DSS25. MỘT NGƯỜI NGỒI BẤT ĐỘNG
Oek De Jong
Translation from Dutch into English by Laura Watkinson
Translation from English into Vietnamese by Phan Thien Tri
Oek De Jong (b. 1952) đã tạo bước đột phá của mình bằng quyển tiểu thuyết bán chạy nhất của ông Billowing Summer Dresses (1979), tiếp theo bởi ba quyển tiểu thuyết, và những tuyển tập truyện ngắn và tiểu luận. Năm 2012 ông xuất bản quyển Opus magnum, Pier and Ocean, đã được trao giải thưởng F. Bordewijk và Gouden Uil . Sách của De Jong đã được dịch sang chín thứ tiếng. Ấn phẩm mới đây nhất của ông là một tiểu luận về thực trạng của tiểu thuyết, What Only the Novel Can Say (2013). Truyện ngắn Motionless Man được xuất bản lần đầu vào năm 1975.
Mặc dầu tôi không thích người khác và tránh gặp mặt họ, nhưng một đêm nọ tôi vẫn vào phòng ông ta và hỏi, “Thế nào, có khoẻ không? Làm thế nào để ông tự làm chính mình trở nên bận rộn?”
Ông không trả lời ngay, nhưng sau đó một lúc ông nói với một tiếng thở dài, và có vẻ như ở phần cuối của một câu trả lời dài hơn: “ … và không có gì đặc biệt..”
Điều đó đã làm tôi ngạc nhiên đôi chút, vì tôi luôn coi ông như một người năng động và dám nghĩ dám làm. Lắm lần tôi chứng kiến ông ta đi lang thang chỗ cầu thang và dãy hành lang với những viên đá lóng lánh một cách kỳ lạ, với những quyển sách hay động vật nhỏ đã chết? Tôi không biết tên người đàn ông này. Tôi chỉ gọi ông Tze.
Tôi hướng cái nhìn vào cái lưng hơi cong và cái đầu của ông.được chống lên hai nắm tay để nâng lớp thịt của hai má ông lên. Ông đã đẩy chiếc ghế ông đang ngồi lên lưng chừng bên dưới bàn và bẻ gộp người khá xa về phía trước đến nỗi chỉ còn cách khoảng mười lăm centimet giữa khuôn mặt ông và bức tường trơ trụi. Ngay cả bên ngoài khoé mắt ông, tất cả những gì ông có thể thấy là bức tường. Không có lấy một dấu vết gì về những viên đá lóng lánh kỳ lạ, những quyển sách hay những xác động vật nhỏ.
Phòng của Tze thì cực kỳ nhỏ. Nếu tôi dang đôi cánh tay lên bên trên đầu, tôi sẽ chạm vào trần nhà; nếu tôi bước tới phía trước một bước và đưa tay ra trước mặt là tôi đụng ngay vào bức tường đối diện; dang đôi cánh tay sang một bên đến hết chiều dài của chúng là điều khó có thể.
Không có lấy một cử động dù là nhẹ nhất, Tze giờ đã nói một cách lặng lẽ, “Còn ngài, thưa ngài, ngài tên gì, và ngài bận rộn như thế nào?
“Kalk là tên của tôi, và tôi rất bận với việc viết một quyển sách đánh giá chính mình, mặc dầu chẳng có nhu cầu đặc biệt gì để làm việc đó. Tôi coi nó như một sự tiêu khiển thì giờ”.
“Và ông đã làm việc với sự nổ lực của ông cho bản tự đánh giá này bao lâu rồi?”
“Đến nay đã trên bảy năm, với nhiều sự gián đoạn”.
“Nhưng tại sao ông làm gián đoạn công việc của ông?”
“Thực ra tôi không biết chính xác những sự gián đoạn đó là gì; những ngày tôi viết bản tự đánh giá hay những ngày tôi không viết. Nói sao bây giờ: Tôi nhịn ăn trong năm ngày và tôi ăn ngấu nghiến trong hai ngày, và tôi thấy cả hai hoạt động này không quan trọng mấy, nhưng tôi thích nhịn ăn hơn là ăn”.
“Thế nhưng sau năm năm nhịn ăn, ắt hẳn ông đang tiến gần tới một điểm nơi mà ông có thể hình thành trí tuệ của mình một cách ngắn gọn và đơn giản”.
“Đúng vậy, cách đây hai năm tôi đã hoàn tất quyển tự đánh giá của tôi, và nó lên tới hằng ngàn trang. Rồi tôi bắt đầu viết lại, và sau mỗi ngày làm việc, có ít trang còn lại hơn là ngày hôm trước. Một khoảng thời gian dài đến nay, chỉ còn võn vẹn một trang duy nhất. Những gì được viết trên trang đó bao gồm không một thứ gì ngoại trừ một vài giây của cuộc đời tôi, thế nhưng đó chính là trạng thái nguyên vẹn của nó”.
Tôi ngồi đợi một lúc, mắt chăm chăm nhìn vào Tze. Trong suốt tiến trình của cuộc luận đàm, thỉnh thoảng ông rùng mình, khi ngôn từ gia tăng theo cấp số. Thậm chí lúc này ông còn ép sát bụng vào thành bàn, móc đôi bàn chân vào sau chân ghế, mở và xếp chặt hai nắm tay quanh đầu như những chiếc lá lớn. Rồi ông ngồi bất động trở lại, rồi tiếp tục, ‘Trên trang giấy duy nhất ấy, tôi mô tả những gì tôi chứng kiến, vào nửa khuya, lúc đỉnh điểm giữa trạng thái tỉnh thức và giấc ngủ say: tôi đang ngồi trong một căn phòng rõ ràng là không có một ai khác, mặc dầu nó không phải trống trơn. Một người bước vào, hai tay đang ôm những bó hoa lớn, đủ các loại khác nhau, màu sắc rực rỡ. Người ấy đặt chúng lên một cái bàn, tách ra từng bó, cắm vào các lọ hoa, và thế là có một số lớn những lọ hoa trong phòng. Rồi hắn ta ra đi. Thoạt đầu tôi rất hân hoan trước cái đẹp và hương thơm của hoa, nhưng rồi sự hiện hữu của chúng trở nên không thể chịu đựng nổi, tôi rút hết chúng ra khỏi các lọ hoa, vứt tất cả ra ngoài cửa sổ. Lúc này căn phòng trở nên trống rỗng trở lại, và hương hoa dần dần phai nhạt. Tôi cảm thấy như mình được giải phóng và thoát khỏi một mối hiểm nguy lớn, nhưng đồng thời tôi lại trở nên hết sức buồn bã.
“Ngày hôm sau, người đàn ông ấy trở lại, mang theo những bông hoa. Tôi lại tận hưởng hương hoa đó ngay lúc đầu, nhưng liền trở nên sợ hãi và vứt tất cả chúng ra ngoài cửa sổ. Tôi cảm thấy nhẹ cả người nhưng lại rất buồn. Sự kiện tương tự này lập đi lập lại mãi”.
Tze không nói lời nào, vì vậy tôi đứng đó, cảm thấy vụng về lúng túng. Sau một hồi lâu – tôi sắp rời đi – ông ta nói: “Nếu tôi hiểu đúng sự phong phú trong ngôn từ của cậu thì cuộc sống vừa lôi cuốn vừa làm cho cậu kinh hãi, và điều đó khiến cho cậu buồn nản”.
“Đúng vậy, tôi đang né tránh mọi người và chỉ liên quan đến cuộc sống khi nào thật cần thiết”.
“Vậy có bất cứ sự cần thiết nào đối với sự hiện diện của cậu trong phòng này không?” Tze hỏi, và tôi nghe như có một chút gì đó có tính cách phòng vệ trong giọng nói của ông”.
“Mọi nguyên tắc đều đòi hỏi một sự không nhất quán, hoặc nó không thể là một nguyên tắc; và sự không nhất quán đó khiến cho mọi nguyên tắc hoàn toàn thoả đáng”.
“Có vẻ đúng đó,” Tze nói. Tôi nghi là ông đang mỉm cười với chút mỉa mai trong đó.
“Ở lứa tuổi thanh niên, ta có vẻ thanh thoát hơn, nhưng trống rỗng hơn,” tôi xin lỗi.
“Đúng vậy, điều đó nghe có vẻ rất đúng,” Tze trả lời. Tôi cho rằng sự đồng ý với nhau lúc này là lúc tốt nhất để tiếp cận ông ta hơn. Rất thận trọng, tôi rời khỏi chỗ của tôi bên cửa ra vào, nơi tôi đang đứng đến lúc này, với ý định nhìn kỹ khuôn mặt của ông. Nhưng vừa khi tôi tiến đến thì ông nói, “Vui lòng đứng yên tại đó. Ngay cả mọi cử động của tôi cũng khiến tôi không thể chịu đựng được. Tôi ghét sự chuyển động. Mọi thứ thay đổi đều khiển tôi khó chịu. Tôi thường bận rộn với những động vật nhỏ, nhưng rồi chúng trở nên thối rữa trong tay tôi. Vì vậy tôi đọc sách. Tôi thường đọc cùng một trang hai lần, và hai lần tôi thường khám phá một cái gì đó rất khác biệt được viết ra trong đó. Cuối cùng tôi tìm thấy câu trả lời của tôi trong các viên đá. Nhưng tôi không bao giờ tìm thấy sự óng ánh của chúng trong cùng một cách giống nhau hai lần”.
Đến lúc này tôi hiểu mục đích của ông ta là trở nên bất động, và cảnh tượng của bức tường là những gì ông có thể chịu đựng được. Tôi bắt đầu hỏi ông ta về trạng thái bất động, nhưng ông không trả lời. Sự run rẩy kỳ lạ của cơ thể ông từ từ ngưng lại. Và dù cho tôi có quan sát ông tinh tế mấy đi nữa, tôi cũng không thể tìm thấy bất cứ một sự chuyển động nào. Vì vậy tôi rời khỏi phòng mà không gây ra bất cứ một tiếng động nào.
Một tuần lễ sau chuyến thăm viếng đầu tiên ấy tôi trở lại chỗ ông Tze, và rồi từ đó trở đi tôi thăm viếng ông gần như mỗi ngày. Trước đó, tôi biết lối đi của tôi bị che mờ bởi sự hỗn độn của các bậc thang và dãy phòng trước cấu tạo phần lớn của ngôi nhà. Trong phòng ông, tôi đứng bên cạnh cửa, càng tĩnh lặng càng tốt. Tze ngồi bất động trong ghế của ông, và chúng tôi nói chuyện với nhau.
Thỉnh thoảng ông cũng duỗi đôi cánh tay và đôi chân cứng đơ của ông ra một lúc, nhưng luôn luôn bằng sự do dự và sự nổ lực đáng kể, vì quần áo ông mặc quá bó sát và bám chặt vào cơ thể ông một cách ngoại lệ. Tôi cũng nhân lúc đó mà thay đổi trọng lượng của tôi từ chân này qua chân kia.
Tze là người duy nhất mà tôi từng tiếp xúc. Và tôi thực sự muốn thắng vượt ông bằng cách giữ lời nói của mình luôn đúng trọng tâm, và thỉnh thoảng cũng giữ yên lặng một lúc. Sự giải trình của tôi đã xong, nhưng nó chỉ đưa tôi đến một sự kết thúc chết lặng. Lúc đó tôi không còn phương hướng hay mục tiêu nào và ở trong trạng thái vô cùng bấp bênh.
Một đêm nọ, tôi yêu cầu Tze rời khỏi phòng và cùng đi dạo với tôi. Sau một lúc chần chừ, ông đồng ý. Ông đẩy lùi chiếc ghế dựa, và đứng dậy với một sự khó khăn lớn. Lần đầu tiên tôi thấy rõ khuôn mặt của ông; nó hẹp và khá nổi bật, khuôn mặt của ông lướt ngang qua, rất sát với khuôn mặt của tôi, và ngất ngưởng cao bên trên, gần sát với trần nhà. Tze là người rất khổng lồ. Ắt hẳn là ông cao hơn tôi đến ba mươi centimet . Ngực ông rộng gần bằng cánh cửa, và nếu muốn, ông có thể tóm lấy cổ tôi bằng một cánh tay.
Chúng tôi len lỏi qua bóng tối của cầu thang và và các dãy phòng ở tiền sảnh, và sau một lúc, chúng tôi ra tới bên ngoài. Rồi chúng tôi theo một lối đi hẹp, ngoằn ngoèo giữa một cánh đồng trơ trụi, nhấp nhô. Chúng tôi đi bộ một hồi lâu, thường xuyên đi xuống. Lối đi có dốc thẳng đứng ở một vài chỗ đến nỗi chúng tôi phải ôm nhau để khỏi ngã.
Thật là một sự nổ lực rất lớn đối với Tze để đẩy tấm thân ì ạch của ông về phía trước. Ông vừa đi vừa thở hổn hển, và thoạt đầu các khớp xương của ông kêu lách cách. Ông thường ngước đầu lên phía sau để nhìn lên bầu trời đen thẫm, rải rắc những vì sao, dù ông đi thế nào đi nữa, chúng luôn hiện hữu trên đầu ông. Điều đó khiến ông có thể chịu đựng được. Ông để tôi nắm tay ông và dắt ông xuống lối đi.
Chúng tôi đến một dòng sông chảy rộng về phía trước. Nước xoáy và bắn tung toé, vỗ vào bờ bởi cơn gió mạnh. Bên kia sông, những ngọn núi xanh phơn phớt đằng xa khó có thể trông thấy rõ.
Tze đứng xoay lưng về hướng gió lắc tay tôi từ trong cánh tay ông.
“Tôi có thể nghe thấy cậu đã đưa tôi đến một bờ nước,” ông nói một cách khó chịu. “Một cái hồ hay một con sông”.
“Đó là một dòng sông, nhưng tôi không có chủ đích muốn đưa ông đến đây. Tôi không biết lối đi mà chúng ta đã đi theo dẫn đưa chúng ta đến đây. Cũng như ông, tôi cũng là kẻ mới đến những vùng này”.
“Sông thì không thể nào chịu đựng nổi,” Tze nói. “Chúng ta không bao giờ bước vào cùng một dòng nước hai lần. Một nơi rất tốt mà cậu chọn để làm cuộc chia tay tôi! Đáng lẽ cậu nên dẫn tôi đến một trong những ngọn núi thay vì đến đây!”
Ông có vẻ hơi phẩn nộ trước sự thuyết phục ông ta rời khỏi căn phòng của ông bởi tôi. Vì vậy, để cuộc đi dạo duy nhất với nhau của chúng tôi không bị phá hỏng bởi sự yên lặng đầy khó chịu, tôi kể cho ông điều đầu tiên xuất hiện trong tâm trí tôi, nhớ lại những ngọn núi mà chắc có lẽ ông muốn xem.
“Có lẽ ông nghe câu chuyện về một người đàn ông rời khỏi nhà của mình một sáng nọ, chỉ với một bộ đồ đang mặc trên người và hướng về phía những ngọn núi ở đằng xa. Ông ta đến đó lúc màn đêm buông xuống, và ông ta nằm xuống như một chiếc cầu bắc ngang qua một hẻm núi hẹp nhưng rất sâu. Ông ta đã nằm ở đó, chỉ thấy độ sâu chết người bên dưới, và chịu đựng cái nắng gay gắt giữa ban ngày và cái lạnh thấu xương vào ban đêm mà không một lời phàn nàn. Ông ta nghĩ ông đã đạt đến một sự bất động hoàn hảo và hy vọng sẽ hoá đá và trở thành một chiếc cầu tự nhiên. Nhưng rồi mùa xuân đến, tuyết trên đỉnh núi tan chảy. Một dòng suối đổ xuống dọc theo sườn núi, tìm điểm thấp nhất và, cuồn cuộn một cách đầy thịnh nộ, chảy mạnh bên dưới người đàn ông đó, chảy xuyên qua hẻm núi. Lúc này ông mới chứng kiến một sự chuyển động và đổi thay thường xuyên. Cuối cùng ông ta không còn có thể chịu đựng được nữa, vì vậy ông đứng dậy và gieo mình xuống khe núi”.
Tze lặng thinh.
“Điều tương tự như vậy sẽ xảy ra đối với ông,” tôi tiếp tục. “Luôn luôn có sự chuyển động ở mọi nơi để làm cho ông run rẩy và cảm thấy bất an. Tại sao không lội xuống dòng sông này để tựu thành sự bất động hoàn hảo nhỉ? Hãy làm ngay bây giờ đi. Đây là lúc thích hợp nhất: không ai cứu ông để chống lại ý chí của ông”.
“Không,” Tze trả lời “tôi muốn sông trong trạng thái bất động”.
“Có vẻ như một nghịch lý”.
“Đúng là một nghịch lý. Nhưng nghịch lý là cách duy nhất,” Tze quát to lên, một cách đầy kích động và không thể an ủi được. “Thật dễ dàng đối với cậu để nói bằng sự hiểu biết cuộc sống một cách nghịch lý của cậu mà chẳng ràng buộc cậu vào bất cứ thứ gì”.
Tôi muốn đáp lại bằng một tràng ngôn từ, vì tình trạng bấp bênh khiến cho con người muốn nói. Nhưng vừa khi Tze nói điều này thì ông quay lưng lại phía dòng sông, cúi đầu xuống và bắt đầu trèo lên lối đi hẹp. Ông ta làm vậy với những bước dài mà, chỉ sau một lúc tôi thôi không cố gắng để đuổi kịp ông ta nữa. Tôi ngồi lại một mình trò chuyện với dòng sông.
Sau sự cố này, tôi không dám đến viếng thăm Tze một khoảng thời gian vài ba ngày. Tôi cảm thấy thật quá điên rồ để dụ dỗ ông ta đi dạo, nhưng ngay cả như vậy, tôi cũng nguyền rủa ông ta và quyết định nhiều lần để ông ta một mình trong trạng thái bất động của ông. Thậm chí tôi còn cân nhắc đến việc tìm kiếm niềm an ủi giữa những người khác nữa. Nhưng thật ra sự việc đang trở nên ngày càng khó khăn để có thể dập tắt sự mong mỏi được gặp ông ta và cuối cùng tôi đã trở lại phòng ông.
Tze đã dùng ốc vít và đinh đóng chặt ghế ngồi của ông cố định vào chân bàn và xuống sàn nhà. Ông đã được đảm bảo an toàn với tôi cánh tay, lưng và chân ghế bằng những sợi dây da. Đầu, cằm của ông tựa lên ngực, lúc này tất cả có thể cử động. Nhưng ngay lập tức, thật rõ ràng đối với tôi là rằng ông sẽ không bao giờ làm như vậy nữa, và ông cũng sẽ không nói nữa. Tôi đứng ở vị trí quen thuộc của tôi bên cạnh cửa ra vào.
“Ông hoan hỉ tha lỗi cho tôi vì chuyến đi dạo đó,” tôi nói “ tôi thật là dại dột để thúc giục ông làm việc đó. Nếu ông thực tình tha lỗi cho tôi, hãy giữ yên trạng thái bất động đó. Nếu ông không tha lỗi cho tôi thì hãy tạo một sự chuyển động, và rồi tôi sẽ ra đi ngay”.
Và như vậy tôi đoan chắc với chính mình về sự giao du với ông ta và kéo dài sự lưỡng lự của tôi. Tôi nói với ông một lần nữa như tôi đã nói trước đó, nhưng lần này không có sự ngắt ngang và sự trả lời các câu hỏi của riêng tôi. Bằng cách làm như vậy, tôi nẩy sinh một số ý nghĩ đáng chú ý. Nhưng cuối cùng trí tưởng tượng của tôi đã trở nên cạn kiệt và tôi bắt đầu tự lập lại. Rồi tôi cố gắng gợi lại tất cả những câu chuyện đàm thoại mà chúng tôi đã có, và tôi lập lại từng chữ từng chữ. Để thực hành bài tập này, tôi đã thay đổi thứ tự của những câu chuyện đàm thoại và đọc mỗi trong số chúng từ sau đến trước và ngược lại. Nhưng khi điều đó không còn đòi hỏi bất cứ một sự nổ lực nào nữa, tôi rơi vào yên lặng. Trong khoảng thời gian ít ngày, tôi nghĩ đến việc tìm một chiếc ghế và ngồi xuống cạnh ông ta – vẫn còn chỗ ở cạnh bàn.
Rồi tôi lại cố gắng để ông ta một mình trong trạng thái bất động vì tôi có nhiều sự nghi ngờ và tự khiển trách vì đã gây ra cái chết của Tze với chuyến đi bộ đến dòng sông. Nhưng tôi đã trở nên gắn bó với ông và sự hiện diện của ông đã tạo cho tôi một sự tĩnh an sâu xa đến nỗi tôi đã tiếp tục những lần viếng thăm của tôi, đứng lặng yên đằng sau ông hằng nhiều tiếng đồng hồ mỗi ngày.
Một ngày nọ, ngay trước khi kết thúc một chuyến thăm viếng, tôi nghe một tiếng vo vo và tiếng vỗ nhẹ trên các bức tường và trên trần của căn phòng yên tĩnh đó. Tôi nhìn quanh và cuối cùng đã nhận ra côn trùng trên cổ của Tze. Không cần suy nghĩ, tôi bước tới một bước và đè nát nó bằng bàn tay của tôi. Chiếc đầu khổng lồ của ông ngã qua một bên và cái cổ bị xé toạc ra. Các binh đoàn côn trùng lúc này xuất hiện từ quần áo của ông và tiến đến chỗ rách.
Lòng buồn bã, tôi rời khỏi căn phòng và ngôi nhà của ông. Bên ngoài, tôi bắt đầu leo lên lối đi nhỏ, mặc dầu con tim tôi lôi kéo tôi về phía dòng sông.
Phan Thiện Trì chuyển ngữ
August, 2021
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét