Thứ Tư, 17 tháng 11, 2021

 DSS4NHỮNG NGƯỜI TRẺ TUỔI PHI THƯỜNG

 

                                                                                                        Nescio

 

Qua nhiều năm, Nescio (J. H. F.Gronloh,1882-1961) là một tác giả có duy nhất một quyển sách và chỉ có một tuyển tập của ba quyển truyện ngắn mang đậm chất thi ca và một thế giới đầy chán ngán (1918) cho tên tuổi của mình. Không một ai biết Nescio là ai mãi đến mười lăm năm gần đây, khi tác giả tiết lộ chính mình chỉ vì một tác phẩm của ông được gán nhầm cho một người nào khác. Sự cung cấp thông tin này có thể rất nhỏ, nhưng tên tuổi của ông trở thành một huyền thoại lớn, và trong những năm gần đây, quyển Amsterdam Stories của ông đã được dịch sang nhiều thứ tiếng kể cả tiếng Anh.

 

 

Chúng tôi là một lũ nhóc, nhưng là những nhóc tì ngoan hiền. Nếu tôi có thể nói như vậy với chính mình. Hiện tại chúng tôi thông minh hơn nhiều. Quá thông minh; quá thống thiết. Trừ thằng Bavink, lúc nào cũng dễ trở nên điên tiết ra, liệu còn có bất cứ thứ gì mà chúng tôi đã không muốn sắp đặt lại cho ngăn nắp không ? Chúng tôi muốn chứng tỏ cho mọi người thấy nó nên như thế nào. “Chúng tôi” nghĩa là năm đứa chúng tôi, còn mọi người khác là “họ”, những người đã không hiểu nó, không chấp nhận .  “Cái gì ?” Bavink nói. “Thượng Đế ?”  Các bạn muốn thảo luận về Thượng Đế? Sự chỉ trích sôi nổi của họ chính là Thượng Đế của họ. Không gì khác hơn là một ít “ những người tử tế”, chúng tôi khinh chê họ, và một cách kín đáo, tôi vẫn còn nghĩ là chúng tôi đúng. Nhưng tôi chưa có thể nói hoạch toẹt điều đó ra cho mọi người biết. Tôi không phải là một vị anh hùng. Bạn không bao giờ thấy ai là người bạn cần sau này. Hoyer cũng nghĩ bạn không nên xúc phạm bất cứ ai. Cũng chẳng có ai từng thấy, hay nghe nói về Bekker nữa. Và Kees  Ploeger thảo luận về  những kẻ vô tích sự, những người mà đã đẩy đưa anh ta vào con đường lầm lỗi.

 

Nhưng trở lại hồi ấy, vào những ngày quá điên rồ với chúng tôi. Chúng tôi là những người được Đức Chúa lựa chọn, chúng tôi là Thượng Đế của chính Người. Giờ đây chúng tôi đã trở nên có lý lẽ, lại trừ thằng Bavink nữa, chúng tôi nhìn nhau, mỉm cười và nói thẳng với Hoyer, “Tất cả chúng mình đã được chọn vì cái gì?” Nhưng Hoyer không thấy vì cách đó mà nó là người mất chính nghĩa, nó đã trở thành kẻ có thế lực thuộc Đảng Công Nhân Dân Chủ Xã Hội, và tất cả những gì hắn làm là chỉ biết giơ tay đồng ý hay nhún vai để biểu lộ sự nghi ngờ.

Chúng tôi chưa bao giờ rõ ràng về những gì chúng tôi sắp làm một cách chính xác,  nhưng chúng tôi sẽ phải làm một cái gì đó. Bekker đã có một ý tưởng mơ hồ nào đó về việc cho nổ tung tất cả các văn phòng làm việc, Ploeger muốn bắt xếp của nó bấm đồng hồ và đứng đó nhìn nó miệng ngậm xì gà, chửi thề những kẻ không bao giờ làm một cái gì đó chính nghĩa. Tất cả chúng tôi đều  nhất trí rằng chúng tôi phải “thoát thân”. Thoát ra khỏi cái gì, bằng cách nào? Sự thật là chúng tôi chẳng làm thứ gì cả ngoại trừ tranh cãi, hút thuốc, uống rượu và đọc sách. Còn Bavink thì đi ra ngoài với Lien. Nhìn lại thời gian qua, tôi nghĩ chúng tôi là một nhóm người trẻ tuổi cao thượng, chúng tôi xứng đáng có được số tài sản lớn, nhưng lại khinh chê việc “có quá nhiều tiền bạc” Hoyer là đứa duy nhất đã bất đầu suy nghĩ hơi khác biệt một chút về việc này một thời gian khá lâu trước đó. Bavink không hiểu tại sao một số người đi trên những cỗ xe ngựa bất cứ lúc nào họ muốn và ăn mặc y phục sang trọng và truyền lệnh cho những người chung quanh, những người không có tiếng nói gì trong chính phủ hơn họ. Vào những ngày ấy chưa có xe hơi.

 

Chúng tôi đã trải qua những đêm mùa hè, đứng tựa vào hàng rào chung quanh Oosterpark để thảo luận, thảo luận. Giá mà chúng tôi nắm rõ tất cả thì rất có thể chúng tôi đã kiếm đủ tiền để trang trải một loạt phòng ở. Ngày nay người ta viết quá nhiều. Nhiều lúc chúng tôi ít tán gẫu hơn. Chúng tôi ngồi trên lề đường cho đến quá nửa đêm, ngay trên đường phố, và buồn bã ngắm nhìn những đống gạch, rồi từ các đống gạch ngắm nhìn lên các vì sao trên trời. Bekker nói thực ra nó cảm thấy tội nghiệp cho xếp của nó, và cố gắng sáng tác một bài thơ, Hoyer nói nó phải đứng dậy vì hơi lạnh từ lề đường lát đá vôi xanh đang thấm vào người nó. Và khi, ngay trong đêm ngắn ngủi và rất dễ chịu đó, bóng tối dần dần trở nên vàng vọt trên đầu chúng tôi, Bavink ngồi bó gối và nói một cách đầy đa cảm về mặt trời, và chúng tôi nghĩ thật đáng xấu hổ khi phải bỏ đi ngủ, người ta có thể thức qua đêm kia mà. Đó là một trong những điều mà chúng tôi sẽ thay đổi. Kees thì đã buồn ngủ lắm rồi.

Và rồi chúng tôi kéo nhau đến  Zuiderzee để ngắm mặt trời mọc, ngoại trừ Kees, nó muốn về nhà. Hoyer phàn nàn về cái lạnh, nhưng Bavink và Bekker đã không để ý.

Họ ngồi trên những tản đá dọc bờ đê, mắt lim dim nhìn xuyên qua hai hàng lông mi đến những tia nắng màu vàng hình mũi tên nhỏ xíu do mặt trời toả xuống đang nhảy múa trên mặt nước. Cảnh tượng khiến Bavink phát điên lên; anh muốn chạy băng qua những vệt dài lấp lánh trên đường đến mặt trời. Nhưng rốt cục anh đã dừng lại ở bờ nước, rồi đứng lại ở đó. Tôi còn nhớ một hôm khi chúng tôi, Bavink và tôi, đi đến bờ biển và một nửa mặt trời to lớn, lạnh giá và đỏ ói hiện lên ở đường chân trời. Bavink nện một nắm đấm thật mạnh vào trán và nói, “Trời ạ, tôi sẽ không bao giờ vẽ cảnh tượng đó. Tôi sẽ không bao giờ có thể vẽ cảnh tượng đó.” Giờ thì cậu ấy ở trong bệnh viện tâm thần rồi. Khi chúng tôi trở về từ zuiderzee, chúng tôi không còn có thể thấy bất cứ thứ gì ngoại trừ những chấm lấm tấm màu vàng. Mấy xếp của chúng tôi không thích những chuyến ra ngoài qua đêm như thế này của chúng tôi chút nào. Tôi đã ngủ gục ở văn phòng sau đó, còn Bekker thì có thể xử lý công việc tốt hơn tôi rất nhiều. Cậu ta ngồi tại bàn giấy, mộng mơ về mặt trời cả ngày, và nhìn những ngọn cây được chiếu sáng ở góc xa của khu vườn hơn thường lệ và cực kỳ mong mỏi cho mau đến sáu giờ hơn bao giờ hết. 

Chúng tôi cũng rất thích những chuyến đi dã ngoại sau ngày làm việc để đến vòng đai của những bờ đê bao quanh thành phố. Chúng tôi ngồi xuống bãi cỏ ven đê, giữa những cây mao lương hoa vàng và những chú bò tọc mạch đến sát chỗ chúng tôi, chúng dương to đôi mắt nhìn chúng tôi và chúng tôi nhìn chúng. Và rồi thật có thể dám cá ăn chắc là lúc này Bavink đang sánh vai cùng với Lien.

Cách này hay cách khác nào đó những cặp mắt bò kia ắt hẳn đã có cái gì đó liên quan với chúng tôi. Và rồi ánh nắng chiều bắt đầu lung linh trên ngọn cỏ, ếch nhái bắt đầu kêu vang. Một con ếch bự gây một tiếng ồn khủng khiếp ngay sát bên giày tôi, một bàn chân tôi hầu như ở trong rãnh nước. Bạn có thể nghe từ phía xa xa tiếng ếch nhái ít inh tai hơn. Con bò ở trong bóng tối nhá nhem khó mà có thể thấy rõ, bạn chỉ còn có thể nghe tiếng bò gặm cỏ. Một con bắt đầu rống lên một cách tội nghiệp từ xa. Một con ngựa chạy tới chạy lui nhưng bạn chỉ có thể nghe chứ không thấy rõ. Chú bò gần chỗ chúng tôi đã thở phì phì và bắt đầu có vẻ sốt ruột. Bekker nói:”Thật tuyệt khi ở đây. Giá mà cứ giữ như thế này mãi.” Bavink đứng dậy dang hai tay ra và lắng nghe, rồi lại ngồi xuống và nói rằng chúng tôi không bao giờ có được như thế này nữa, và sẽ chẳng bao giờ. Chính cậu ta đã không có được nó, và thực sự chúng tôi cũng không khá gì hơn mọi người khác, và tôi nghĩ có lẽ cậu ta gần như đúng về điều đó.

Không, thực ra chúng tôi đã không làm bất cứ thứ gì. Chúng tôi làm công việc của chúng tôi ở văn phòng chưa hẳn là tốt tất cả, đối với các ông chủ mà chúng tôi khinh thường – trừ Bavink và Hover, hai đứa nó không có xếp, và hai đứa đã không hiểu tại sao chúng tôi lại đến văn phòng mỗi ngày để gặp các xếp.

 

Nhưng chúng tôi đang chờ. Chờ cái gì ? Chúng tôi chưa bao giờ biết. Bekker nói: “Chờ Vương Quốc của Thượng Đế”. Ít nhất đó là những gì có lần nó đã nói nhưng không giải thích gì thêm. Bavink luôn luôn thảo luận về  “chỗ kết thúc mà cũng là nơi bắt đầu mới”. Chúng tôi biết chính xác những gì hắn muốn nói và đã chẳng nói gì thêm về nó.

 

                                                        2

 

                                               

Mùa hè năm đó chúng tôi gần như gặp nhau mỗi tối ở gác xép trên sân thượng nhà của Kees . Kees đã quyết định anh cần có một “nơi” lớn nhất, dễ đến nhất đối với chúng tôi. Những người láng giềng không muốn chúng tôi lên xuống cầu thang mỗi đêm. Thân phụ của Kees không có ý kiến gì về toàn bộ sự việc của chúng tôi. Hiện nay ông đón tiếp tôi một cách lịch sự và gọi tôi là “Ngài Koekebakker” vì ông có thấy tên tôi trên tờ Handelsblad.

Bekker bảo Kees cách trang trí nơi đó như thế nào. Họ mua loại giấy dán tường với đủ các loại mẫu hoa, giá ba xu một cuộn, rồi bôi hồ dán ngược lên tường để mặt sau màu xanh trơn hướng ra ngoài. Bekker viết một câu ngạn ngữ bằng lối thi pháp rồi treo lên tường kế bên cửa ra vào: “J’ai attendu le Seigneur avec une grande patience , enfin il s’est  abaisse jusqu’a moi,”

Tôi không biết anh ta lấy câu này từ đâu. Kees không thể đọc nó, nhưng anh đã đóng góp một cái gì đó, anh làm một cái xẻng rồi xoay sở để gắn vào tường chỉa vào câu ngạn ngữ. Lúc đầu chẳng ai biết nó được cho là có ý nghĩa gì nhưng sau này hoá ra là Bekker muốn một ngày nào đó đến sống trên một vùng đất hoang, dọn một miếng đất canh tác, và chẳng bao giờ phải trở lại văn phòng nữa. Bavink nghĩ đó là một ý kiến hay nhưng sợ Lien không đồng ý, còn Hoyer lại thích la cà đến các quán rượu hơn.

Thế rồi chúng tôi ngồi xuống đó và xé tất cả mọi thứ ra thành từng mảnh nhỏ. Không, gần như mọi thứ. Tôi nhớ lại Zola và Jaap Maris đã thoát thân mà không bị xây xác gì cả, có lẽ còn có một hay hai người khác nữa. Bekker đọc cho chúng tôi nghe về Dante, hắn thuộc lòng những sách trong Cựu Ước “Đời Là Hư Ảo”, sách về  Những Nhà Thông Thái, Book of Job. Thật vô cùng ấn tượng. Không có gì nhiều từ thế giới bên ngoài được đưa vào căn gác xép của Kees. Một cửa sổ duy nhất cao từ sàn nhà lên tới vai; vì vậy khi bạn ngồi tại bàn, bạn không thể thấy  gì nhiều hơn là một mảnh bầu trời, đang biến dần màu sắc  ra khỏi nó, và một ít vì sao bắt đầu xuất hiện khi bên ngoài trời tối.

 

Vẽ ? Hiện nay có ai còn biết thế nào là vẽ tranh không, có ai còn biết lắng nghe Bavink nói về hội hoạ không ! Ngày nay, bạn có thể đánh lừa để tống bất cứ thứ gì cho người khác, đúng là bất cứ thứ gì. Tôi có thể vẽ chân dung của chính tôi – anh ta đang nói về tôi, Koekebakker. Anh ta thường bảo tôi những gì phải làm. “ Hãy vẽ hai sọc ngang, một ở tên đỉnh của sọc kia, có cùng chiều rộng, một sọc màu xanh và một màu vàng, rồi đặt một miếng nhỏ hình tròn màu vàng ở giữa sọc màu xanh. Chúng tôi: viết lên danh mục # 666: Tư Tưởng, tranh sơn dầu. Và chúng tôi đã nộp tranh đề tên tôi: Johannes Bavink, ngày 2 tháng giêng, Steenstraat, số, vân vân và vân vân,  và chúng tôi ghi giá tiền là tám trăm guilder. Và rồi bạn có thể  ngồi ngã người ra phía sau để xem mọi chuyện mà chúng tạo ra. Người ta sẽ phát hiện mọi thứ trong đó, cho rằng bạn chẳng có một ý tưởng đáng kể nào.

Hồi ấy Bavink còn rất trẻ, Sau đó, thỉnh thoảng Lien cũng có đến, làm chút ít việc lặt vặt như pha trà, lau sàn nhà, quét bụi bàn ghế, nhưng việc này thực ra chẳng mấy thú vị. Nó khiến cho Kees khó xử mỗi khi cô xuất hiện bởi vì người bạn cũ của anh nhất định đã nghi ngờ về thiếu phụ trẻ tuổi này, và Bavink không bao giờ đủ tư cách để chúng tôi mến mỗi khi có Lien bên cạnh. Hắn ta luôn luôn nắm chặt tay cô hay véo cô một cái. Điều này thật đáng bực mình. Cũng may là hắn bắt đầu để cô ta ở nhà sau đó không lâu, bởi vì hắn nghĩ cô ta đang để mắt đến tôi. Bekker nói: “Gái gú. Thật không đáng mất thời gian vì họ đâu,” và rít một hơi dài chiếc ống điếu làm bằng đất sét với sự thoả mãn đặt biệt khi lần đầu tiên cô ta không đến. Và đêm đó là một đêm thật sự tuyệt vời. Chúng tôi ngồi hằng giờ trong bóng tối. Ngọn đèn dầu mỗi lúc một yếu hơn rồi tắt hẳn. Chúng tôi chỉ ở đó, ngồi hút thuốc lá hằng nhiều tiếng đồng hồ. Thỉnh thoảng mới có một người nào đó nói về một cái gì đó. Bavink quyết định rằng hội hoạ là ngành ít tiếng nói nhất trong chính phủ mà bất cứ ai có thể theo đuổi. Như thường lệ, Kees không hiểu mô tê gì ráo. “Mày chỉ ngồi yên lặng và giữ như thế đó được rồi”, Bavink nói, vừa nhìn lên bầu trời. Một ngôi sao lớn màu xanh lá cây nhạt đang nhấp nháy. “ Mày chỉ phải ngồi yên lặng và giữ như thế đó và mong ước với tất cả năng lực của mày, không cần biết cái đó để làm gì.” Hắn nhét vào ống điếu một mẫu thuốc mới. 

 

                                                      3

Thật là một quãng thời gian rát kỳ lạ. Và mỗi khi tôi nghĩ về nó tôi nhận ra rằng thời gian hẳn vẫn còn diễn ra lúc này, nó sẽ kéo dài đến chừng nào mà có những thằng thanh niên tuổi mười chín, hai mươi dong ruổi khắp nơi. Đối với chúng tôi đó là khoảng thời gian dài nhất kể từ quá khứ. Chúng tôi đã ở trên đỉnh của thế giới và thế giới ở trên đầu chúng tôi, đè nặng lên chúng tôi. Thật xa bên dưới chúng tôi, chúng tôi thấy thế giới đầy ắp những hoạt động và những ngành nghề, và chúng tôi khinh thường những người đó, nhất là các quí ngài quan trọng, những người luôn luôn bận rộn và chắc chắn họ đã đi khá xa  trên thế giới.

Nhưng chúng tôi quá nghèo, Bekker và tôi đã phải bỏ ra phần lớn thời gian ở văn phòng và làm bất cứ thứ gì mà các quí ông nói, và lắng nghe những ý kiến kỳ cục khi họ thảo luận với nhau, và phải chịu đựng với sự kiện rằng họ nghĩ họ thông minh và có khả năng hơn chúng tôi nhiều. Và khi họ nghĩ lúc ấy trời quá lạnh, mọi cửa sổ đều đóng kín, và vào mùa đông ánh sáng phải đến rất sớm, các rèm cửa phải được kéo kín mít để chúng tôi không thể thấy bầu trời ửng đỏ lúc mờ sáng ngoài đường phố và không được nói năng gì. 

Và chúng tôi phải sống tại các con phố chật hẹp với quang cảnh nhìn ra đường phố qua bức rèm cửa bằng vải dính đầy dầu mỡ, và ven rìa được kết tua, rải rắc với cây tỏi rừng không thể có hoa trên đầu.

Ồ, chúng tôi  đã trả thù, chúng tôi học những thứ ngôn ngữ mà họ thậm chí chưa bao giờ nghe đến và chúng tôi đọc những sách mà họ thậm chí không thể nào hiểu, chúng tôi đã trải nghiệm những cảm xúc mà họ không bao giờ biết có tồn tại. Những ngày Chủ nhật chúng tôi đi bộ hằng nhiều tiếng đồng hồ trên các lối đi nơi mà họ không bao giờ đến, lúc ở văn phòng chúng tôi lại nghĩ về  những con kênh đào và những thảo nguyên  chúng tôi đã từng đến và trong khi họ ra lệnh cho chúng tôi làm những điều mà chúng tôi chả thấy có mục đích gì. Chúng tôi nghĩ về cảnh mặt trời lặn như thế nào đằng sau Abcoude vào tối Chủ nhật. Và chúng tôi đã nghĩ như thế nào về đường lối của chúng tôi xuyên khắp vũ trụ; mà không ai nói ra lời, và Thượng Đế đã được nhồi nhét vào đầu, vào tim, vào xương tuỷ chúng tôi như thế nào, và họ trông có vẻ hoàn toàn giận dữ đến phát khùng như thế nào khi chúng tôi bảo với họ về điều đó. Và, bằng tất cả tiền bạc cũng như những chuyến đi xa đến Thuỵ Sĩ, đến Ý, và đến nơi nào khác chỉ có Thượng Đế biết, và bằng tất cả việc làm thông minh, vất vả của họ, họ không bao giờ có thể cảm nhận những điều đó như thế nào.

 

Tuy vậy, họ có chúng tôi bằng quyền lực của họ. Họ tịch thu phần lớn thời gian của chúng tôi, họ giữ chúng tôi  khỏi ánh nắng mặt trời, khỏi những thảo nguyên xanh mát và những bãi biển tuyệt vời. Họ thường xuyên buộc chúng tôi  nhét đầy tư tưởng của chúng tôi bằng những công việc không thể nào hiểu nổi. Họ mắng nhiếc  chúng tôi; ở văn phòng, chúng tôi hoàn toàn chẳng có nghĩa lý gì. “À, Bakker ,” họ nói với nhau. Các quí ông được giáo dục tốt; người phụ nữ trên tầng ba nói, “ Thằng ngốc có đầu óc thỏ đế”, nhưng  các quí ông này thì quá được giáo dục tốt  cho điều đó. Và họ thông minh , lanh lợi hơn người phụ nữ trên tầng hai rất nhiều, chồng người này làm nghề thắp đèn dầu, một việc làm tốt mà không cần học vấn cao. Xếp tôi hỏi liệu tôi có thể làm thơ không. Bekker nghĩ rằng một người như thế  không đủ tư cách thốt ra từ thi ca và không được phép nói đến thi ca “Cậu đã nói gì với hắn?” “Tớ không nói bất cứ thứ gì, tớ chỉ nhìn thẳng vào mặt hắn và chỉ thấy hắn có cái sọ đầu dày đặc và nghĩ: Hắn không biết người đang đứng trước mặt hắn là ai. Hắn chẳng có đầu óc gì đâu. Và các ngài đó đã trả lương cho chúng rất tệ. 

 

                                                  4

 

Và chúng tôi đã yêu đương. Hằng nhiều tháng trời, Bekker đã rảo bước dọc theo Sarphatistraat mỗi sáng sớm. Hắn đã yêu một cô nữ sinh đâu khoảng mười bảy, mười tám tuổi gì đó. Hắn theo sau cô khoảng năm mươi bước, hay thả bộ bên kia đường để ngắm nhìn cô mỗi khi tan trường. Hắn chẳng bao giờ biết tên nàng, chẳng nói với nàng một lời. Qua kỳ nghỉ Giáng sinh rồi mà hắn không mấy vui vẻ. Một hôm vào Tháng Hai, hắn mất cả một buổi chiều đứng chờ nàng ở bên ngoài lúc tan trường. Hắn đứng đó, trên đường phố yên tĩnh bên bờ một con kênh đào, dưới mưa tuyết. Một người đàn ông mặc áo khoác màu xanh biển, đội mũ rơm,! cỡi con bạch mã. Thật kỳ quặc làm sao ! Chính xác vào đúng buổi chiều hôm đó, hắn đã chứng kiến một cái gì đó thật quá lố bịch. Nhưng Bekker đã bỏ đi lúc bốn giờ kém năm phút, không dám đứng nhìn cảnh tượng đó. Hắn bước đi chầm chậm, và rồi nàng bắt gặp hắn ở trên đương Weteringschans, lúc ấy nàng đang nói cười vui vẻ với một người bạn, một cô gái khác. Tôi không nghĩ là cô ta đã từng biết Bekker để ý cô. 

Bekker muốn tôi cho cậu ta biết là việc này sẽ đi đến đâu, không thể tiếp tục như thế này được. Và rồi nó đã không tiến triển cũng không tiếp tục. Sau kỳ nghỉ hè cô ta không còn trở lại.

“”Bọn con gái!” Bekker nói, “Họ không đáng được quan tâm …. Nàng như có một lò xo trong bước chân mỗi khi nàng đi bộ”. Hắn vặn đèn lớn hơn một chút rồi lật trang sách đang đọc. “Cậu có nghĩ là nàng hiện giờ đang ở đâu không ? Cậu có nghĩ là nàng đã hôn ai chưa ?” Một tàn lửa nhỏ từ ống điếu rơi xuống trang sách. Hắn dập tắt nó bằng hộp diêm. “ Chết tiệc, một lỗ, thật ngớ ngẩn. 

“ Thật tốt hơn nếu cứ theo cách này. Đàn bà con gái không đáng để quan tâm. Họ chẳng đưa bạn đến đâu cả, chỉ tổ làm bạn phân tâm mà thôi. Họ chỉ đẹp khi nhìn từ xa, để làm thơ ca ngợi họ”.

Hắn đã đọc. Sau khi tạm dừng một lát, hắn ngước nhìn lên trở lại …”Cậu biết điều kỳ lạ là gì không ? Chiều hôm đó, khi nàng bắt gặp mình, nàng đi qua mặt mình, ngay sát bên mình, nàng chỉ vừa nhớ ra mình, Chẳng có gì, có thể nói, chia cách chúng tôi, chỉ một lớp y phục trên người nàng, và gần như chẳng có gì trên người tôi,” ( Bekker dong ruổi suốt mùa hè và mùa đông chỉ với chiếc áo sơ mi khoác ngoài tấm ngực trần của anh.) “ Chẳng có gì nhiều, cậu biết không ?”  Tôi nói thật chẳng có gì nhiều – có sự khác biệt nhiều hơn giữa tháp Naarden  và căn phòng của Bekker, chẳng hạn, “Giữa tháp Naarden với bộ ria mép này,” Bekker nói, “ ít hơn nhiều, ít hơn rất nhiều giữa vai của nàng và vai của tôi hôm đó. Không có sự so sánh ở đây, Koekebakker ạ !” Anh ta lật sang trang, nhìn vào ánh đèn và nói, “Đó mới là như thế nào,” rồi tiếp tục đọc.

 

                                                         5

 

Và nó là như thế: Thượnh Đế đã chỉ khuôn mặt của hắn rồi lại dấu kín trở lại. Câu chẳng bao giờ đi đến đâu, nhất là nếu cậu cứ nhìn các cô gái từ đằng xa và để  những người đàn ông khác hôn các khuôn mặt xinh đẹp của các cô. Họ, các quí ông quan trọng, như một qui luật, thích cái tổng thể nhiều hơn chúng ta. Họ đáng kính trọng hơn chúng ta và ăn nói cũng hay hơn chúng ta nhiều. Và họ coi chúng ta chỉ là những kẻ ăn bám.

Chẳng có gì để hy vọng từ Thượng Đế - người chỉ đi theo con đường riêng của người và chẳng đưa ra một lời giải thích nào. Nếu có cái gì đó ta mong muốn, ta phải tự chăm sóc lấy nó. Nhưng chúng ta nhận biết rằng thật dễ dàng đối với Bavink và Hoyer để có thể nói, cả hai có tài, và cả hai người thực sự có thể đạt được bất cứ thứ gì trên đời, nhưng chúng tôi – Bekker, Kees và tôi – sự khác biệt duy nhất mà chúng tôi có thể tạo được là như những nhà xã hội chủ nghĩa, và dường như rất yếu thế. Sau khi ngồi tại bàn của Thượng Đế, ghi địa chỉ các phong bì hay tham gia vào Hiệp Hội Khu Láng Giềng Kastanjeplein. Và chẳng có gì mới mẻ với cuộc sống ở vùng đất hoang.vì  ngay cả khi Bekker có được chút ít tiền thì giày anh ta cần được sửa. Có lẽ chúng tôi gia nhập vào công xã của Van Eeden, nhưng, vào một ngày Chủ Nhật, khi chúng tôi cuốc bộ bốn tiếng đồng hồ đến Bussum, chúng tôi thấy một quí ông trong chiếc áo khoác nông dân, mang giày màu vàng đắt tiền, không đội mũ, đang tản bộ, vừa ăn bánh xốp trong túi giấy, với những mảnh vụn bánh rơi bám trên hàm râu quai nón, rất phù hợp với bản chất bên trong của người ấy như người ta thường nói vào thời ấy. Chúng tôi không thể đi tiếp, chúng tôi phải quay đầu lại ngay để đi bộ về lại Amsterdam, đi hàng một dọc theo kênh đào Naardern, vừa đi vừa hát. Cô gái nông trang nói với cậu trai nông trại, “ Không có bất cứ thứ gì về nó trên báo, đó không phải là nó hay sao. Bạn biết gì về nó không ?”

 

              

                                                      6

 

Vậy là chúng tôi không làm bất cứ thứ gì. Không, thực ra , đó là khi Bekker làm bài thơ đầu tiên của nó. Tôi còn nhớ rất rõ về nó. Đó là vào một ngày Chủ nhật, dĩ nhiên, vì bất cứ khi nào có chuyện gì xảy ra  cũng là vào ngày Chủ nhật. Sáu ngày khác trong tuần chúng tôi  phải kéo lê chuỗi công việc của chúng tôi từ chín giờ sáng đến sáu giờ chiều.

Tôi ra ngoài tìm một việc làm ở Hillegom, một việc làm với một nhà buôn bán bóng đèn có đôi gò má phính, đỏ ửng, mày râu nhẵn nhụi. Mấy người khác đã quyết định ngay rằng phải hưởng cho trọn một ngày vui. Bavink, Hoyer và Bekker tất cả đã nói nhiều lần rằng họ phải đến  Viện Bảo Tàng Đồ Cổ ở Leiden, trọn một ngày, Kees cũng phải đi nữa, Cậu ta làm bất cứ thứ gì người khác làm. Tôi sẽ gặp họ ở Leiden.

Đó là một ngày vào Tháng Mười Hai, tôi đứng ở đằnlyrtg sau xe điện, đứng suốt cả đoạn đường. Xe chạy xuyên qua vùng thôn quê, hết dừng rồi lại khởi hành, phải mất mấy tiếng đồng hồ, miền nông thôn thì vô tận. Bầu trời mỗi lúc một xanh hơn, và mặt trời chiếu sáng. Những mái nhà ngói đỏ trong làng, hàng cây, cánh đồng, đa số nhà lợp bằng rơm rạ, trông xinh xắn và ấm áp, và những đống rơm đầu trần đứng dưới ánh nắng mặt trời. Con đường quê yên nằm, trắng bóng và râm mát. Nó không thể chịu đự.

ng ánh nắng chói chang của mặt trời và những tấm kiếng phản chiếu ánh sáng của đèn đường bật sáng, và thật phiền toái khi phải chịu đựng ánh đèn pha chiếu sáng nữa. Nhưng tôi cảm thấy mỗi lúc một lạnh hơn, xe điện chạy lâu bằng ánh mặt trời chiếu sáng. Chuyến xe chạy từ Hillegom đến Leiden khá xa, mà ngày vào tháng Mười Hai thì ngắn. Cuối cùng, một tảng băng to tướng sừng sững trước đầu xe, chăm chăm nhìn vào ông mặt trời to tướng, ngốc nghếch đang đốt cháy đỏ rực, như thể cuối cùng rồi một cuộc cách mạng cũng đang bắt đầu, như thể các văn phòng đang bị cho nổ tung khắp thành phố thủ đô Amsterdam, nhưng nó vẫn chưa có thể mang lại tia sáng của sự sống cho đôi bàn chân tê cóng, đôi chân cứng đờ của tôi. Và nó vẫn tiếp tục trở nên lớn hơn, lạnh hơn, ông mặt trời và tôi trở nên lạnh hơn và vẫn giữ nguyên kích cỡ giống nhau. Bầu trời cao xanh bên trên nhìn xuống một cách không mấy tán thành: Các người đang làm cái quái gì trên chiếc xe điện đó. Bekker đã sáng tác bài thơ đầu tiên vào buổi chiều hôm đó. Khi tôi đến Leiden, người ta đang thắp sáng đèn đường bằng ga, tôi phát hiện ba chàng “những người bất tử” ngồi thành hàng trên chiếc băng dài trong phòng đợi hạng ba tại ga xe lửa, gần lò sưởi. Đến lượt tôi phải bị tra tấn bởi bài thơ. Nó rất hay. Vô đề ? Bekker lắt đầu. Nhưng Bavink và Hoyer hét lớn lên rằng họ thấy một cái gì đó được viết trên đầu bài thơ. Một người đàn ông ăn mặc sang trọng nói với một người đàn ông khác “đồ thô lỗ” khi ông này bấm vé tàu của ông ta vào cánh cửa. Bavink giật tờ báo ra khỏi tay Bekker. Người ta viết gì trên đó vậy ? Có phải là một câu hỏi ? “Cho nàng?” Chỉ là những gì tôi thường  phỏng đoán thôi.

Bavink nghĩ lò sưởi cần thêm than nhưng anh không thể tìm thấy cái xúc. Họ luôn luôn mang cái đồ xúc ra khỏi phòng đợi, nếu không, công chúng sẽ sử dụng quá nhiều than. Vì vậy Bavink đã quăng những cục than vào lò sưởi bằng đôi bàn tay trần và tham gia cuộc tranh luận với một gã mặc áo choàng màu trắng.

Đêm đó thật là thú vị. Kees và Hoyer ngủ gục trên tàu. Bavink tán tỉnh một cô gái từ The Hague và hít mùi hương hoa vòi voi toả ra từ thân hình nhỏ nhắn dễ thương của cô ta.

Rồi Bekker bắt đầu nói về vùng đất khai hoang nữa, rằng anh đã muốn sống thanh nhàn như thế nào ở đó và chờ xem Thượng Đế đã vạch định những gì. Và không phải làm bất cứ thứ gì. Anh ta trầm ngâm buồn bã. Tôi phản đối việc sống ở vùng đất khai hoang đó. Ở đó quá khô hạn. Tôi hỏi Bekker chính xác là anh dự định làm gì để sống ở đó. Công nhân văn phòng thì không thể làm tốt công việc đồng áng được, ngoại trừ ở Mỹ ( chúng tôi tin tưởng tất cả những kiểu nói láo về Châu Mỹ). Nhưng anh ta không lo lắng về việc này. Anh không có nhu cầu về bất cứ thứ gì. 

Giờ thì anh ta đã sáng mắt ra rồi. Chỉ có Thượng Đế mới không cần bất cứ thứ gì. Đây rõ ràng là một sự khác biệt nền tảng  giữa Thượng Đế và chúng tôi.

Thế là cuộc sống ở vùng đất khai hoang đã chẳng đi tới đâu.

 

                                            7

 

Bốn đứa chúng tôi ngồi trên bãi cát trắng mịn, dưới chân những cồn cát ở Zandvoort ,và nhìn ra đại dương bao la. Kees không có mặt hôm đó. Đó là một ngày vào cuối tháng Bảy. Mặt trời vẫn còn cao bên trên mặt đại dương, lúc bảy giờ, và mặt trời lại khiến cho tôi không thể đừng được, chính Thượng Đế, người vẫn tiếp tục lập đi lập lại, một lần nữa mặt trời tạo ra  một vệt dài màu vàng trên mặt nước và chiếu thẳng vào mặt chúng tôi. Một chiếc tàu kéo đang phụt khói ở chân trời. Nó nhấp nhô trên sóng, khi nó lặn khuất xuống chúng tôi chỉ thấy cột ống khói.

Bekker sẽ đi Đức vào ngày hôm sau. Kiến thức ngôn ngữ của cậu ta đã giúp cậu kiếm được một chỗ làm như một thư ký trong một nhà máy, xử lý mọi giấy tờ, thư từ nước ngoài. Hoyer thì đi nghỉ ở Paris để vẽ tranh. Bekker, nói riêng, lại đang bị trầm cảm nặng trở lại. Anh ta ước chi mình đã không bao giờ nhận chỗ làm đó. Anh không hiểu tại sao đã làm việc ấy. Anh đã có mặt ở  một tỉnh lỵ có nhà máy tồi tàn ấy hai tiếng đồng hồ để dự phỏng vấn, và rồi bị ốm, nhớ nhà. Anh đã trốn chạy ra ga xe lửa càng nhanh càng tốt. Tàu còn đậu ở sân ga, anh chạy thẳng đến chỗ thanh chắn, vượt qua, để về lại Amsterdam. Anh đã mua vé, trên vé in rõ: đến Amsterdam. Thế rồi tàu rời ga đúng giờ, đưa anh về nhà dọc theo các đường ray. . Khi xuống tàu ở nhà Ga Trung Tâm, tim anh ngập tràn cảm xúc đến nỗi anh bắt chuyện với một kỷ sư, mời anh ấy một điếu xì gà, loại đắt tiền, thậm chí còn đưa tay vuốt ve trìu mến đầu máy xe lửa, và nghĩ:  A ! một đầu máy xe lửa đẹp quá ! Và rồi chọn một chỗ làm ở đó. Nó mang về cho anh nhiều tiền hơn là làm việc ở đây. Giờ thì anh phải ra đi để không còn thấy vành đai của những con đê bao quanh thành phố nữa. Vào thời điểm ấy, tàu vẫn còn đậu trong sân ga, nhưng anh chỉ muốn mình có thể đứng ở sân ga, ngắm nhìn những chuyến tàu mang chở ngọt ngào đi thật xa, những chuyến tàu rời ga vào giữa đêm hay vào những ngày Chủ Nhật, lắm lắm lần mỗi ngày.

Mặt trời đã xuống thấp hơn, và đỏ ửng, vệt nắng vàng đã biến mất. Một đêm yên tĩnh, mát mẻ và ấm áp làm sao! Mặt nước màu đỏ gợn sóng lăn tăn. Những đợt sóng chậm rải xô vào bờ với tiếng rì rào nhè nhẹ.

Bekker lý luận rằng anh ta sẽ dành dụm tiền và trở lại sống ở vùng đất khai hoang. Nhưng trong thâm tâm anh không tin nổi chính mình. Chúng tôi cố gắng tin vào việc này, ngay cả Hoyer cũng cố tin. Chúng tôi tự thuyết phục chính chúng tôi rằng đó chính là những gì sẽ xảy ra, nhưng chúng tôi đã không tin, và điều đó cũng đã không xảy ra. Một năm sau Bekker trở lại, anh đã tiết kiệm được hai trăm guilders, và anh cuốc bộ dọc theo Linnaeusstraat lúc tám giờ ba mươi mỗi buổi sáng trở lại, với bánh sandwich trong bao từ nhà.  Lắm người cần.

Nhưng chúng tôi không sử dụng lại những cái bao đêm đó. Chúng tôi đang cố gắng hết sức để tin rằng chúng tôi sẽ vần còn xoay sở để thành tựu được một cái gì đó thực tế hơn. Chúng tôi đã làm cho cả thế giới bị sốc, không gây ấn tượng sâu sắc như chúng tôi khi ngồi lặng lẽ ở đó, hai chân xếp bằng, tám bàn tay đặt lên tám đầu gối. Hoyer quyết định vẽ tất cả các loại sự việc thông thường đó. Anh đã đọc một bài báo trong một tạp chí nói về nhiệm vụ xã hội của nghệ sĩ, và giờ đây anh đang trong chiều hướng thuận lợi hơn. Anh bắt đầu tranh luận với Bekker về khu đất khai hoang. Thật là một sự diệu kỳ về trình độ học vấn uyên bác. Anh cố gắng thuyết phục Bekker rằng thật là một lầm lỗi lớn khi rút khỏi thế giới để vào vùng đất hoang, mà anh sẽ không bao giờ làm chuyện này. Một nghệ sĩ chân chính phải thuộc về  cuộc sống hiện đại. Hoyer muốn nghe những gì tôi nghĩ. Tôi chỉ nói tôi đã không bao giờ nghĩ đến việc đó. Tôi không biết Hoyer muốn biết gì nữa – anh ta đã biết quá rõ về điều đó rồi mà, tại sao anh lại cần biết tôi nghĩ gì nữa ?  Bavink là người duy nhất không nói bất cứ điều gì. Anh chỉ ngồi chống cằm lên đầu gối, muốn kéo hết mặt trời vào tim. Mặt trời bây giờ đã dẹp lép như một hình thoi, đỏ lòm, gần như biến mất.

Hoyer không thể ngồi yên. Anh chồm dậy và lôi Bekker đi với anh. Họ đi dọc theo bãi biển và từ xa chúng tôi có thể nghe Hoyer kêu thét lên, rõ ràng là anh ta đang nổi nóng. Bavink và tôi vẫn ngồi yên ở đó một lúc rồi tản bộ từ từ theo sau họ. Dường như đối với tôi, thật không mấy vui khi bày tỏ quan điểm của mình về thế giới. Hoyer đang la hét dữ quá.

Bavink và tôi đứng lại, nhìn xuống mũi giày, sóng đã cuộn lên chúng. Mặt trời đã lặn, ánh sáng màu đỏ lung linh trên mặt nước đang nhạt dần, bức màn đêm màu xanh nhạt đang phủ lên phía trời nam, ngửi thấy có mùi bùn. Ở thật xa về phía ngôi làng, những ngọn đèn hình cung bỗng xuất hiện dọc theo bãi biển.

“Cậu hiểu tất cả ?”   Bavink hỏi, “ về nhiệm vụ xã hội ?”

Tôi nhún vai, “Hạng người nào, theo cậu nghĩ, đã viết bài báo đó ?” Cậu có Ý thức Trách nhiệm không, Koekebakker?” Hoyer cũng đã thảo luận về điều đó nữa.

“Hoyer nói chúa phải”, Bavink nói, “phải quá đi mất” Tôi không Ý Thức Trách Nhiệm. Tôi không thể mất thì giờ về việc này. Tôi cần thì giờ để vẽ. Không phải như một cuộc đi dạo trong công viên. “Nó là gì ?”,anh ta nói một lần nữa.  

“Ai ?”, tôi hỏi.

“Anh chàng trong quyển sách đó ; tại sao hắn ta nói nghệ sĩ phải có Ý thức Trách nhiệm?”

“Đặc quyền,”

“Cậu biết tớ nghĩ gì không, Koekebakker ?” Tớ nghĩ người đó cũng giống như anh chàng ghi lịch trình các chuyến tàu ở nhà ga. Tớ không hiểu nổi tại sao bất cứ ai  cũng có thể viết được những điều như thế nữa. Đặc quyền … Thượng Đế có mặt khắp mọi nơi, Koekebakker? Hay là người chẳng có mặt ở đâu cả ? Người ta nói như thế nữa có phải không ?

Tôi gật đầu. Bóng đêm bắt đầu bao trùm khắp mọi nơi, từ trên mặt nước, đường chân trời đến hướng tây bắc vẫn còn loé lên một màu vàng nhạt, ánh sáng sau cùng cũng  sắp rời khỏi chúng tôi. Bầu trời  bên trên đầu chúng tôi không một vẩn mây.

“Vì vậy, Người ở khắp mọi nơi,” Bavink nói.”Đằng kia, và kia, và dằng kia kìa,” Anh ta chỉ chung quanh chúng tôi vói hai tay dang rộng, “Và đằng kia, bên kia đại dương, ở vùng lục địa mà ta không thể trông thấy, và tận đằng kia, gần Driehuis, nơi những ngọn đèn hình vòng cung kìa. Và ở Kalverstraaat. Hãy bơi ra, nằm ngửa trên mặt nước và chú ý lắng nghe. Cậu có thể ở lại ngoài đó được chứ?”

“Ngoài cái gì?”

“Ngoài đại dương?”

Tôi gật đầu, vâng, chắc chắn tôi có thể.

“Tôi thì không thể, hoặc chỉ vừa mới,” Bavink nói. “Thật kỳ lạ, có âm thanh buồn thảm đó đằng sau cậu. Thật như thể đại dương muốn một cái gì đó từ tôi. Đó là như thế. Thượng Đế ở đó nữa. Thượng đế đang gọi. Đó thực sự không phải là một chuyến đi dạo trong công viên, người ở khắp mọi nơi,  và nơi ngào Người hiện hữu, Người đều gọi Bavink. Cậu sẽ bị ốm vì tên của cậu sẽ được gọi quá nhiều. Và rồi Bavink còn phải vẽ. Phải đưa Thượng Đế vào khung vẽ, và cũng chính Bavink đang gọi, “Thượng Đế,”  Và rồi, họ kìa, đang gọi nhau. Đó chỉ là trò chơi của Thượng Đế; Người hiện hữu khắp mọi nơi, và đang gọi không ngớt. Nhưng Bavink chỉ có một cái đầu ngu ngốc và bàn tay phải vô dụng, và cũng chỉ có thể vẽ trên một bức tranh vô nghĩa mỗi lần. Và mỗi khi anh nghĩ anh có Thượng Đế ở bên cạnh thì tất cả những gì anh có chỉ là cọ vẽ và khung vải. Hoá ra Thượng Đế ở khắp mọi nơi  ngoại trừ nơi Bavink cần có Người hiện hữu. Và rồi một gã nào đó đến và viết rằng Bavink được đặc ân và Hoyer ghi nhớ điều đó và đi xung quanh nói ba hoa con chích choè với Bekker. Đặc quyền, đúng vậy. Cậu biết tôi mong ước gì không? Tôi mơ ước tôi viết thời gian biểu. Thượng Đế để con người một mình như thế đó; họ không đáng bị gây phiền toái.”

 

Tôi đưa Bavink một điếu xì gà và đề nghị  chúng tôi đi bộ đến Driehuis. Tôi thèm một ly cà phê. Tôi không nghĩ thật rất vui đối với Bavink khi làm bẽ mặt một thằng bạn lúc nào cũng chu đáo , người mà chỉ biết làm mọi việc cho anh ta. Đằng sau chúng tôi, Hoyer và Bekker  cũng đi. Họ vẫn còn đang dốc hết tâm trí vào việc đó.

 

Lúc mười một giờ đêm đó, chúng tôi trở lại bãi biển, gió thổi, biển rì rào. Uống một chút gì đó đã xua đi sự ảm đạm và buồn thảm. Một kỷ nguyên mới sắp mở ra. Bekker đơn độc trong căn nhà trọ ở Đức, chuyển dịch thơ của Dante vì anh chưa bao giờ dịch trước đó. Bavink đã ấp ủ một bức tranh tuyệt vời trong đầu, Quang Cảnh xứ Rhenen, anh đã đến đó một lần và có thể thấy nó rất rõ trong trí nhớ. Còn Hoyer sắp đi làm nhiệm vụ xã hội. Anh ta đã biểu hiện ý tưởng đó. Tôi cố gắng tin tưởng mọi thứ.

Gió mát nhẹ thổi quanh chúng tôi. Đại dương tạo những âm thanh ai oán, đại dương phàn nàn và không biết tại sao. Đại dương rầu rĩ dạt vào bờ. Những ý nghĩ của tôi là một đại dương, chúng dạt lên những giới hạn của chúng một cách muộn phiền.

Một thời đại mới sắp mở ra, Chúng tôi vẫn còn có thể làm được nhiều điều trọng đại. Tôi hết súc tin vào điều này, tôi , tôi sẽ cố hết sức.

 

 

                                                    8

Tôi đứng trên cầu bên trên đường ray xe lửa lúc trời chạng vạng tối ở Rhenen, mắt hướng về phương bắc.  Xa bên dưới tôi là đường ray xe lửa chạy về phía chân trời, với núi đồi nhấp nhô ở hai bên, cỏ xanh mơn mởn và kim tước màu xanh đậm mọc um tùm với hoa vàng trên cỏ.Tôi ngắm nhìn sườn đồi thoai thoải mỗi lúc một thấp dần cho đến khi nó trở thành bình nguyên mênh mông ở cuối trời.

Lại nữa, bóng tối bắt đầu rón rén bò lên khỏi mặt đất theo cái cách mà tôi thường  thấy nhiều lần trước đây. Ánh sáng cuối ngày đọng lại trên đỉnh núi, rụt rè và e ngại, trong khi thung lũng bên dưới ngập tràn bóng tối, và đèn đỏ xuất hiện trên các trụ đèn hai bên đường ray xe lửa. Bầu trời phủ một màu xám xịt và phóng cái nhìn bạc nhược xuống một ngày bị đánh bại tan tát.

 

Tôi đã đi xa sáu năm trời và giờ đây đang đứng tại nơi này trên đất nước Hà Lan, nơi mà tôi luôn nhớ về, nơi mà họ đã diễn tả trong gần như tất cả mọi thư từ họ viết cho tôi ( mỗi năm Bavink viết cho tôi ít nhất là hai lần, Bekker thì thường xuyên hơn một chút). Lại nói về ngọn đồi mà đã xuất hiện trong bảy bức tranh Bavink đã gửi tặng tôi trong ngần ấy năm, và Bekker đã sáng tác tặng tôi hai bài thơ ngắn về nó.

 

Tôi lại trở về đây, đất nước Hà Lan thân yêu để chịu đựng nghèo nàn và viết báo, viết truyện về khu láng giềng nơi tôi đã sống khá lâu. Và tôi muốn xài hết hai rijks đô la cuối cùng trong thành phố mà một thời gian, khi tôi váng mặt, đã là trung tâm của thế giới.

Ở phía Bắc bóng đêm đã nuốt nhanh ánh sáng cuối ngày, ngọn núi gần như bị nuốt chửng, kẻ hộ tống cuối cùng của ngày cũng đã bỏ chạy sang phía tây bắc và đứng trên chiếc cầu nhỏ  bên lề của hư vô, bao trùm trong vô tận.

Tôi tựa khuỷu tay lên thành lan can, chống cằm lên bàn tay, nhìn vào đêm tối và nghĩ về mảnh mặt trời dẹp màu đỏ, cách đây rất lâu, đã lặn sâu vào những đợt sóng màu xanh lục  của Đại Tây Dương -  những đợt sóng nhô cao với những chiếc lưỡi sắc lẹm, hất qua hai bên, đổ nhào xuống, cất cao lên, rồi nhấp nhô, nhấp nhô mãi đến lúc này. Còn về ánh đèn vàng trong các cửa hiệu ở khu lân cận nghèo hơn của thành phố Amsterdam, mà tôi sẽ sớm gặp lại, thì đã được thắp sáng như mọi đêm, trong khi đại dương vẫn không ngừng chuyển động.

Những niềm hy vọng mơ hồ hồi ấy lại hiện về trong tôi, và nỗi niềm khát khao mông lung, không biết để làm gì.

Nhưng tôi cũng có một cảm giác mà trước đây tôi đã không biết. Tất cả những ngày đó đã trôi qua và nhiều ngày hơn nữa cũng sẽ trôi qua, và mỗi ngày trong những ngày qua những niềm hy vọng trong tôi vẫn còn nguyên vẹn, và nỗi khát khao của tôi vẫn chưa được thoả mãn. Bavink đã làm việc nhiều năm trời cho bức tranh Quang Cảnh xứ Rhenen, vẽ rồi nghỉ, nghỉ rồi tiếp tục – trên sông, trên núi, , tháp Cunera, những cây táo trỗ bông, những mái nhà ngói đỏ của thành phố, cây hạt dẻ với bông hoa trắng đỏ và những cây sồi màu nâu giữa những ngôi nhà ở đằng xa, đâu đó vài cối xay gió trên đỉnh núi cao. Cũng ngần ấy năm Bekker trải qua mỗi Chủ Nhật trong căn nhà gỗ trên núi do Bavink thuê để dịch thơ Dante và thỉnh thoảng sáng tác vài bài thơ, và hằng nhiều năm tôi đã trôi giạt khắp thế giới. Tất cả đã có ý nghĩa gì ? Vì thế giới ? vì Thượng Đế ?  hay ngay cả vì chúng tôi ?

 

Tôi đứng trên tháp Rhenen, phóng tầm mắt vào khoảng xa, và tâm hồn tôi vượt khoảng không gian ấy, để đến bầu trời đỏ ửng ở phía tây. Nhưng dù rằng tôi có thể bay ra khỏi đỉnh tháp để vào khoảng không gian xa lạ đó, tôi cũng chỉ có thể tìm thấy khoảng không gian kế bên, và tâm hồn tôi sẽ bay vào khoảng không gian kia nữa. Điều đó có tạo được gì tốt đẹp cho tôi đâu – sự từng trải đã dạy tôi rằng chẳng có gì sẽ thay đổi, và vẫn như thế này mãi mãi ?

Mỗi ngày chúng tôi mong mỏi một cái gì đó, mà không biết là cái gì. Nó trở nên đơn điệu. Mặt trời mọc và mặt trời lặn, ánh nắng mặt trời trên mặt biển, và đằng sau những đám mây trắng lững lờ trôi – đơn điệu -  và bầu trời tối đen hơn nữa, lá đã đổi màu, từ màu nâu sang màu vàng, những đọt cây trụi lá, những cánh đồng cằn cõi sũng ướt trong mùa đông – tất cả những thứ này tôi đã chứng kiến nhiều lần, và  cũng lắm lần tôi nghĩ suy về chúng lúc đi xa, và sẽ chứng kiến nhiều lần trở lại, bao lâu mà tôi chưa chết. Ai có thể bỏ ra cả đời mình để ngắm nhìn  tất cả những thứ này mà chính chúng không ngừng lập đi lập lại. Ai có thể kiên nhẫn tiếp tục mong mỏi những điều không tưởng ? Tin ở một Thượng Đế mà không hiện hữu ở đó ?

Và giờ đây cây kim tước đang trỗ hoa trở lại, và cây tử đinh hương, cây táo, cây hạt dẻ, và mặt trời đang chói sáng trên tất cả chúng. Cảm xúc tràn đầy. Tôi lại thấy tất cả. Trong khi tôi đang suy tư về chúng, niềm hy vọng, nỗi khát khao mơ hồ  trong tôi cũng nhạt dần.

Thượng Đế hiện hữu trong đầu tôi, những cánh đồng của người vô tận, vườn địa đàng của người đầy những bông hoa đẹp, không bao giờ tàn, những mỹ nữ hoàng triều đi đi lại lại, có đến hàng ngàn. Và mặt trời mọc rồi lặn, chiếu sáng từ dưới thấp, lên cao rồi lặn xuống thấp, rồi lên … và lãnh địa mênh mông vô tận không bao giờ giống nhau đúng một lúc. Những dòng sông rộng lớn quanh co, uốn khúc, lượn chảy quanh vùng lãnh thổ đó, mặt trời đổ ánh nắng lên các dòng sông và chúng bôn ba mang chở ánh sáng đổ ra biển.

 

Tôi ngồi lặng lẽ bên dòng sông và cảm thấy hài lòng trước ý nghĩ của chính mình, rít một hơi thuốc lá từ ống điếu bằng đất sét, cảm nhận ánh nắng mặt trời chiếu lên khắp người và ngắm nhìn dòng nước chảy mãi không ngừng vào nơi vô định.

 

Nơi vô định đã không làm tôi phiền toái, chốc chốc tôi gật đầu với mấy cô gái hái hoa trong vườn tôi, và nghe tiếng gió thổi xào xạc qua rừng thông, qua khu rừng của sự chắc chắn, của sự hiểu biết rằng điều này tồn tại bất cứ khi nào tôi quyết định nghĩ đến nó. Tôi rất biết ơn vì điều này vừa được ban tặng cho tôi. Tôi rít một hơi dài từ chiếc ống điếu bằng tất cả sự khiêm tốn và cảm thấy chính Thượng Đế, người đã là đấng vô tận.

Tôi ngồi đó một cách không có chủ đích. Mục đích của Thương Đế là sự không có mục đích.

Nhưng để giữ sự giác ngộ này luôn luôn không được ban phát cho bất cứ người nào.

 

                                                        9

 

Khi tôi đến Amsterdam lúc chín giờ sáng hôm sau, và đứng ở quãng trường trước nhà ga Trung Tâm, tôi thấy nhiều chiếc xe khách chạy bằng điện, thứ mà tôi chưa từng thấy trước đây, xe tắc-xi, cảnh sát đội mũ lưỡi trai chứ không phải mũ sắt,  nhưng họ chưa đi vào Damrak, tôi thấy mặt sau của những ngôi nhà ở Warmoesstraat ngay bên trên mặt nước và ngọn tháp nhà thờ Oude Kerk nổi bật lên bên trên. Tất cả đều hoàn hảo. 

Và những quí ông đó vẫn đi dạo quanh, tóc tai chải chuốt, và không có một nếp nhăn trên áo vét, không một vết bùn nào trên giày. Họ trông như thể họ biết hoàn toàn mọi thứ, và cảm thấy hãnh diện rằng họ đã khá thành công trong cuộc sống. Họ rất thân mật và lịch sự với nhau, lúc nào cũng vậy. Áo quần của họ hơi khác hơn ít năm trước đây đôi chút, nhưng cơ bản vẫn giống nhau. Bạn thấy đó, họ tính toán mọi thứ đâu ra đó cả: bộ com- lê vẫn là com-lê, trước sao sau vậy, áo khoác vẫn là áo khoác, các quí bà tôn kính vẫn là quí bà tôn kính, và các cô gái vẫn là cô gái. Mọi thứ đều diễn ra hoàn hảo. Và họ cũng biết khá rõ những ai, những gì bên dưới họ. Tôi không nghi ngờ gì về điều đó. Damrak chắc chắn sẽ đông nghẹt một khi họ bước vào. 

Tôi đáp chuyến xe điện số 2 đến Nieuwezijds Voorburgeal. Vì vậy thật tốt khi rốt cục họ cũng vào đầy, nếu không có lẽ xe điện đã không chở họ đến đó., và giờ thì bạn có thể băng từ bên này sang bên kia bất cứ nơi nào bạn muốn.

Chiếc xe điện số 2, tuyến xe thượng hạng dành cho những nhân vật quí phái và quan trọng. Hai quí ông cực kỳ quan trọng ở trên xe. Tôi chả là gì kế bên họ. Ánh nắng mặt trời ngày xưa cũ vẫn còn chiếu sáng vui vẻ ở Voorburgwal, những chồi non trên cây vẫn còn màu xanh chuối non, và tôi thấy rằng bóng râm mát của nhà thờ Nieuwe Kerk không phủ qua được phía bên kia đường , nếu đoán không nhầm. Tôi nhớ những năm trước đây, vào cuối tháng Năm, tôi đã thấy bóng râm mát trông giống hệt như bóng râm này. Và vào một ngày mùa đông có nắng ấm, hồi đó chưa có xe điện ở Voorburgwal, tôi đã đi bộ trong bóng râm mát của nhà thờ, phủ trọn cả chiều rộng của con đường. Giờ đây ngay cả nó không tới chỗ đường ray xe điện. Xe điện chạy qua khỏi nhà thờ dưới ánh nắng mặt trời. Trong ít tháng nữa, cũng chiếc xe điện này (nó vẫn còn mới toanh) sẽ chạy qua cùng một nơi này xuyên qua bóng râm mát. Và khi tôi nhìn lại hai nhân vật cực kỳ quan trọng này, tôi quả quyết rằng toàn bộ thời gian Rhenen vẫn là trung tâm của thế giới. Thế giới này khó mà có thể thay đổi chút nào. 

Tôi nghĩ đến lúc mà các quí ông này mất, và đứng trần truồng trước lần Phán Xét Cuối Cùng, và bị lãng quên ở đây. Và về những quí ông cực kỳ quan trọng khác sẽ xuất hiện để thay thế vị trí của họ. Liệu họ có còn  sở hữu bản thân im lặng khi họ bước đến đó mà không có giày bóng loáng xinh đẹp. Và cái gì sẽ trở thành một phần hoàn hảo nhất trong mái tóc của họ. Còn về cái vẻ tự tôn ngu ngốc của họ, có lẽ khuôn mặt của họ không biểu lộ một dấu hiệu nào của sự khiêm tốn khi họ đến đó và nhìn thấy những người khác, ngay cả những nhân vật quan trọng hơn mà họ đã từng kính trọng nhiều năm trước, và họ cũng trần truồng nữa có phải không?

Và bao nhiêu người trẻ tuổi theo chủ nghĩa duy tâm đến đó sẽ viết luận văn, sáng tác thi ca, vẽ tranh, và trở nên tức giận, hồi hộp về các thứ ? Và  hôn nhau ? Và rồi có lẽ trở nên quan trọng hay bị quên lãng nữa. 

Rồi thì một cô gái với cây đàn violin bước lên xe điện và nhìn xuống mũi giày của cô, mắt đen nhánh, tôi nhìn đường cong  thân hình bó sát trong chiếc áo khoác mùa hè của cô và quên tất cả  về các quí ông thanh lịch.

 

                                                  10

 

Hoyer đã về nước. Cậu ấy có căn hộ rất đàng hoàng ở một con phố phụ đằng sau  Concertgehouw. Anh tiếp tôi trong một phòng khách, tôi khó mà dám bước vào vì thảm trải sàn nhà thì quá đắt tiền. Màn cửa bằng vải nhung. Ghế sô pha bọc bằng vải nhung dày màu vàng, một đồng hồ quả lắc màu đen, một đèn nến nhiều ngọn trên bệ lò sưởi và tôi nghĩ tôi đã thấy con ngựa bằng đồng đen này ở đâu đó rồi, tất cả các thứ đều từ những cửa hiệu đắt tiền. Tôi thực sự không dám ngồi xuống nữa. Tôi ngồi bên mép của một chiếc ghế bành toàn bộ thời gian, nhưng tôi không nghĩ Hoyer chú ý điều này.

 

Hoyer đã có một vận may đáng kinh ngạc. Họ đã phạm một lỗi lầm xuẩn ngốc giống trước đây và đã từ chối một trong những người mẫu khoả thân . Anh đã đặt tên thiếu phụ là Dâm đãng và tôi phải nói, vì tôi đang viết cho một nhà xuất bản chân chính, rằng cô ấy “rất, rất đẹp”. Và giờ đây Hoyer đang sống xa hoa trong những căn phòng có trang bị đò đạc sang trọng, chủ hữu bởi một goá phụ lịch lãm thuộc dòng dõi quý tộc, cùng với một nữ luật sư và một viên chức thuộc địa đang đi nghỉ với vợ con. Hoyer thường đi ăn tiệm vì goá phụ này quá quý phái để không thể nấu bữa ăn cho người ở trọ của bà. Đánh bóng giày phải tốn thêm tiền.

 

Tôi đã ngồi trên mép ghế bành toàn bộ thời gian, ngắm nhìn những chân bàn trang điểm và khung gương soi mặt mạ vàng. 

Chết thật, tôi phải kể cho Hoyer về chuyến đi xa của tôi, dĩ nhiên, nhưng tôi không biết phải nói những gì.Tôi nghe chính tôi kể và chính tôi lắng nghe, đầu óc phân tán, âm thanh của giọng nói của chính mình. Đèn trong phòng lờ mờ và ảm đạm; tôi nghĩ goá phụ đang sợ có người nhìn vào. Tôi muốn từ biệt, mắt nhìn quanh ba bức tường mà tôi có thể thấy, mà không trở lại ghế ngồi của tôi nhưng họ không kết thúc. Tôi không thể hiểu họ. Tôi nhìn ra cửa – tôi không thể đừng được – tôi ngồi đó, mắt nhìn lạc lõng. Đôi mắt tôi vừa bị hút ra phía cửa. Tôi có những hình ảnh mơ hồ về Cunera, về Grebbeberg với dòng sông của nó, về quãng trường có nắng ấm đằng trước nhà ga Trung Tâm và mặt đồng hồ chiếu ánh sáng lung linh trên ngọn tháp nhà thờ Oude Kerk. Và qua hình ảnh nửa trong suốt này tôi thấy những đường vân được vẽ lên gỗ giả sồi nơi cửa ra vào. Một người nào đó đang nói toàn bộ thời gian, ồ, đúng rồi, Hoyer đang nói. Rồi tôi tự trả lời, không, thực ra không phải chính tôi, mà lưỡi của tôi đã cử động và âm thanh phát ra từ miệng của tôi. Tôi có thể nghe chúng rất lớn và thật rõ ràng. A

Hoyer không chú ý đến bất cứ thứ gì. Phòng vẽ của anh trên lầu. Có phải anh ta sẽ dẫn đường lên không? Tôi lặng lẽ theo sau. “Đây ắt hẳn là lavabo rửa mặt ?” Tôi nghĩ các dòng chữ đó là thứ chính xác để nói cho bạn khi quý ông này đang chỉ cho bạn xem nhà. Hoyer không chú ý bất cứ thứ gì. “Không, đó là nhà vệ sinh,” anh nói, và tôi nghĩ, tại sao anh ta không nói, “Xin lỗi ngài, đó là nhà vệ sinh”? Chắc chắn đó là những gì anh ta đang muốn nói trong vòng một hai năm nay.

Cầu thang, thảm trải cầu thang, các bậc cầu thang đều hẹp một cách tương xứng. Chỉ có một thành cầu thang với những trụ cầu thang được tiện sơ sài, nhưng mọi thứ đều rất đẹp và hợp với khiếu thẩm mỹ. Tôi phải thừa nhận như vậy. Hoyer vẫn không chú ý bất cứ thứ gì. 

Trên lầu, tôi đã hồi phục đôi chút, ít ra là do có đèn, “đèn phòng vẽ” nổi tiếng. Giá vẽ đứng trống trơn. Có một chiếc ghế dựa đắt tiền trong phòng vẽ, và tôi ngồi xuống đó. Trong đời tôi chưa bao giờ ngồi trong một chiếc ghế bành tiện nghi như thế. Những ngày gần đây Hoyer đang vẽ những bức chân dung của các mệnh phụ và các quí ông, tất cả trong những bộ trang phục lịch lãm. Anh giới thiệu với tôi bức chân dung của nữ luật sư trong toà nhà mà anh bắt đầu vẽ. Lúc này bà đang đi du lịch. Hoyer thường có một phòng vẽ ở một binh đinh khác, nhưng vị nữ luật sư này đã thuyết phục “Madame” cho phép dành một căn gác xép trên sân thượng làm phòng vẽ. Họ phải vất vả lắm mới thuyết phục được bà và đã xoay sở được chỉ khi bà nghe nói Hoyer sắp vẽ một bức chân dung cho thiếu phụ trẻ từ Willemsparweg, với mũ mùa đông, khăn quàng, bao tay bằng lông thú. Và, dĩ nhiên, với phần còn lại của y phục nữa. Và rằng anh ta được đề xuất như là một thành viên của hội Luật sư và nhà góp ý kiến luật pháp.

Bavink đã có bao giờ ghé lại đây chưa? Chưa, chưa bao giờ anh ấy đến đây. Bavink có nghe tin tức gì về Kees không ? Vâng,  Bavink có tình cờ gặp Kees ngoài đường phố và họ đã có nói chuyện với nhau. Cậu ta đã kinh qua ba hoặc bốn chỗ làm trong hai năm vừa qua, với một  khoảng mất việc kéo dài ở giữa. Cuối cùng bố cậu ấy tìm cho cậu một việc gì đấy trong công ty xăng dầu.

Cậu ta đi khắp  mọi nơi, trong bộ đồng phục và mũ lưỡi trai, anh ta có ba ký tự X và “AmGas” màu trắng của Amsterdam trên đầu và một cuốn sổ tay kẹp dưới nách. Và một gã khác nữa cùng với anh, với chiếc túi xách màu đen”. Bavink thấy cảnh tượng trông thật đẹp mắt. Việc làm của anh ta là đi khắp nơi, trút những đông tiền hai xu ra khỏi khỏi đồng hồ tính tiền xăng; việc làm của gã kia là mang túi tiền ấy đi theo.  Sau khi đã trút xong , Kees phải đi đến hỏi một quý bà ở tại nhà xem liệu bà có muốn mang những đồng hai xu ra lại làm tiền thối lại cho khách tại các trạm xăng. Bavink đã trải qua một thời gian với Kế. Cậu ta chưa từng đi làm công việc như thế với bất cứ ai trước đó. Nhưng việc này cũng nhanh chóng trở nên buồn chán. Cậu ta quyết định không làm nữa.

 

Tôi ngắm nhìn tấm thảm Bokhara trải trước ghế câu lạc bộ và thấy rõ trước mắt tôi đường Linnaeusstraat lát đá cuội vắng vẻ và lề đường  đá vôi màu xanh và đường phân ranh, nơi hai hòn đá lớn đặt cạnh nhau, và vỉa hè lát gạch. Tôi thấy chúng tôi ngồi ở đó những đêm hè. Bavink, Bekker, Kees, Hoyer và tôi. Tôi thấy những viên đá cuội và bụi đất trên đường vẫn còn ướt sương, một xe tưới nước ngang qua, có một tờ báo ướt nhẹp ở đâu đó. Tôi nghe Hoyer nói anh phải đứng dậy vì cái lạnh từ những viên đá cuội đang thấm vào người anh. Giờ đây tôi đang nghe giọng nói tương tự, chỉ hơi tao nhã hơn, uốn giọng lên xuống hơn một chút, nói rằng: “Mình lấy làm tiếc phải xin lỗi cậu, Koekebakker, mình có buổi tư vấn vào lúc mười một giờ”.

Ngoái kia, mặt trời mùa xuân đang chiếu ánh nắng xuống đường phố ảm đạm. Chúa ơi, làm thế nào một con phố như thế này có thể tồn tại? Tôi đã tuyệt đối không được phép hôn cô gái trên xe điện, nhưng một con phố như thế này lại được phép tồn tại. Điều đó lại được phép.

 

                                                    11

 

Trên một trong những đường phố lớn có kênh đào, tôi đứng nơi cầu thang và đọc trên cửa: “P. Bekker, Agent, Sales on Commission”. (P. Bekker, Nhân Viên, Bán Hàng ăn Tiền Hoa Hồng). Tôi rung chuông và đợi. Phải mất một thời gian khá lâu. Rồi nửa trên của cửa lắc mạnh và mở, tôi thấy một thanh niên với cái đầu có vẻ đần độn.”Có ngài Bekker ở nhà không?” Điều này nghe có vẻ hơi lạ. Trong khi người thanh niên mở nửa dưới của cánh cửa, không mấy khó khăn, tôi nhớ lại cửa trước thường được mở mà không có sự nhìn thấy của tôi với bất cứ ai. Có một sợi dây thừng ta có thể kéo từ trên lầu, và tôi rống lên, “Chào Bekker !”

“Ngài Bekker có ở nhà không?”

Ngài Bekker lúc này đang đi với ai đó. Một tấm thảm lớn trải trên lối đi lát bằng đá cẩm thạch. “Tôi có thể nói với ông ta là ai đây?”

“Koekebakker”.

“Mời ông theo tôi,” Người thanh niên đi trước, lên một cầu thang hẹp, đổi hướng   nhiều lần để không thể tính xuể.

Trên lầu, đến một tiền sảnh chật hẹp tối om, hắn dừng lại. Trong ánh sáng lờ mờ, tôi chỉ có thể nhận ra mấy chữ “ Phòng Trưng Bày Hàng Mẫu”. Phải chăng đây lá nơi mà tôi được cho là phải đứng chờ, ông bạn?”  Tôi hỏi, vừa chỉ vào mấy chữ. Tôi có thể nói rằng anh bạn đó thấy tôi có vẻ hơi kỳ quặc. “Chúng tôi chưa bao giờ thay biển hiệu đó, thưa ông”, Hắn gõ cửa.

Tôi nghe giọng nói của Bekker gọi ra, “Vâng”. Người bạn bước vào, cánh cửa đóng sầm lại sau anh ta, và tôi đứng đó chờ.

Liệu tôi có đủ tử tế để chờ nơi đây không ? Tôi được dẫn vào một căn phòng nhỏ ở phía sau nhìn ra bức tường không có của ra vào. Một cuộn giấy gói hàng đồ sộ treo trên xà ngang trên trần nhà, với một đầu giấy thòng xuống một cái bàn đóng gói rộng, trống trơn. Một thanh niên đến, ngồi xuống trước bàn giấy nhỏ bên cạnh cửa sổ, với lưng xây về phía tôi rồi bắt đầu gõ lên máy đánh chữ. Tôi nhìn cuộn giấy gói hàng lủng lẳng ở đó, tôi thấy nó được xé một góc. Tôi nhìn cái nây bự, lưng khom và đôi vai xương xóc của anh nhân viên văn phòng và qua khung cửa sổ, tôi nhìn bức tường  bức tường không cửa đi. Một trong những viên gạch bị vỡ và màu đỏ đậm bên trong; miếng gạch bị vỡ vụn đó là vật đẹp nhất mà tôi thấy.

Nhân viên này đấnh máy   gì chỉ Thượng Đế mới biết. Bất cứ khi nào hắn dừng đánh máy, tôi nghe có thể nghe giọng nói của hai người xuyên qua cánh cánh được đóng, và đã nhận ra giọng  nói của  Bekker nhưng không hiểu một từ nào. Tôi ngồi đó chừng hai mươi phút, rất nóng lòng. Per me si va  nella citta dolente. Rồi cuar mở, Bekker xuất hiện. Anh có vẻ lo lắng và bối rối. Tôi có khoẻ không? Tôi cũng được.

Anh hết sức xin lỗi. Anh đi với một khách hàng, từ Bordeaux; người này đặc biệt đến thăm hắn. Anh đã không nghĩ là anh đã có thể thoát khỏi ông ta đêm hôm đó … “ Ôi! Mày hiểu đấy, thằng quỉ sứ - mày trông oách đấy. Vừa về từ Algiers? Tôi đã hiểu khá rõ.. Vâng trở về từ Algiers. “Cậu đang ở đâu ? Nếu có thể tớ sẽ ghé thăm cậu lúc chín giờ tối nay”. Tôi chẳng ở đâu cả, tôi hết tiền, nhưng chuyện này bạn không thể nói trong văn phòng với một người lạ mặt đang đứng ở đó. Vì vậy tôi nóimifnh chưa biết, mình sẽ ghé lại thăm cậu sau.  “Lấn  tới sẽ may mắn hơn nhé!” Tôi biết trước là hắn sẽ nói như thế. Đó là một trong những thứ mà người đàn ông và người đàn bà quý phái thường nói với nhau ở những nơi mà bạn không cần phải lắng nghe.

Hắn đưa tôi ra tới cửa trước. Hắn nghĩ thật là một điều đáng xấu hổ. Tôi nhìn tấm biển nhỏ, “P. Bekker, Nhân viên, Bán Hàng ăn Hoa Hồng” rồi nhìn vào mắt hắn. Và tôi thấy hắn đột nhiên nghe điều đó nữa, tiếng bò rống, con bò trong lúc trời chạng vạng tối cách đây mười năm mà bạn có thể nghe chứ không thấy.. Chúng tôi bắt tay nhau. “Per me si vat ra la perduta gente, Koskebakker”. Hắn giữ chặt tay tôi và tay kia đặt lên vai tôi. “Cho tớ biết nếu cậu đến cần tiền bạc nhé, okay?”

Tôi xuống cầu thang. Người khách hàng đang đứng chống nạnh ở gần cửa sổ, hai chân dang ra, mắt nhìn ra đường phố. Ông ta trông có vẻ giàu có và phì nộn. Tôi trịnh trọng bỏ mũ xuống chào ông ta và ông đáp lại một cách lịch sự và trang nhã. 

 

                                      12 

 

Tôi sắp kết thúc, chậm nhưng chắc. Cảm ơn Thượng Đế, một người nào đó sẽ nói. Chà, tôi đã biết trước khi tôi bắt đầu rằng điều này sẽ không có giá trị gì nhiều. Cuộc sống của một người Amsterdam, những ngày này , cũng chẳng khá khắm gì mấy. Khi tôi còn trẻ, lắm lúc tôi mong muốn một cái gì đó xảy ra, bất cứ thứ gì. Nhưng chả thấy thứ gì xảy ra cả. Thậm chí chúng tôi cũng chưa bao giờ thay đổi địa chỉ. Và sau này …

Chỉ có Hoyer mới biết tất cả đã làm nên được những gì. Anh ta thừa hưởng một khoản tiền, giờ đây anh ta bắt phải đảm nhận. Anh ta là đảng viên Đảng Công Nhân Dân. Chủ Xã Hội và anh ta đọc tờ Nhân Dân.

Đêm đêm anh ngồi trong phòng đọc và đọc lướt qua tờ BerlinTageblatt. Anh không còn vẽ nữa. Và anh có lý do tại sao anh không vẽ nữa: chính vì chúng ta đang sống trong thời kỳ suy thoái. Một ngành mỹ thuật mới sắp ra đời. Anh chắc chắn về điều đó và đang chờ nó tới. Trong khi, anh đưa mỹ thuật vào Nhân Dân – bằng cách nào, tôi không biết. Có lần một người thợ hồ chất vấn anh, “Tất cả những điều vô nghĩa đó đã khiến tôi hiểu được gì ?”  Hoyer cũng đã có sự giải thích về điều đó.”Chúng tôi, những Nhà Dân Chủ Xã Hội biết quá rõ …”

Anh nói hằng khối đúng hoàn toàn, khi bạn bắt đầu nghĩ đến chúng. Bây giờ  điều này đang trở nên thú vị khi anh dừng lại. Một buổi chiều trong quán Cà phê Poland anh có cả khối chuyện để nói về “quan điểm của người vô sản” và “ ý thức hệ của giai cấp tư sản”. Tôi chỉ lắng nghe. Có lần tôi nói với anh ta, “Thật tuyệt vờiBằng cách nào mà cậu hiểu khá rõ mọi thứ vậy …”

Và trước câu hỏi đó, anh ta bắt đầu ngay trở lại và tôi không hiểu dù chỉ một lời ngay từ phía bên cạnh hằng nửa tiếng đồng hồ. Và thật sự rất tuyệt vời đối với những ai có liên quan tới những gì người khác nói với anh toàn bộ cuộc đời anh mà không hiếu tí gì về chính anh, và những ai thường xuyên cằn nhằn về anh và phải ăn bơ và sống trong những căn hộ ngột ngạt. Nếu tôi được phép giữ ngay cả một chút nghi ngờ không đáng kể nhất, tôi sẽ gia nhập Đảng Công Nhân Dân Chủ Xã Hội nữa. Một điều khá tốt đẹp, mặc dầu: những người luôn luôn dừng lại trong những căn hộ chung cư ngột ngạt đó đã không cần đến tôi. Và có lẽ, không hiểu sao, họ đã xoay sở mà không có Hoyer. Tôi sẽ điều tra nếu được phép: rất đáng ngờ.

Mọi thứ trở nên xấu đi với đại lý bán hàng ăn hoa hồng. Việc bán hàng chỉ ăn phần hoa hồng thôi thì hoàn toàn phi lý. Bekker đã nói ra điều đó bởi vì nó nghe có vẻ tốt, và một người đã từng dịch thơ của Dante và sáng tác những bài thơ, dù rằng chỉ có mười ba trong số chúng, không nên là người đại lý cho các hãng buôn trong nước và nước ngoài. Một ngày vào tháng Mười Hai có mưa ướt át, với những ngọn đèn được thắp dọc theo kênh đào, tôi bắt gặp Bekker đứng tựa vào bàn giấy của anh với hai tay ôm đầu. Căn phòng nửa sáng nửa tối. Anh đứng bất động như pho tượng. Tôi bật đèn thắp bằng ga lên. Có thư của ba ngày qua chưa mở, trong sọt rác sau lưng anh. Anh đã dùa cả chồng thư và vào dưới khuỷu tay, một cách có chủ đích, mà không thèm dòm tới chúng. Anh đã đuổi cổ một nhân viên cách đây mấy tháng. Họ đã mang điện thoại của anh đi. Anh ngồi đó. Một danh sách khởi hành của các chuyến tàu hàng treo trên tường; một chuyến tàu mới đây nhất đã đến khá lâu từ lúc trở về và đã trương buồm ra đi trở lại, vài lần. Trên bệ lò sưởi là một quyển sách bìa dày bằng da: sách xuất bản loại sang, quyển Divina Commedia.

Đèn bên ngoài đã bật sáng, vàng vọt và lạ lẫm trong ánh sáng cuối ngày, giống như một lỗi lầm nào đó không thể giải thích nổi; cái cách mà họ đã làm quá thường xuyên. Mọi thứ có vẻ như một lỗi lầm không thể nào giải thích được.

 

Hiện tại Bekker trở lại làm việc trong văn phòng với một ông chủ tốt, người rất tôn trọng anh vì anh đã dịch thơ của Dante. Vào những ngày thời tiết tốt, ông cho phép Bekker về sớm để cậu ta có thể đi dạo dưới nắng chiều.

Bekker không trở lại con đường nhậu nhẹt nữa, anh thường ngồi giải những nước cờ thế hoặc ngủ nghỉ. Anh không có tầm nhìn về tương lai, cũng chẳng khao khát thứ gì, ngay cả việc mong cho mau đến sáu giờ nữa. Dẫu sao thì chúng có ích lợi gì đâu?  Anh buồn bã nhận lương hàng tháng và buồn bã sử dụng nó để mua cà vạt, giày. Áo quần được giặt ũi thẳng nếp. Đôi lúc anh cũng cảm thấy hài lòng với chính mình đôi chút vì, có một thời, đã sống một cuộc sống của người trí thức. Thỉnh thoảng anh cũng còn đi xem tranh, mới đây tôi tình cờ gặp lại anh, anh kể cho tôi về bức The Arrival of Queen Wilhelmina (Chuyến Viếng Thăm của Nữ Hoàng Wilhelmina)  ở Frederiksplein, tranh của hoạ sĩ Eerelman, một bức tranh với dòng quảng cáo cho thuốc súc miệng ODOL được vẽ trên đó một cách hết sức tự nhiên. Đó há không phải là một bức tranh đẹp để treo trong một hiệu thuốc hoành tráng sao? anh nói.

 

Kees vẫn còn làm việc cho công ty gas và sống ở một trong những căn hộ chung cư nhỏ ngột ngạt, tôi đề cập. Cậu ta không biết sẽ tìm đâu ra phòng cho đứa con nữa sắp ra đời của anh. Các con của cậu ta vẫn còn nhỏ, nhưng trong một, hai năm nữa chúng sẽ cãi nhau ầm ĩ mỗi sáng sớm khi dùng chung một vòi nước và một buồng tắm, cái cách mà luôn luôn diễn ra tại các khu láng giềng ở Quận Ba. Cậu ta phải vật vã với những gì mà Hoyer gọi là “sự thiếu hụt quanh năm tại các hộ gia đình của giai cấp công nhân”, và chỉ mua xì gà vào những tối thứ Bảy. Còn vào Chủ Nhật anh ta phải giữ lũ nhóc. Anh luôn kêu ca về việc anh sẽ làm được bao điều tốt đẹp hơn nếu anh chịu nghe lời bố anh ta sớm hơn.

Vợ anh rất tốt với anh. Anh thường nhận khăn tay sạch giữa tuần. Nhưng chị ta không đánh thức được những khát vọng nơi bất cứ ai không quen với chị như Kees. Thật hoàn toàn khác biệt với cách đây sáu năm. Hồi đó, trên căn gác xép của nhà bố anh, anh có nơi đó làm “cõi” riêng mình, nơi các chị gái phơi lủng lẳng những đồ lót.

 

                                        13

 

Còn Bavink ?

Trong cuộc đấu tranh chống lại “những thứ trời đánh thánh đâm” đó, Bavink đã thua cuộc, hay đã đầu hàng. Những thứ mà cần được vẽ  và rồi, khi bạn nghĩ, Ồ, trong trường hợp đó nó sẽ phải xảy ra, hoá ra lại không cần được vẽ chút nào. Vừa khi anh ta đang bắt đầu trở nên nổi tiếng thì  cuộc đấu tranh đã đến hồi kết thúc.

 

Hai tháng sau chuyến trở về của tôi, anh ta có đến và bảo với tôi, bằng một giọng rất bình thản, rằng anh đã rạch bức tranh View of Rhenen thành nhiều mảnh nhỏ, và như vậy anh có: dòng sông, ngọn núi, tháp Cunera, những cây táo trỗ hoa, những mái nhà ngói đỏ xứ Rhenen, những cây hạt dẽ với bông hoa đỏ trắng của chúng, những cây sồi vỏ nâu láng, và cối xay gió nhỏ xíu đâu đó trên đỉnh núi cao, thành sáu mươi bốn hình chữ nhật tương tự, bề 15 x 12,5cm mỗi miếng, bằng con dao cùn, thật là một việc làm khá vất vả nữa. Một điều không ngớt làm phiền anh ta. Đó là một mớ rác rến không giá trị, hoàn toàn vô giá trị. Anh ta muốn tôi nói cho anh biết tại sao bất cứ ai cũng đều muốn vẽ. Mục đích là gì ? Anh ta không còn biết bất cứ thứ gì nữa. Anh dang rộng đôi cánh tay, và vẫy vẫy trong vô vọng. Kia kìa, đó là nơi những mảnh vụn đó. Anh đấm nắm tay vào trán. Còn đây. Chúng muốn ra đời, nhưng chúng không ra được. 

Bao nhiêu đó cũng đủ làm cho bạn điên đầu.

 

Gần một năm sau đó, tôi gặp anh ta ở Nhà Ga Trung Tâm, đang tiễn đưa ai đó vào lúc tám giờ trên chuyến tàu đến Paris. Một gã rậm lông, với những lọn tóc quăn đen dài và bộ râu quai nón khổng lồ và vầng trán cao, chẳng chứa gì sau nó. Mặt trời đang lặn, chiếu những mảng ánh sáng lớn, màu đỏ. Ngay tại mép mái nhà bằng kiếng khung kim loại, có một ngọn đèn màu đỏ lợt trong khung cửa sổ và lớp véc-ni trên các toa tàu. Bavink hơi ngà say, tàu đang rời ga, lướt đi dưới mái che của nhà ga và lượn sang bên trái. Khi nó rẽ, đèn bật sáng choang trong các toa tàu. Chúng tôi rảo bước đến cuối sân ga. Chúng tôi đến chỗ người đàn ông đang cầm đèn hiệu, khi tôi thấy anh ta đi qua khỏi tôi, anh nhìn người soát vé tàu đang đứng phía sân ga khác và ra dấu hiệu đi nhậu với tay đưa lên miệng. Khi qua khỏi mái che, chúng tôi dừng lại và ngắm nhìn mặt trời. “Cậu thấy mặt trời không, Koekebakker?” Mặt trời sáng một cách lạ lùng ngay đằng trước chúng tôi, cách chúng tôi một khoảng ngắn, lớn hơn và đỏ hơn tôi đã từng thấy. Nó gần như chạm vào các thanh ray, nó đã không còn chiếu sáng rực rỡ trên mọi thứ nữa, chỉ có ánh sáng u buồn trên các ô cửa kính bị che mờ của con tàu toả ra phía bên phải của đường tàu.

“Cậu nghĩ là tớ say.” Thật vậy, tôi đã say. “Không thành vấn đề, Koekebakker, dẫu sao thì, khi tớ say tớ không hiểu bất cứ thứ gì”. 

“Cậu có hiểu mặt trời cần gì từ chúng ta không? Tớ đã có ba mươi bốn mặt trời lặn trên bức tường, mặt trời sau chồng lên mặt trời trước, tất cả đều hướng mặt vào tường. Nhưng đêm về chúng lại hiện ra ở đó”. 

“Trừ phi trời có mây u ám,” tôi nói. Nhưng cậu ta không để chính mình bị phân tâm.

“Koekebakker, cậu luôn là bạn thân nhất của tớ. Tớ đã quen biết cậu từ khi – từ bao lâu rồi nhỉ ?”

“Khoảng mười ba năm, Bavink”.

“Mười ba năm. Một thời gian khá dài. Cậu biết cậu cần làm gì không ? Hãy giúp tớ với. Cậu có một cái hộp đựng nón?”

Tôi không nói bất cứ thứ gì.

“Hãy bỏ nó vào hộp đựng nón, Koekebakker. Trong hộp, tớ muốn được để yên một mình. Hãy quăng nó vào chiếc hộp đựng nón, một chiếc hộp cũ kỹ, giản dị. Đó là tất cả những gì nó đáng được.”.

Bavink đã bù lu bù loa trong nước mắt của gã say rượu. Tôi nhìn quanh trong vô vọng. Một người đàn ông trong bộ đồng phục với một vạch màu vàng trên chiếc mũ lưỡi trai đã đến chỗ chúng tôi và nói với tôi.

“Tôi nghĩ thật là tốt hơn, thưa ông, nếu ông đưa quí ông này về nhà.

Tôi chào, và đưa tay cho Bavink. Anh sẵn lòng bước đi. Anh ta ngủ thiếp đi trên tắc-xi và tỉnh thức khoảng một phút ở Nieuwezijds Voorburgwal khi xe chạy qua vũng bùn và anh muốn bắt đầu lại trong hộp nón. Nhưng anh ta lại rơi vào giấc ngủ. 

Một sớm mai nọ, anh ngồi thẩn thờ, mắt nhìn bâng quơ đằng trước cảnh mặt trời lặn cuối cùng của anh, tôi và Hoyer đến chỗ anh. Anh không nhận ra chúng tôi, anh chỉ ngắm nhìn mặt trời, một mặt trời đỏ, bự, lạnh giá đang lặn đằng sau các đám mây.

“Chỉ nhìn vào tôi; chẳng ai trong hai chúng tôi biết phải làm gì cho nhau”. Anh không nói bất cứ thứ gì khác.

Giờ thì anh đang ở trong một cơ sở từ thiện. Ở đó thật yên tĩnh và anh rất trầm lặng. Anh chỉ nhìn lên bầu trời, hoặc ngắm nhìn về phía chân trời, hoặc ngồi chăm chăm nhìn vào mặt trời cho đến khi đau mắt. Anh ta không phải làm như thế, nhưng họ chẳng đi tới đâu cùng với anh cả. Họ không thể bắt anh ta phải nói. Ngày nay tranh vẽ của anh đã tìm lại được giá cao ngất. 

 

Và Koekebakker ngày nào giờ đã trở thành một người điềm tĩnh và biết điều. Anh chỉ viết lách, nhận đồng lương khiêm tốn và không gây rắc rối.

Ngai vàng của Thượng Đế vẫn chưa lung lay. Thế giới của Người  vẫn theo con đường của nó. Thỉnh thoảng Thượng Đế mỉm cười một lúc về các quý ông quan trọng, những người nghĩ rằng chỉ họ mới là một cái gì đó thực sự. Một nhóm người trẻ tuổi phi thường mới vẫn còn đang bận rộn xếp những tảng đá nhỏ để chúng có thể làm ngã đổ Người xuống khỏi cõi cao sang và sắp xếp thế giới lại theo cái cách mà chúng nghĩ nên là. Thượng Đế chỉ cười và nghĩ: Tốt lắm, các cậu bé à. Các cậu có thể bị làm cho tức điên lên được, nhưng Ta vẫn thích các cậu hơn là các quý ông đúng đắn, lúc nào cũng cho là biết lý lẽ kia. Ta xin lỗi, các cậu đã cố gắng hết sức rồi, và Ta đã để cho các quý ông kia thịnh đạt, nhưng chỉ vì Ta là một Thượng Đế.

 

Và vì vậy, mọi thứ vẫn đi theo con đường của nó, và muộn phiền chỉ đến với những ai thường hỏi: Tại sao ?

 

                            English Translation by Damion Searls

                            Vietnamese Translation by Phan Thien Tri

 

 

 

 

 

 

                                   

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

MUA RAO  - Hwang sun Won (uo) https://gtvh51.blogspot.com/2024/10/rao-sun-won-han-quoc-ngay-khi-cau-be.html