog sat facing him and waiting. The brief day drew to a close in a long, slow twilight. There were no signs of a fire to be made, and, besides, never in the dog's experience had it known a man to sit like that in the snow and make no fire. As the twilight drew on, its eager yearning for the fire mastered it, and with a great lifting and shifting of forefeet, it whined softly, then flattened its ears down in anticipation of being chidden by the man. But the man remained silent. Later, the dog whined loudly. And still later it crept close to the man and caught the scent of death. This made the animal bristle and back away. A little longer it delayed, howling under the stars that leaped and danced and shone brightly in the cold sky. Then it turned and trotted up the trail in the direction of the camp it knew, where were the other food-providers and fire-providers.
SSA 1. ĐÔI BÍT TẤT LỤA
Kate Chopin
Một ngày nọ bà trẻ Sommers thấy chính mình là người sở hữu bất ngờ mười lăm đô-la. Dường như đối với bà, đây là một số tiền lớn, và việc nhét vào, làm căng chiếc ví cũ sờn của bà quan trọng như thể bà chưa từng được hưởng trong nhiều năm.
Câu hỏi về việc đầu tư số tiền này khiến bà bận tâm rất nhiều. Một hai ngày đầu bà đi quanh quẩn trong trạng thái mơ màng nhưng thực ra bà mải mê trong suy nghĩ và tính toán. Bà không muốn hành động vội vã, làm bất cứ thứ gì mà về sau sẽ hối tiếc. Nhưng chính trong những giờ yên tĩnh vào ban đêm khi bà nằm tỉnh thức, suy đi xét lại các kế hoạch trong đầu mà bà có vẻ thấy cái cách của mình một cách rõ ràng đối với việc sử dụng đồng tiền một cách đúng đắn và hợp pháp.
Một hoặc hai đô la nên được thêm vào giá tiền thường được trả cho đôi giày của Jenie, mà việc này sẽ đảm bảo sự kéo dài của chúng một thời gian đáng kể lâu hơn chúng thường tồn tại. Bà sẽ mua nhiều, rất nhiều mét vải pec-can may áo sơ mi mới cho các cậu con trai và áo lửng cho Janie và Mag. Bà đã dự định vá lại các chiếc áo cũ một cách khéo léo. Mag đáng lẽ đã nên có một chiếc áo dài khác. Bà cũng đã xem mấy kiểu áo đẹp, với giá hời thực sự trong các tủ kiếng bày hàng. Và vẫn còn có đủ tiền để mua một đôi bít tất dài mới – hai đôi mỗi đứa - và điều đáng kinh ngạc biết bao là sẽ tiết kiệm được một thời gian! Bà sẽ mua mũ lưỡi trai cho các cậu con trai và mũ thuỷ thủ cho các cô con gái. Hình ảnh của lũ trẻ sẽ trông tươi trẻ, xinh xắn và mới mẻ một lần trong đời của chúng đã khiến bà phấn khích và khiến bà bồn chồn và tỉnh thức trong sự mong đợi.
Những người láng giềng đôi lúc nói về “những ngày tươi đẹp” nào đó mà Bà trẻ Sommers đã biết trước khi nghĩ đến việc trở thành một quý Bà Sommers thực sự.
Chính bản thân bà đã không mải mê vào một sự hồi tưởng không lành mạnh như vậy. Bà không có thời gian – không có lấy một giây phút nào để dành cho quá khứ. Những nhu cầu hiện tại đã hấp thụ mọi khả năng của bà. Một viễn cảnh về tương lai giống như một số quái vật mờ mịt, gầy còm khiến bà kinh hoàng, nhưng may thay cái ngày mai ấy sẽ không bao giờ đến.
Bà Sommers là một trong những người biết rõ giá trị của những món hời; người mà có thể đứng hàng giờ để nhích từng bước từng bước về phía đối tượng được mong ước đang bán dưới giá thành. Bà có thể huých khuỷu tay chen lên nếu cần; bà đã học cách cầm nắm một món hàng và giữ nó, gắn bó với nó bằng tất cả sự kiên trì và quyết tâm cho đến lượt bà được phục vụ, dù cho khi nào nó đến đi nữa.
Nhưng hôm đó bà cảm thấy hơi yếu và mệt, bà đã nuốt vội một bữa trưa nhẹ - không! Khi bà nghĩ đến nó, giữa việc cho lũ trẻ ăn và địa điểm ăn cho đúng, và chuẩn bị cho buổi mua sắm, bà đã quên chưa ăn bữa trưa nào cả!
Bà đã ngồi trên chiếc ghế đôn xoay trước quầy hàng, lúc này tương đối vắng, cố lấy hết sức mạnh và sự can đảm để vượt qua một đám đông háo hức đang bao vây hàng rào che chắn của khu bán vải ba-tít có hình vẽ và vải để may áo sơ mi. Một cảm giác chân tay rã rời đã đến với bà và bà vô tình tựa tay lên quầy. Bà không mang găng tay. Theo mức độ, bà nhận thức được rằng bàn tay bà đã gặp phải một thứ gì đó rất êm dịu, rất dễ chịu khi chạm vào. Bà nhìn xuống và thấy rằng bàn tay bà nằm trên một chồng bít tất dài bằng lụa. Một bảng quảng cáo gần đó thông báo rằng chúng được giảm giá từ hai đô năm mươi xuống còn một đô chín mươi tám; một cô gái trẻ đứng đàng sau quầy hỏi có phải bà muốn xem mặt hàng lụa dệt kim của họ không. Bà mỉm cười, như thể bà đã được yêu cầu kiểm tra một vương miện kim cương với mục đích cuối cùng là mua nó. Nhưng bà vẫn tiếp tục cảm nhận những món sang trọng, mềm mại và rực rỡ - bây giờ bằng cả hai tay, bà cầm chúng lên để thấy chúng sáng lấp lánh , và cảm thấy chúng lướt nhẹ như một con rắn qua các ngón tay bà.
Hai chỗ sưng tấy ửng đỏ bỗng xuất hiện trên đôi má nhợt nhạt của bà. Bà nhìn lên cô gái
“Cô có nghĩ rằng có bất cứ đôi số tám- rưỡi nào khác trong số này không?
Có bất cứ đôi số tám-rưỡi nào khác à. Thực ra, có nhiều cỡ đó hơn bất cứ cỡ nào khác. Đây là một đôi màu xanh nhạt; có vài đôi màu hoa oải hương, một số màu đen và nhiều màu đậm nhạt khác nhau như màu nắng rám, màu xám. Bà Sommers chọn đôi màu đen và nhìn rất lâu và rất sát vào chúng. Bà giả vờ đang kiểm tra kết cấu của chúng, mà người bán hàng quả quyết rằng bà ấy rất sành điệu.
“Một đô chín mươi tám cents” bà trầm ngâm lớn tiếng.
“Được rồi, tôi lấy đôi này”. Bà trao cho cô gái tờ giấy bạc năm đô và chờ đợi tiền thối lại và gói hàng của bà. Một gói nhỏ biết bao! Nó có vẻ như bị mất hút trong chiều sâu của chiếc túi mua sắm cũ tồi tàn của bà.
“Bà Sommers sau đó đã không di chuyển theo hướng của quầy mặc cả. Bà đến chỗ thang máy để lên tầng trên vào khu vực phòng đợi của các quý bà. Tại đây trong góc vắng người qua lại bà thay đôi tất vải bằng đôi tất lụa mới bà vừa mua. Bà không trải qua bất kỳ quá trình tâm thần cấp tính nào hay suy luận với bản thân, cũng không phải cố gắng để giải thích đối với sự hài lòng về động cơ hành động của mình. Bà không nghĩ gì cả. Bà có vẻ muốn dành thời gian để nghỉ ngơi sau chức năng nặng nhọc và mệt mỏi đó và từ bỏ bản thân mình theo một động lực máy móc điều khiển hành động của bà và đã giải phóng nó.
Sự tiếp xúc của vải lụa thô lên da thịt bà thật tuyệt làm sao! Bà cảm thấy muốn ngã lưng vào chiếc ghế đệm và thưởng thức một lúc trong sự sang trọng của nó. Bà làm như vậy trong một thời gian ngắn. Sau đó bà thay giày, cuộn đôi tất bông lại với nhau và nhét chúng vào túi. Sau khi làm xong điều này, bà đi thẳng đến gian hàng giày dép, và tìm chỗ ngồi để được phục vụ.
Bà ấy rất khó chiều, rất kén chọn. Nhân viên bán hàng không thể làm cho bà hiểu được; anh không thể dung hoà giữa giày và bít tất của bà, và không dễ gì làm bà hài lòng. Bà giữ váy lại, quay chân sang hướng này, quay đầu sang hướng khác khi bà nhìn xuống đôi ủng mũi nhọn, bóng loáng. Bàn chân và mắt cá chân trông rất xinh xắn. Bà không thể nhận ra rằng chúng thuộc về bà và là một phần của chính bà. Bà muốn có một bộ đồ hợp thời trang và sành điệu. Bà nói với anh bạn trẻ phục vụ bà và không ngại chênh lệch một hoặc hai đô la về giá miễn là bà có được thứ bà muốn.
Đã lâu rồi bà Sommers chưa được mang găng tay. Trong những dịp hiếm hoi khi bà mua một đôi, chúng luôn là “món hời”, rẻ đến mức thật phi lý và phi lý nếu mong chúng vừa vặn với tay bà.
Bây giờ bà chống khuỷu tay lên đệm của quầy bán găng tay, và một sinh vật trẻ xinh xắn, dễ chịu, tinh tế và khéo léo , đã vẽ một “đứa trẻ” dài xuống cổ tay qua trên bàn tay của bà Sommers. Bà vuốt nó xuống cổ tay và cài nút gọn gàng, và cả hai đều chìm đắm trong khoảng một hoặc hai giây để trầm trồ khi chiêm ngưỡng bàn tay nhỏ nhắn, đeo găng đối xứng. Nhưng còn có một nơi khác mà tiền có thể được chi tiêu.
Có những chồng sách và tạp chí trên cửa sổ của một quầy hàng cách đường phố vài bước chân. Bà Sommers mua hai cuốn tạp chí giá cao mà bà quen đọc trong những ngày bà quen với những thứ dễ chịu khác. Bà mang chúng mà không cần gói. Cũng như bà có thể vén váy của mình tại các ngã tư, tất chân, ủng và găng tay vừa vặn của bà đã tạo nên những điều kỳ diệu trong khả năng chịu đựng của bà – đã mang lại một thứ cảm giác an toàn cho bà, cảm giác thân thuộc với vô số người ăn mặc sang trọng. Bà đã rất đói. Một lần khác, bà vẫn còn thèm ăn cho đến khi về đến nhà riêng của bà, nơi bà có thể tự pha cho mình một tách cà phê và ăn nhẹ bất cứ thứ gì có sẵn. Nhưng sự thôi thúc đang dẫn dắt bà để khiến bà phải chịu đựng khỏi sự giải trí với bất cứ ý nghĩ nào như vậy.
Có một nhà hàng ở góc đường. Bà chưa bao giờ bước vào cửa của nó; từ bên ngoài, đôi khi bà có thể bắt gập những ánh nhìn của gấm hoa và đồ vật bằng pha lê sáng choá, không tỳ vết, và những nhân viên phục vụ bước đi nhẹ nhàng phục vụ những người yêu thích thời trang.
Khi bà bước vào, sự xuất hiện của bà không tạo ra bất cứ sự ngạc nhiên nào, không một nỗi kinh hoàng nào, như bà đã nửa sợ điều đó có thể.xảy ra. Bà ngồi vào chiếc bàn nhỏ một mình; một nhân viên phục vụ chu đáo ngay lập tức tiến đến hỏi món gọi của bà. Bà không muốn có một lời nói tục tĩu; bà thèm một món ăn ngon đầy hương vị - nửa tá sò huyết, một miếng cải xoong đầy đặn với cải xoong, một món gì đó ngọt ngào – chẳng hạn như chiếc bánh creeme-frappee; một ly rượu Rhine, và sau cùng là một tách cà phê đen nhỏ.
Trong khi chờ đợi được phục vụ, bà thong thả tháo găng tay và đặt chúng bên cạnh. Sau đó, bà cầm một cuốn tạp chí lên và liếc qua nó, rọc các trang bằng một con dao cùn. Tất cả đều rất hợp ý. Gấm hoa thậm chí còn đẹp hơn nó đã có vẻ khi được nhìn xuyên qua cửa sổ, và đồ pha lê cũng lấp lánh hơn. Có các quý bà, quý cô trầm lặng, không để ý đến bà, dùng bữa trưa bên những chiếc bàn nhỏ giống như bàn ăn của bà Có thể nghe thấy một bản nhạc êm dịu, dễ chịu và một làn gió nhẹ thổi qua cửa sổ. Bà nếm thử một miếng, đọc một hoặc hai từ, nhấp ngụm rượu màu hổ phách và ngọ nguậy các ngón chân trong đôi tất lụa. Giá cả của nhà hàng này không có sự khác biệt mấy. Bà đếm tiền cho người phục vụ và để lại một đồng xu trên khay của anh ta, sau đó anh ta cúi đầu trước bà như trước một công chúa mang dòng máu hoàng tộc.
Trong ví của bà vẫn còn tiền, và sự cám dỗ tiếp theo của bà hiện ra dưới hình dạng của một tấm áp phích quảng cáo suất biểu diễn vào buổi trưa.
Một lúc sau khi bà bước vào rạp hát, vở kịch đã bắt đầu và nhà hát đối với bà dường như đã chật cứng. Nhưng đây đó vẫn còn những chỗ trống, và người soát vé dẫn bà ngồi vào một trong những chỗ đó, giữa những người phụ nữ ăn mặc rực rỡ đã đến đó để giết thời gian, ăn kẹo và phô trương trang phục lòe loẹt. Có rất nhiều người khác ở đó chỉ vì vở kịch và diễn xuất. Có thể nói rằng không có ai có mặt tại đây tỏ ra khá hài lòng với thái độ mà bà Sommers đã làm với những người xung quanh. Bà thâu thập toàn bộ - sân khấu và các diễn viên và mọi người vào một ấn tượng rộng rãi, hấp thụ nó và tận hưởng nó. Bà đã cười với vở hài kịch và khóc - bà và người phụ nữ lòe loẹt bên cạnh bà đã khóc với vở bi kịch. Và họ cũng đã thảo luận với nhau đôi chút về thảm kịch. Và người phụ nữ lòe loẹt lau mắt và ngửi một miếng vải ren hình vuông nhỏ xíu có mùi thơm và đưa cho bà Sommers hộp kẹo của bà.
Vở kịch kết thúc, âm nhạc ngừng, đám đông kéo ra ngoài. Nó giống như một giấc mơ kết thúc. Mọi người tản ra tứ phía. Bà Sommers ra góc đường và đợi cáp treo. Một người đàn ông với đôi mắt tinh tường, ngồi đối diện với bà, dường như rất thích nghiên cứu khuôn mặt nhỏ nhắn, xanh xao của bà. Nó khiến anh ta bối rối khi giải mã những gì anh thấy ở đó. Sự thật, anh chẳng thấy gì - trừ phi anh đủ tinh tường để phát hiện ra một điều ước thẳm sâu, một khao khát mãnh liệt rằng cáp treo sẽ không bao giờ dừng lại ở bất cứ đâu, mà sẽ đi mãi với bà ấy mãi mãi.
Phan Thiện Trì chuyển ngữ
Sept. 2021
A Pair of Silk Stockings
by Kate Chopin
Little Mrs. Sommers one day found herself the unexpected possessor of fifteen dollars. It seemed to her a very large amount of money, and the way in which it stuffed and bulged her worn old porte-monnaie gave her a feeling of importance such as she had not enjoyed for years.
The question of investment was one that occupied her greatly. For a day or two she walked about apparently in a dreamy state, but really absorbed in speculation and calculation. She did not wish to act hastily, to do anything she might afterward regret. But it was during the still hours of the night when she lay awake revolving plans in her mind that she seemed to see her way clearly toward a proper and judicious use of the money.
A dollar or two should be added to the price usually paid for Janie's shoes, which would insure their lasting an appreciable time longer than they usually did. She would buy so and so many yards of percale for new shirt waists for the boys and Janie and Mag. She had intended to make the old ones do by skilful patching. Mag should have another gown. She had seen some beautiful patterns, veritable bargains in the shop windows. And still there would be left enough for new stockings--two pairs apiece--and what darning that would save for a while! She would get caps for the boys and sailor-hats for the girls. The vision of her little brood looking fresh and dainty and new for once in their lives excited her and made her restless and wakeful with anticipation.
The neighbors sometimes talked of certain "better days" that little Mrs. Sommers had known before she had ever thought of being Mrs. Sommers. She herself indulged in no such morbid retrospection. She had no time--no second of time to devote to the past. The needs of the present absorbed her every faculty. A vision of the future like some dim, gaunt monster sometimes appalled her, but luckily tomorrow never comes.
Mrs. Sommers was one who knew the value of bargains; who could stand for hours making her way inch by inch toward the desired object that was selling below cost. She could elbow her way if need be; she had learned to clutch a piece of goods and hold it and stick to it with persistence and determination till her turn came to be served, no matter when it came.
But that day she was a little faint and tired. She had swallowed a light luncheon--no! when she came to think of it, between getting the children fed and the place righted, and preparing herself for the shopping bout, she had actually forgotten to eat any luncheon at all!
She sat herself upon a revolving stool before a counter that was comparatively deserted, trying to gather strength and courage to charge through an eager multitude that was besieging breastworks of shirting and figured lawn. An all-gone limp feeling had come over her and she rested her hand aimlessly upon the counter. She wore no gloves. By degrees she grew aware that her hand had encountered something very soothing, very pleasant to touch. She looked down to see that her hand lay upon a pile of silk stockings. A placard nearby announced that they had been reduced in price from two dollars and fifty cents to one dollar and ninety-eight cents; and a young girl who stood behind the counter asked her if she wished to examine their line of silk hosiery. She smiled, just as if she had been asked to inspect a tiara of diamonds with the ultimate view of purchasing it. But she went on feeling the soft, sheeny luxurious things--with both hands now, holding them up to see them glisten, and to feel them glide serpent-like through her fingers.
Two hectic blotches came suddenly into her pale cheeks. She looked up at the girl.
"Do you think there are any eights-and-a-half among these?"
There were any number of eights-and-a-half. In fact, there were more of that size than any other. Here was a light-blue pair; there were some lavender, some all black and various shades of tan and gray. Mrs. Sommers selected a black pair and looked at them very long and closely. She pretended to be examining their texture, which the clerk assured her was excellent.
"A dollar and ninety-eight cents," she mused aloud. "Well, I'll take this pair." She handed the girl a five-dollar bill and waited for her change and for her parcel. What a very small parcel it was! It seemed lost in the depths of her shabby old shopping-bag.
Mrs. Sommers after that did not move in the direction of the bargain counter. She took the elevator, which carried her to an upper floor into the region of the ladies' waiting-rooms. Here, in a retired corner, she exchanged her cotton stockings for the new silk ones which she had just bought. She was not going through any acute mental process or reasoning with herself, nor was she striving to explain to her satisfaction the motive of her action. She was not thinking at all. She seemed for the time to be taking a rest from that laborious and fatiguing function and to have abandoned herself to some mechanical impulse that directed her actions and freed her of responsibility.
How good was the touch of the raw silk to her flesh! She felt like lying back in the cushioned chair and revelling for a while in the luxury of it. She did for a little while. Then she replaced her shoes, rolled the cotton stockings together and thrust them into her bag. After doing this she crossed straight over to the shoe department and took her seat to be fitted.
She was fastidious. The clerk could not make her out; he could not reconcile her shoes with her stockings, and she was not too easily pleased. She held back her skirts and turned her feet one way and her head another way as she glanced down at the polished, pointed-tipped boots. Her foot and ankle looked very pretty. She could not realize that they belonged to her and were a part of herself. She wanted an excellent and stylish fit, she told the young fellow who served her, and she did not mind the difference of a dollar or two more in the price so long as she got what she desired.
It was a long time since Mrs. Sommers had been fitted with gloves. On rare occasions when she had bought a pair they were always "bargains," so cheap that it would have been preposterous and unreasonable to have expected them to be fitted to the hand.
Now she rested her elbow on the cushion of the glove counter, and a pretty, pleasant young creature, delicate and deft of touch, drew a long-wristed "kid" over Mrs. Sommers's hand. She smoothed it down over the wrist and buttoned it neatly, and both lost themselves for a second or two in admiring contemplation of the little symmetrical gloved hand. But there were other places where money might be spent.
There were books and magazines piled up in the window of a stall a few paces down the street. Mrs. Sommers bought two high-priced magazines such as she had been accustomed to read in the days when she had been accustomed to other pleasant things. She carried them without wrapping. As well as she could she lifted her skirts at the crossings. Her stockings and boots and well fitting gloves had worked marvels in her bearing--had given her a feeling of assurance, a sense of belonging to the well-dressed multitude.
She was very hungry. Another time she would have stilled the cravings for food until reaching her own home, where she would have brewed herself a cup of tea and taken a snack of anything that was available. But the impulse that was guiding her would not suffer her to entertain any such thought.
There was a restaurant at the corner. She had never entered its doors; from the outside she had sometimes caught glimpses of spotless damask and shining crystal, and soft-stepping waiters serving people of fashion.
When she entered her appearance created no surprise, no consternation, as she had half feared it might. She seated herself at a small table alone, and an attentive waiter at once approached to take her order. She did not want a profusion; she craved a nice and tasty bite--a half dozen blue-points, a plump chop with cress, a something sweet--a creme-frappee, for instance; a glass of Rhine wine, and after all a small cup of black coffee.
While waiting to be served she removed her gloves very leisurely and laid them beside her. Then she picked up a magazine and glanced through it, cutting the pages with a blunt edge of her knife. It was all very agreeable. The damask was even more spotless than it had seemed through the window, and the crystal more sparkling. There were quiet ladies and gentlemen, who did not notice her, lunching at the small tables like her own. A soft, pleasing strain of music could be heard, and a gentle breeze, was blowing through the window. She tasted a bite, and she read a word or two, and she sipped the amber wine and wiggled her toes in the silk stockings. The price of it made no difference. She counted the money out to the waiter and left an extra coin on his tray, whereupon he bowed before her as before a princess of royal blood.
There was still money in her purse, and her next temptation presented itself in the shape of a matinee poster.
It was a little later when she entered the theatre, the play had begun and the house seemed to her to be packed. But there were vacant seats here and there, and into one of them she was ushered, between brilliantly dressed women who had gone there to kill time and eat candy and display their gaudy attire. There were many others who were there solely for the play and acting. It is safe to say there was no one present who bore quite the attitude which Mrs. Sommers did to her surroundings. She gathered in the whole--stage and players and people in one wide impression, and absorbed it and enjoyed it. She laughed at the comedy and wept--she and the gaudy woman next to her wept over the tragedy. And they talked a little together over it. And the gaudy woman wiped her eyes and sniffled on a tiny square of filmy, perfumed lace and passed little Mrs. Sommers her box of candy.
The play was over, the music ceased, the crowd filed out. It was like a dream ended. People scattered in all directions. Mrs. Sommers went to the corner and waited for the cable car.
A man with keen eyes, who sat opposite to her, seemed to like the study of her small, pale face. It puzzled him to decipher what he saw there. In truth, he saw nothing-unless he were wizard enough to detect a poignant wish, a powerful longing that the cable car would never stop anywhere, but go on and on with her forever.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét