Thứ Ba, 23 tháng 11, 2021

  DSS29. LỤC ĐỊA PHƯƠNG NAM

                                                                                          

                                                                                          P. F. Thomese

 

                                              Translated from Dutch into English by Donald Gardner          

                                              Translated from English into Vietnamese by Phan Thien Tri

 

 

P. F. Thomese, (sinh 1958) đoạt giải thưởng Văn Học  AKO vào năm 1991 cho Tuyển Tập Truyện Ngắn đầu tiên của ông. The Southern, Shadow Child (2003) nằm trong danh sách 10 sách bán chạy nhất suốt vài tuần lễ giải thưởng NS Readers’ Book của năm, và được xếp trong danh sách dài cho Giải Thưởng Văn Học  Libris.. Quyển sách là một sự đột phá có tầm cỡ quốc tế và được xuất bản sang mười chín thứ tiếng. Từ đó, ông viết những tiểu thuyết đoạt giải, truyện ngắn, tiểu luận, tiểu thuyết ngắn được hoan nghênh rộng rãi. Tiểu thuyết J. Kessls của ông được phỏng tác thành phim màng ảnh rộng. Tiểu thuyết mới đây nhất – bán chạy nhất The Underwater Swimmer (2015) đã được đề cử cho cả hai giải thưởng văn học ECE và Libris.

 

 

                                                                   1

 

Nếu nhắm mắt lại, ông ta có thể nghe tiếng rì rào của biển cả. Ông tin rằng Thượng Đế là một thực thể tồn tại. Người là biển cả, đang cuộn lăn tăn một cách vô vị lợi vào cõi mênh mông vô tận của Người. Một khoảng không mênh mông đáng kinh sợ đến nỗi không một bờ duyên hải nào vượt bên ngoài tầm với của  Người, ngay cả những bờ duyên hải vô danh ở nơi tận cùng của thế giới. Nhưng vừa khi Người có mặt ở đó thì Người liền rút lui và những người sống ở đó không biết Người. Thượng Đế là một sự hoàn toàn không khác biệt và Jacob Roggeveen cảm thấy rằng việc biết rõ điều này đã khiến cho ông  trở thành một trong những người được Chúa chọn. Trước đây ông thường truyền bá sự thật này để chứng minh rằng mọi người đã sai khi cười chế nhạo ông và coi ông như một kẻ thất bại; tuy nhiên, ngày nay, ông giữ nó cho riêng mình và nó cho ông một sự thoả mãn thầm kín. Trước mặt mọi người ông thường nhắm mắt một cách có chủ đích. Trong khi những người ông đang nói chuyện lại thốt ra những lời khó nghe của họ, tư tưởng của ông đang hướng ra biển trên đường đến nơi tĩnh lặng bao la ấy. Trên bến cảng Middelburg nữa, nơi ông có thói quen thăm viếng mỗi ngày. Ông cảm nhận quyền năng vô hạn của mình. Đầu tiên, ông nghe âm vang của  bến cảng, tiếng lạch cạch khô khan của bánh xe bò, tiếng những chiếc thùng đang lăn, tiếng  kẽo kẹt  của dây cáp; nhưng rồi những làn sóng biển vỗ ầm ầm một cách hùng vĩ át lên chúng, nuốt chửng mọi thứ riêng biệt.

 

                                                                    2

 

Khi còn bé, ông rất sợ biển. Dường như mọi dấu hiệu của tất cả nỗi kinh hoàng về ngày tận thế đã bộc phát: sự tàn phá dữ dội của lốc xoáy và cuồng phong, quyền năng đè nát của đá tảng và đá ngầm, những con tàu quay guồng không có khả năng tự vệ qua độ sâu không đáy tràn ngập những đàn sinh vật biển đang rình rập đối với ông- không có lấy một chỗ an toàn ở bất cứ đâu, chỉ có rừng nguyên sinh và vùng hoang dã là cảnh giới đầu thai của loài quỉ dữ, của những kẻ ăn thịt người, của thú ăn thịt đồng loại, của loài tê tê, của quái vật sư tử đầu chim, của loài rồng phun lửa và cây độc mọc um tùm trong khi tất cả thảm thực vật khác đã bị nhiễm bệnh tàn rụi vì dịch châu chấu.

 

Bố ông thường kể cho ông về biển cả, mặc dù bố ông chưa bao giờ tự trương buồm ra khơi. Những chuyện kể về kỳ quan thế giới của Babylon và Ai Cập, về những vùng tuyết trắng muôn thuở, về  những núi băng, về châu báu, vàng bạc, về những quốc gia nhiệt đới nơi chỉ có mùa hè nóng bức và mùa đông giá lạnh, nơi đêm tối ngự trị muôn đời. – ông lắng nghe chúng như những lời tiên tri về ngày tận thế.

 

Bến cảng nơi ông thăm viếng mỗi tuần cùng với bố, cảm thấy giống như cổng vào địa ngục. Những nhà kho chứa hàng hoá là những căn buồng kinh dị, những chiếc tàu thuỷ là những nhà tù tăm tối. Trên cả, những thuyền buồm dọc East India mang điềm báo vượt cao hẳn lên trên bến cảng bởi những cột buồm giống như giá treo cổ của chúng, lắp đầy trong ông  nỗi kinh sợ. Sâu vào bên trong chúng, trong những lối đi chật hẹp, nơi không có ánh sáng, cũng không có không khí, trong những căn lều hôi hám của thuỷ thủ, với bộ đồ giường đầy mồ hôi của họ và trong khoang chứa đầy ắp những thùng tô-nô bốc mùi chua như dấm, những giỏ thưa có mùi mốc và xác gia cầm nhỏ bốc mùi rất khó chịu, ông cảm thấy bị đè nặng … Ông phải cắn chặt hai môi lại trước ý nghĩ là sẽ phải trải qua toàn bộ cuộc đời trong chiếc quan tài bềnh bồng trôi trên cái trống không vô tận của đại dương . 

Bố ông đã định trước cho ông phải là thuyền trưởng đội tàu đến Ấn Độ Phương Đông (East India). Lúc đầu bố ông cũng dự định nghề này cho đứa con trai thứ hai của ông, nhưng đứa sau tỏ ra quá ốm yếu để không thể thích hợp với cuộc sống ngoài khơi. Có phải Jacob đã nhiều lần cầu nguyện Chúa ban cho ông một căn bệnh không thể chữa khỏi nhưng không đau đớn? Ông dấu kín nỗi sợ hãi biển khơi vào lòng, biết rằng bố ông ta sẽ không muốn nghe về điều này. Trong bí mật ông phát minh ra những lời biện hộ, nhưng dù ông có van xin mấy đi nữa, cuộc sống tương lai của ông cũng đã hiện ra lờ mờ phía trước giống như một mối hiểm nguy không thể tránh khỏi. Hy vọng duy nhất của ông là rằng Chúa sẽ sớm triệu hồi ông về với Người, bởi vì trẻ con chết sẽ gia nhập như những thiên thần vào đội kèn đồng trên Nước Chúa. 

Ông mơ đến một chiếc kèn đồng.

Vì Thượng Đế đã không cho ông bất cứ tín hiệu nào về việc đã nghe lời nguyện cầu của ông, ông hỏi bố liệu ông có thể gia nhập đội hợp xướng của những đứa trẻ ở nhà thờ. Sự ca hát của chúng có thể khiến ông ta nghĩ đến thiên đàng  và ông biết chắc rằng Chúa sẽ lắng nghe chúng vào những ngày Chủ Nhật. Tại mỗi sự kiện, sự hát thánh ca của chúng có vẻ là cách đến với Người tốt hơn là những lời nguyện cầu thầm lặng ông không thể tưởng tượng là chúng được nghe. Ông thích tuyên bố chúng to hơn dưới trần gian này, nhưng vì lý do nào đó mà điều này vẫn không được phép.

Thực ra, Thượng Đế có biết là ông ta đã hiện hữu không?  Ông không chắc chắn chút nào.  – và đôi khi ông còn ngờ vực là liệu ông có được cứu rỗi, liệu Thượng Đế có phải đổ xuống một trận Đại hồng thuỷ tràn ngập khắp thể gian, cung cấp thuyền lớn cho những người ngoan đạo. Ông thấy một cha xứ và một đội hợp xướng thiếu nhi nhà thờ đã có mặt ở đó,

đang đứng tựa rào chắn để đón chào các động vật: ngựa đực, ngựa cái, bò đực bò cái, dê đực, dê cái, lợn giống, lợn nái, gà trống, gà mái, mỗi loại động vật hai con, ngoại trừ cá bởi vì chúng có thể bơi. Và nếu ông hạ mình van xin cấp phát cho ông một chỗ ở nữa, và ông lê bước một cách thận trọng giữa loài sâu bướm, bọ hung và ấu trùng, thì ông sẽ bị từ chối bằng những lời như, “Thượng Đế biết ông không biết.” nhà thuyết giáo sẽ kéo ván cầu tàu từ bên dưới ông lên và đội hợp xướng khởi xướng một bản thánh ca để vinh danh Chúa khi nước dâng lên một cách thấy rõ, với những đồ dùng gia đình và ghế ngồi trong nhà thờ bị giạt ra đường phố và sẽ không còn có bất cứ lối thoát nào cho ông ta ở bất cứ đâu.

 

Bố ông ta đã bác bỏ lời thỉnh cầu gia nhập đội hợp xướng của ông bằng một tiếng cười: “Con yêu quí của bố, nếu con phải hát, bầu trời sẽ sập xuống đầu chúng ta vì sợ hãi”.

Sau đó ông cố gắng thuyết phục bố mua cho ông một cái kèn đồng, nhưng đã không tuân thủ lời yêu cầu đó nữa. Việc xin phép tham gia đội thuyền lớn cũng bị từ chối vĩnh viễn. Vận mệnh của ông đã bị niêm phong: ông ta đã được định sẵn để trở thành một thuyền trưởng một con tàu, một tù nhân trên chính con tàu của mình, và để trương buồm ra đi đến tận cùng thế giới, vượt ra ngoài những tản băng trôi để đến một lục địa của đêm dài vĩnh cửu. 

 

 

                                                                   3

 

Bố ông coi những cuộc hành trình khám phá là sự vinh quang hoàn thiện của sự sáng tạo. Nếu chưa có một  người thuộc công ty East India khác cho tàu vào cảng, ông sẽ chiếm lấy mọi cơ hội để quan sát nó. Ông đã biết tất cả tên các tàu của họ: Gilded Dragon, Four Wind, Great Voyage, cũng như tất cả tên tàu của những lần trước. Những hình chạm trước mũi tàu là những khuôn mặt quá quen thuộc đối với ông. Là một nhà phân tích, ông phải xem xét mọi hàng hoá của họ. Nhưng thay vì đi xuống các hầm chứa ông thích đứng trên boong tàu hơn, nơi ông hình dung chính mình đang ra khơi một lúc nào đó.

Ông biết mọi lộ trình đường biển đến phương Đông từ một lộ trình dọc theo duyên hải Châu Phi đến một vòng cung rộng lớn vượt qua đại dương, được thổi đi bởi những làn gió mậu dịch. Và các thuyền trưởng thường hỏi ông trong sự ngạc nhiên là liệu chính ông có phải là một thuỷ thủ không, ông luôn trả lời là “Phải, dĩ nhiên,” rất tự tin khi nói.”Tản bộ từ boong tàu này sang boong tàu khác, họ tiếp tục thảo luận về những vùng duyên hải xa xôi, bởi vì khi mà sự đi biển là một đề tài, thì sự thảo luận là về các lục địa. Họ trao đổi những dữ kiện về khí hậu, thực vật và hàng hoá, và thật chẳng có gì khác thường đối với một trong những thuyền trưởng này để học hỏi một cái gì mới lạ từ ông về đất nước mà ông ta vừa mới từ đó trở về.

Ông luôn trì hoãn việc đi xuống hầm tàu càng lâu càng tốt. Chỉ khi nào thuyền trưởng mời ông xuống xem hàng, ông mới đi một cách hiền lành xuống dưới boong tàu. Luôn luôn có một đám đông khổng lồ ở đó, các thuỷ thủ đi đi lại lại, đội ngũ nhân viên bến cảng, viên chức công ty East India và những bàn tay bình thường. Những viên hạ sĩ quan hải quân hướng dẫn ông một cách gọn gàng xuyên suốt mê cung, mở các cửa đi, cửa hầm kho hàng, tiếp tục đi thẳng tới cầu thang gác và xuống các lối đi, chỉ cho ông xem những thùng rượu, các thùng đồ sứ và các bao tải. Trong phút chốc ông tưởng tượng chính mình là một thương gia giàu có khi ông sờ vào những tấm vải lanh hay đồ sứ vì nó phải qua sự kiểm hàng của ông; chính lúc ấy, viên hạ sĩ quan hải quân mà ước muốn duy nhất của anh là trở lên bờ càng sớm càng tốt, đã trở nên nóng lòng và thuyết phục được ông bước nhanh tới để kiểm tra các đồ gia vị.

Viên thanh tra lấy mỗi thứ một giạ. Trước khi nhét một mẫu hàng vào túi xách, ông vò nát một ít rồi cầm giữa hai ngón tay để ngửi. Bằng cách đó, ông vội vã gói các mẫu hàng của ông.

Trở lại văn phòng của ông ở bến cảng, ngồi tại bàn làm việc bằng gỗ tếch bóng loáng, ông đưa các món gia vị ra để kiểm tra tỉ mỉ. Hầu hết đều có mùi vị nồng, vì vậy phải mất một lúc  lâu trước khi ông khôi phục lại trạng thái không có hương vị trước đó. Ông lần lượt thực hiện việc ngửi và nếm: trước tiên ông cắn hạt cà phê từ Java, rồi ông ngửi đinh hương từ Ambon. Nhưng phải có một quãng nghỉ xen kẽ, bởi vì thật không thể nào để tách biệt giữa mùi và vị. Nghệ thuật nếm thử đòi hỏi phải khôi phục lại cảm giác cũ. Khi ông đang để những hạt cà phê lăn qua lưỡi và qua khỏi vòm miệng, ông cố nghĩ đến  những sự trải nghiệm khác - nhất là những trải nghiệm không mấy thú vị, vì những trải nghiệm này khác biệt hơn nhiều, và có nghĩa là một sự công kích dữ dội vào sự nhạy cảm của ông. Những gì thú vị đã cho ông cảm giác hài hoà với hoàn cảnh chung quanh và vì thế khó có thể phân biệt; một cảm giác vui sướng nhất luôn là một niềm vui được tổng quát hoá và vai trò của vị giác không luôn luôn đơn giản. Lưỡi ông đưa cà phê vòng quanh bên trong miệng lâu bằng thời gian cần thiết cho ông dò tìm phẩm chất cà phê dở - hương vị đắng hay khác hơn là như có cát, nhạt phèo. Rồi ông súc miệng bằng nước và quyết định phẩm chất của nó và ghi vào sổ. Để kiểm tra mùi vị của một thứ gì, ông hốt một nắm đầy gia vị, ép mũi vào lòng bàn tay một cách thận trọng và hít thở từ từ. Ông không ngửi vì điều đó có nghĩa rằng nó có thể đụng vào cuốn họng ông làm mất đi sự nhạy cảm thuần tuý. Sau khi ngửi một món gì, ông thường hít không khí trong lành vào để làm cho chính mình thoát khỏi mùi vị đó. Một số mặt hàng đòi hỏi phải nếm và ngửi: tiêu và nhục đậu khấu từ Ternate. Ông luôn giữ hạt tiêu đến sau cùng vì nó khiến cho mũi ông nhạy bén  hơn.

Ông thích nếm thử các đồ gia vị. Nó là một việc làm tốt đẹp, đòi hỏi sự chính xác cao. Ông thích mọi thứ đòi hỏi sự chính xác, bởi vì điều đó ngụ ý rằng ông là một chuyên gia lão luyện. Ông là bậc thầy của thế giới vô hình: dù rằng ông mù, ông vẫn biết đường đi – một thuyền trưởng mù cũng có thể cảm thấy suốt hành trình của ông trên khắp các đại dương của thế giới, và có thể kể về hương thơm bay trong gió dù có đến gần đất nước đó không, và nếu có thì nước nào.

Sau đó ông cảm thấy hơi buồn một chút: những mùi và những vị mà ông thu được một cách rất tỉ mỉ khi ông đang thử nghiệm để lại trong ông một niềm khát khao vừa chua chát vừa ngọt bùi sau khi chúng tan biến. Trong chốc lát, chúng dẫn đưa ông đến vùng đất xuất xứ của chúng. Như thể sau khi phân tích chúng, ông như vừa trở về từ một chuyến hải hành dài ngày.

Trong phòng nghiên cứu tại nhà riêng của mình, ông bỏ ra hằng nhiều tiếng đồng hồ để theo đuổi trên tập bản đồ chính ông đã sưu tập, với hằng tá những tấm bản đồ, được thực hiện bằng mực và màu nước. Đọc lướt qua nó, ông luôn luôn làm cùng một chuyến hải hành giống nhau: tây - nam – tây đến Azores, vùng tự trị của Bồ Đào Nha, nam- nam – tây, vượt qua đường xích đạo, nam đến Brasil, rồi dọc theo duyên hải qua khỏi  vĩ tuyến kinh hoàng bốn mươi độ, nơi toạ lạc của Mũi Horn, và cuối cùng tây- tây – tây đi vào Great Ocean (Great Ocean Road: cung đường di sản quốc gia Úc) trên hành trình đến tấm bản đồ cuối cùng, nơi vẫn còn nguyên sơ, nhưng chẳng bao lâu sẽ lắp đầy con đường vòng của Lục Địa Phương nam chưa được khám phá này.

 

Có những bản đồ của Lục Địa Phương Nam. Bản cổ nhất  được vẽ bởi Claudius Ptolemy , phát hoạ một hình ảnh khổng lồ của Terra Australis Incognita; tuy nhiên, những bản đồ này không đáng tin cậy lắm- một vài nhà địa lý học, chẳng hạn, đã không ngần ngại để vẽ những cây cọ trong những khu vực hình cầu bao phủ bởi băng giá muôn thuở . Một nhà địa đồ học hiện đại đã không làm việc theo khả năng tưởng tượng của mình, mà bằng khoa học hàng hải của kính lục phân và cách tính toán toán học. Đôi khi ông cảm thấy  rằng đây là một điều đáng xấu hổ, và ông ganh tị với những nhà viễn du ngày xưa đã dám thiết lập một tiến trình vào cõi hư vô, với không một thứ gì ngoại trừ giấc mơ về một cõi thiên đàng nằm bên ngoài những sa mạc của Châu Phi và Châu Á. Con tàu nhỏ của họ thường nhấp nhô trên sóng nước đại dương vô tận, bị làm đứng yên vì họ không biết về tuyến gió mậu dịch quét nhanh; hoặc khác hơn, họ đang tìm kiếm những hải cảng dọc theo  những vùng duyên hải xa lạ và thù địch, xem xét bầu trời đêm để tìm những chòm sao quen thuộc và trông cậy vào mặt trời lúc ban ngày và vào đồng hồ cát. Ngày nay tất cả những gì người ta phải làm là đi theo các tuyến đường vận tải biển quen thuộc, và các vùng duyên hải thuộc các nước phương Đông đã được khám phá bởi những nhà buôn và quân đội.

 

Chỉ có một ít người đã thiết lập tiến trình của họ vượt qua bán cầu phía tây. Người Tây Ban Nha đã đi đi về về  giữa Peru và Philippines, những kẻ cướp biển đã khám phá vùng Nam Thái Bình Dương nhưng chưa ai dám mạo hiểm đến các vùng duyên hải thuộc Lục Địa Phía Nam. Tất cả lòng yêu thương của ông hướng đến vùng đất xa lạ ở phía xa của địa cầu đó, cõi hư vô cuối cùng. Để trương buồm đến đó – mà sẽ làm cho một kỷ nguyên vẻ vang của những người đi biển sống lại. Để trương buồm vào vùng trống không vĩ đại này, với chỉ giấc mơ đó trong tư tưởng của họ: rằng một ngày nào đó vùng duyên hải xa lạ sẽ hiện lên, thất thường như một quái vật, một lục địa của mọi sự trái ngược với lục địa của chúng ta, một Lục Địa Phương Nam chưa từng được khám phá.

Ông biết những nhật ký hàng hải của những người đi trước ông, Drake, Quiros,  van Noort, van Spilbergen , Schouten vaf Tasman, và đã chú ý thấy rằng chẳng có ai trong những nhà thám hiểm tới Lục Địa Phương Nam này đã thiết lập tiến trình của họ đến dưới vĩ tuyến thứ bốn mươi, ngoại trừ Tasman. Tuy nhiên ông đã tiếp cận rất sát quần đảo Ấn Độ.

Arend Roggeveen đã nắm chắt bản đồ hải trình của mình nên ông không thể chờ đợi để khởi hành.

Tuy nhiên, mãi đến lúc này cuộc  hành trình khám phá của ông chỉ đưa ông qua khỏi những định chế mà nền Cộng Hoà Hà Lan đã khoe khoang khoác lác: từ các Điền Trang của New Zealand đến các Điền trang thuộc các tỉnh  của Hà Lan, từ Estates General đến  West India, rồi từ đó quay lại tất cả các Điền Trang này. Vào mỗi dịp như thế, lời thỉnh cầu của ông chỉ được đề cập đến một ai đó khác, vì vậy ông bắt đầu cảm thấy giống như  Vasco da Gama trên một sà lan kéo. Công Ty West India có vẻ như là vật gây trở ngại chính. Điều này đã khiến cho ông bực tức vượt bên ngoài giới hạn của ông: Công ty ngay cả đã không có một sự độc quyền  và nó đã từng làm những gì cho các thuỷ thủ?  Tất cả những gì nó đã làm là sống nhờ vào  những sự vinh quang trước kia. Những cuộc thám hiểm không còn được trang bị vũ khí, tất cả những gì Công ty đã làm là duy trì dịch vụ hàng hoá – nô lệ da màu được đưa đến đó, và đường được chở về. Và tuy thế, Arend Roggeveen đã nhận được hợp đồng thuê tàu. Để trao đổi qua lại, ông phải hứa với Công ty về của cải ở Lục Địa Phương Nam. Những gì được để lại sẽ thuộc về ông, nhưng đó không phải là mối quan tâm của ông, chính sự nổi tiếng mới có giá trị với ông hơn là của cải. Tuy nhiên điều này đã chứng minh là không thể thuyết phục các công ty thương mại và các ngân hàng quan tâm đến doanh nghiệp, và thái độ của Công tyWest India là không có ý định tham gia trực tiếp ngoại trừ nhận phần lợi nhuận của mình. Một lần nữa nhà thám hiểm tương lai buộc phải đi bằng sà- lan quanh các thị trấn của tỉnh của Hoà Lan . Ông viết một tập sách mỏng quảng cáo về việc gây quỹ trong đó ông đảm bảo rằng, trong bất cứ trường hợp nào, ông sẽ khám phá một “ lục địa “ nào đó , mặc dầu ông cảm thấy không thể hứa bất cứ “loại đá quý”. Ông trở về từ sứ mệnh của mình như một người khá thất vọng. Ông nguyền rủa cái số kiếp của mình rằng ông đã đi đến cuối cuộc đời mà chưa nhận biết các giấc mơ của mình. Ông tự thuyết phục rằng các con của ông sẽ phải tiếp tục sự nghiệp của ông: nếu ông không thể chính mình hoàn tất nó, thì sẽ có một người dòng họ nhà Roggeveen xứng danh những nhà khám phá nổi tiếng.

Bằng một trò lừa của số phận, đứa con tật nguyền của ông hoá ra là một kẻ am hiểu say mê về địa lý và thiên văn học; trong nhiều dịp, Jan  đã cứu bố nó khỏi sự tính toán nguy hiểm. 

Một Jacob đãng trí là một tư tưởng gia hơn là một anh hùng hải quân tương lai  và dưới ngôi sao hạnh phúc hơn bố ông chắc chắn đã chỉ định ông cho một sự nghiệp văn chương. Nhưng vì bệnh tật của em trai mình mà Jacob bị bắt phải để lại mọi thứ và trương buồm ra đi đến một nơi nào đó mà ông không muốn tới. 

Để ông quen thuộc với sự thành thạo trong việc điều khiển tàu và thuỷ thủ, bố ông đã mang đến cho ông thời gian, và một lần nữa đưa ông đến hải cảng và chỉ dạy ông trong ngành hàng hải, địa lý học và thiên văn học. Trước sự bực tức của bố ông, ông tỏ ra chỉ có tài năng trung bình đối với những môn học này. Lắm lần ông hỏi những câu hỏi sai. Sau khi hoàn tất bậc học giáo dục cổ điển ở trường, ông được gửi lên Đại Học Leiden để học  ngành luật. Lịch sử của các bằng sáng chế đã dạy bố ông rằng các thống đốc hải quân trong nền Cộng Hoà Hà Lan không còn là những người đã từng trải ngoài biển khơi ngay từ thời thơ ấu mà là những người tinh thông trong việc bút nghiên.

 

                                                                    4

 

Và vì vậy cậu bé Jacob Roggeveen đã rời khỏi nhà. Đây là cuộc hành trình đầu tiên của ông, và ông đã ra đi với bao niềm mong đợi lớn lao. – trên cả, là thoát khỏi áp lực của bố, và bắt đầu một cuộc sống mới. Ông mang theo thư giới thiệu để ông sẽ được đón tiếp một cách niềm nỡ  trên đường, và bởi những thành viên gia đình ông chưa biết, và các học giả ông chưa biết tên tuổi ở Leiden. 

Ông cũng hy vọng sẽ giao tập sách nhỏ của bố ông đến một số địa chỉ, vì bố ông chưa từ bỏ mọi hy vọng. 

Túi xách đầy ắp những thư từ và những quyển sổ khổ bốn đã cho cậu con trai một ý niệm của việc là một nhân vật nặng ký.- ông có một nhiệm vụ quan trọng phải hoàn thành. Ông đã không mấy khó khăn trong việc quên rằng tất cả việc này đã có ý định để chuẩn bị cho việc trở thành một nhà hàng hải, bởi vì ông có tài năng xuất sắc trong việc thấy được những gì ông muốn thấy.

 

Đi qua vùng biển Zeeland bất thình lình đã làm cho cuộc sống trên tàu có vẻ dễ chịu một cách rõ rệt. Mặt nước phẳng lặng, cảnh quang biển rất yên bình trước mắt, được viền quanh bởi thắng cảnh dọc bờ biển. Ông vui sướng trước những bề mặt lục địa được phát thảo rõ rệt, bầu trời, mặt nước và quyết định rằng rốt cục, tàu bè là sự phát minh tuyệt vời nhất: chúng biến sự trở ngại thành sự tiện lợi – biển cả, sông ngòi đã trở thành những quảng trường, đường phố, đại lộ của thủ phủ lớn của đất Chúa. Sự chảy vô nghĩa của biển, sự thổi phi lý của gió đã thâu đạt được mục đích – nghĩa là sự tiến bộ của nhân loại. Chưa từng xảy ra với loài người rằng sự hoà giải của người với biển khơi là hoàn toàn tạm thời – một cơn gió tây nam kéo đến sẽ thổi bay nó ngay tức khắc mà chẳng chút khó khăn gì.

Ngồi trong xà lan do ngựa kéo trên đường đến Delft ông không thể tin nổi mắt mình khi nhìn phong cảnh miền Nam Hà Lan . Nước trong các kênh đào dâng cao, có nơi cao hơn vùng nông thôn chung quanh  - đó là một con đê nước bao quanh những trảng than bùn bị rút xuống. Ông thấy những chiếc xà- lan đang lướt ngang qua phong cảnh  trên những con đê nước này. Mọi thứ ở đây đều có liên quan với nước – con người, gia súc và mùa màng. Khi ông thấy những cối xay gió với bản hứng gió của chúng sự khâm phục của ông là quá đầy đủ. Mọi thứ ở đây đều chuyển động, lướt đi và xoay vòng mà không cần bất cứ sự nổ lực nào. Chỉ có chú ngựa già trên đường ven kênh đào là phải gắng sức. Thật như thể kế hoạch của Chúa đã được tiết lộ, sáng tạo là sự chuyển động không ngừng. 

Khi đến Leiden ông thảo luận liên tục với chú ông về những trải nghiệm của ông trên đường. Ông kết thúc việc hát thánh ca và chuyển sang lĩnh vực công nghệ bằng việc ước muốn trở thành một kỷ sư. Xây dựng cầu cống, đào vét kênh mương! Chú ông vỗ vai ông và nói, “Cậu bé, không phải chính vì ngành luật mà cháu đến đây để học sao?

 

Tuy nhiên, việc học luật đã gây ông bối rối rất nhiều. Luật nhân tạo thì quá nhiều và quá phức tạp. Đặc quyền, thể chế, mối quan hệ gia đình và thừa kế, thuê và hợp đồng cho thuê, thuế môn bài, thuế cầu đường các loại hình phạt – có nhiều loại hình phạt hơn là  số tội phạm. Ông hiểu rằng không có gì là giống nhau và có nhiều thuật ngữ để miêu tả tất cả những sự khác biệt này. Ông miệt mài qua hàng trăm trang sách đầy ắp những sự tuyên án, những sự thoả thuận. Chúng là những sách ghi chép  của hoạt động con người, mọi thứ được ghi chép, nhưng tổng số vẫn còn thiếu. Đầu óc ông không thể đối phó với ngành học này. Những gì ông đã thiếu chính là nguyên tắc cai trị.  Thay vào đó, ông đã tìm thấy một nguyên tắc trong Kinh Thánh. Luật lệ của Chúa là rất kỳ diệu trong tính đơn giản của chúng. Đặt sự tin cậy vào Chúa: tất cả những gì bạn phải làm là chịu phục tùng vào ý Chúa. So với sự vất vả đầy vô nghĩa của loài người, trong đó việc học luật là một sự phản ánh rất trung thành !

Tuy vậy, ông chú ý thấy rằng ông không thể nào lắp đầy những ngày của mình bằng sự cam chịu. Vì vậy ông bắt đầu đọc một cách hăng say về Chúa vì mọi thứ khác đã mờ đi trong sự vô nghĩa. Ông đã không tìm thấy ở bất cứ đâu một sự đơn giản như trong Cựu Ước, hoặc sự trung thành tuyệt đối của những nhà truyền bá Phúc Âm, ngoại trừ trong quyển Đạo Đức học của Spinoza. Ông không hiểu gì về luận lý hình học của những nhà truyền bá Phúc âm – thật tình mà nói, ông chỉ hiểu một điều – rằng sự hiện hữu của Chúa có thể được chứng minh ngay cả bằng lý luận trần thế. Không để bố ông biết, ông bắt đầu nghiên cứu thần học. Nhưng việc nghiên cứu này cũng không mang lại cho ông những gì ông đã mong đợi. Giáo sư của ông đã đọc quá nhiều qui tắc và điều lệ mà Chúa, nếu Người đã thực sự qui định chúng, có lẽ sẽ không bao giờ đi khắp nơi để tạo ra trái đất. Hai năm sau ông trở về  Walcheren. Ông đã tìm thấy nguyên tắc chỉ đạo của mình, nhưng nó vẫn chưa dẫn đưa ông đến bất cứ đâu.

 

                                                                    5

 

Ông ganh tị với đứa em bệnh hoạn của ông, nó vẫn tiếp tục sống mà không phải đi đến bất cứ đâu. Thỉnh thoảng bệnh của Jan đã tướt đoạt ô-xy ra khỏi phổi đến mức cậu ta dường như bị nghẹt thở. Cậu ta hít vào bằng những hơi thở mạnh, lồng ngực cậu ta phập phồng như ống bể, nhưng chẳng giúp được gì: các ống dẫn khí bị nghẽn. Sau đó một lúc, cậu ta chuyển sang màu đỏ, các mạch máu ở cổ và ở hai má phồng lên, đôi mắt cậu ta lồi ra trong hốc mắt, lưỡi lè ra, miệng và hai cánh tay vung vẩy một cách vô vọng: mọi bộ phận khác của cơ thể không bị ảnh hưởng bởi chứng bệnh của cậu ta có vẻ như muốn thoát khỏi  nó. 

Đôi lúc Jacob nghĩ em mình muốn chơi một siêu việt, bởi vì tình trạng bao vây khiến cậu ta ngưng thở có lúc biến mất một cách kỳ diệu. Nhưng dù rằng bệnh tật là thực, mà cuối cùng ông đã chấp nhận – nó vẫn cảm thấy đáng mong muốn, vì nó mang theo với nó rất nhiều ưu điểm, mặc dầu những cơn ngạt thở tạm thời. Bệnh của Jan đã miễn cho cậu ta khỏi những nhiệm vụ mà đã khiến cho cuộc sống trở nên không thể chịu đựng được. Cậu ta không có nghĩa vụ phải kiếm sống, cũng không phải hoàn thành bất cứ sự mong đợi nào. Cậu ta có thể rút lui khỏi những sự họp hành không cần thiết và đưa bất cứ một cuộc tranh luận đến hồi kết thúc: tất cả những gì cậu ta phải làm là bắt đầu ho. Và nếu cậu ta cần, mọi người sẽ đổ xô đến để giúp đỡ.

Jacob ngay cả còn nghĩ rằng người  tàn tật có một ưu điểm lớn, biết mình sẽ chết vì cái gì. Sự chắc chắn này ắt hẳn sẽ tạo cho ta một sự bình an to lớn trong tâm hồn. Mỗi ngày mới là một thử thách đối với những người lành mạnh lại là một điều may mắn bất ngờ đối với người bệnh tật. Trong khi một người khoẻ mạnh phải đối mặt với những sự thay đổi bất thường của số mệnh mỗi ngày – đó là chưa kể đến mối nguy hiểm của cái chết luôn hiện hữu mà không ai an toàn từ nó – người bệnh tật có thể nằm thản nhiên tại giường và chỉ phải suy nghĩ về những vấn đề có tầm quan trọng bật nhất: sự sống, cái chết và Thượng Đế.

Tuy nhiên, Jan Roggeveen  có vẻ không ý thức về tình trạng được đặc ân của mình, cậu ta lúc nào cũng than vãn với số phận của mình và ganh tị với  Jacob, người mà thường nhận những sự ngăn không cho làm khỏi ông ta – nghề như thuyền trưởng một chiếc tàu. Để giải phóng cậu ta khỏi sự ganh tị với mình, Jacob bảo với cậu ta, trong khi qui định rằng cậu ta phải giữ bí mật một cách tuyệt đối, rằng ông không muốn đi ra biển. Tuy nhiên Jan đã không tin ông ta. 

 

Jan Roggeveen trải qua những ngày của mình để nghiên cứu chuyến hải hành mà ông sẽ không bao giờ thực hiện được. Ông nói Lục Địa Phương Nam như thể ông đã thăm viếng nó rồi. Nơi mà bố ông ta đã luôn luôn thận trọng đủ để có thể nói đến “ một dải lục địa nào đó”, Jan đã phát thảo toàn bộ các danh sách, các biểu mẫu từ nơi an toàn của giường bệnh. Và đã tính toán với sự trợ giúp của các số liệu,  có một sự khả thi tuyệt vời biết bao về thảm thực vật và đặc điểm đất của nó, nguyên liệu thô của nó và điều kiện khí hậu. Đối với sự tính toán của ông, ông đã tận dụng mọi dữ liệu có thể về những xứ sở đã được khám phá quanh vĩ độ thứ bốn mươi ở cả nam bán cầu và  bắc bán cầu. Ông sắp xếp những dữ liệu này theo các nguyên tắc tổ chức khác nhau. Ông cũng ước tính diện tích bề mặt của Lục Địa Phương Nam với sự hổ trợ của phương pháp tương đối và giả thuyết rằng có nhiều đất liền trên trái đất này bằng nước không. Ông kết thúc bằng sự  cho ra đời quyển Mô Tả Tạm  Thời về Lục Địa Phương Nam được minh hoạ bằng một bản đồ mà ông rất tự hào về nó.

Để khỏi làm cậu ta thất vọng, bố ông đã cư xử như thể nó là một tác phẩm có giá trị khoa học vĩ đại. Jan tiếp tục cố nài nỉ  để xuất bản nó một cách kiên quyết đến nỗi cuối cùng bố  cậu ta đã cho in nó bằng kinh phí của riêng ông. Ấn bản lên tới ba cuốn, một dành cho mỗi thành viên của gia đình nhà Roggeveen. Tác giả, người mà đã cho rằng quyển sách của mình nên được cả thế giới đọc, cảm thấy mình giàu có hơn một ông vua. Ông hỏi Jacob ở Leiden này người ta nghĩ gì về  quyển sách của ông. Và vì biết Jan không ở vị thế có thể khám phá ra sự thật nên Jacob đã nói dối.” Hay lắm, cực kỳ hay,” ông ta bảo cậu ấy. Tác giả đầy thành công ấy đã nghĩ rằng lúc này không một thứ gì có thể cản bước ông được và hỏi bố khi nào ông dự tính sẽ ra khơi. Bố ông, người đã không dám thừa nhận rằng ông đã từ bỏ mọi hy vọng, đã né tránh câu hỏi. “Chẳng bao lâu nữa, con cưng của bố, sớm thôi”.

 

 

                                                                    6

 

Để lẫn tránh sự phẩn nộ của bố, cậu sinh viên trường luật đã bị đuổi học vì thi trượt giả vờ nói rằng mình đã đỗ đại học và đang kiếm việc làm. Đó chính là kế hoạch đầu tiên trong nhiều kế hoạch cho cuộc sống mà ông đã nghĩ ra, không phải cho chính mình mà để làm thoả mãn những sự mong đợi của người khác. Và chỉ vì nó chả có chút gì liên quan tới ông, nên ông phát minh  ra những viễn ảnh với sự dễ dàng nhất. Ông cũng không gặp phải vấn đề trong việc đưa ra lời khuyên cho những người khác khi được hỏi. Ông chú ý thấy rằng một ý định tốt hấp dẫn đối với mọi người hơn là thực hiện nó. Một thời gian khá lâu trước khi người ta được đòi hỏi để trả lời cho những gì họ đã nói – một tình huống thảm khốc nhất có thể, tuy nhiên, tránh khỏi nó bằng một sự thất bại  tiếp theo với một ý định tốt khác.

Bố ông thể hiện niềm hân hoan rằng con trai ông đã lao vào việc học với sự nhiệt tình như thế và hỏi với một sự tin tưởng cao nhất  nơi con trai mình rằng loại chức vụ gì con đang tìm. Con trai ông tuyên bố rằng trước tiên anh sẽ phải nghĩ về các vấn đề một cách cẩn thận, bởi vì ta không thể tiếp cận tương lai của ta một cách quá nông nổi. Sở thích của ông là sẽ để tương lai của mình như nó đã là – trống rỗng, bởi vì, trước khi bạn biết nó, bạn đã hoán đổi tương lai bạn cho quá khứ rồi. Nhược điểm của một quá khứ là nó được thiết lập bằng đá tản. Với tương lai của ta tất cả mọi phương hướng đều có thể.

Khi nói với bố , ông sử dụng một cách thức thận trọng hơn đối với ý tưởng này rằng ông đã giữ cho một sự thông thái vĩ đại nhất, “Tương lai cung ứng cho bạn đủ các thứ khác nhau, nhưng bạn chỉ nhận một quá khứ”.

Bố ông có thể dễ dàng đồng ý với ý tưởng này, nghĩ đến bao nhiêu năm trời ông đã bỏ ra để thử nghiệm những sản phẩm ngoại nhập – trong khi chẳng bao giờ ông có lấy một chuyến hải hành, mặc dầu đó là giấc mơ vĩ đại nhất của ông.

Sau khi bố ông đã vỗ vai ông một cách đầy khích lệ, Jacob đã lao vào một kế hoạch đầu tiên của ông. Trước hết ông chia sức lao động của con người ra thành hai loại: nghề tĩnh và nghề động. Loại nghề tĩnh gồm những dịch vụ trao đổi có tính cách lập đi lập lại. Ưu điểm là không đòi hỏi quá nhiều sự cam kết thực hiện: rốt cục, chỉ có một bộ phận của cơ thể  thực hiện  những thứ có chức năng độc lập, vì vậy các bộ phận còn lại , đặc biệt là trí óc vẫn được rảnh ran.  Tuy nhiên uy thế của chúng – đó rốt cục là mối quan tâm đầu tiên của ông - là rất ít. Nghề “động” được kính trọng hơn nhiều. Nghề này bao gồm những hoạt động thay đổi thường xuyên, đòi hỏi rất nhiều năng lực của ta, cả tinh thần lẫn thể chất. Nhưng nếu ta chuẩn bị một cách đúng đắn, ta có thể  nhận ra một sự quý trọng với ít sự nổ lực nhất. Sự quý trọng, rốt cục, được đòi hỏi bởi một cái gì đó có thể được thấy.

Nhưng là cái gì?

Một đám rước của các vị tướng lĩnh, các vị quan đại thần, các nhà hàng hải, các bô lão và các vị vua đã đi ngang qua trí tưởng tượng của ông. Nhưng không một nghề nào trong số những ngành nghề này dành cho ông. Rồi ông thấy một người  khuất đằng sau những người khác và chỉ vừa thấy trong buổi biểu diễn quyền lực này - có thể đó là một nhà gián điệp. Một gián điệp – hay là, trong đời sống quần chúng, một nhà ngoại giao – là một người mà bản chất công việc của người ấy không thể thấy được, nhưng qua cách mà người ấy đã làm mọi thứ, dù cho  vặt vãnh mấy đi nữa, cũng có vẻ che dấu một cái gì đó có tầm quan trọng lớn lao. 

Bố ông coi ngành ngoại giao là một nghề tuyệt vời nhất, vì nó có nghĩa là con trai ông đang bước vào giới thượng lưu, mà sẽ rất thuận lợi cho việc cung cấp tài chính cho một cuộc hành trình khám phá về sau. Tuy nhiên, ông tự hỏi bằng cách nào mà Jacob đã nghĩ ông sẽ nhận biết kế hoạch này. Jacob không có ý kiến và chỉ nhún vai; đồng thời ông ta khoát lên   một sự biểu hiện đầy ẩn ý và bí mật và ắt hẳn ông đã làm điều này một cách khá hiệu quả vì bố ông đã trao cho ông một nụ cười đầy bí ẩn. Đó là cách mà những thứ này tác động, Jacob nghĩ với sự hoàn toàn thoả mãn.

Trong một khoảng thời gian ông rất vui trong thanh danh của một nhà ngoại giao đầy triển vọng mà ông thâu đạt được không mấy khó khăn. Từ ngày này sang ngày khác quyết định của ông có nghĩa rằng ông không còn là một kẻ vô danh nữa. Trong những lần đi dạo xuyên qua vùng Middelburg, qua đó ông đã lấp đầy những ngày trống vắng của mình, Mọi người thắc mắc hỏi ông khi nào ông sẽ rời lên thủ đô để nhận chỉ thị từ Estates General cho sứ mệnh đầu tiên của ông. Bằng nụ cười kín đáo, ông trả lời rằng công việc chính trị, như ta có thể dễ dàng tưởng tượng, được tiến hành  đằng sau những cánh cửa đóng kín chứ không diễn ra ngoài đường phố. Một câu trả lời như thế đã khiến ông ta có vẻ ngay cả còn nổi tiếng hơn, và những người ông gặp còn nhìn chăm chăm theo sau ông một lúc lâu.

Bất ngờ nhà ngoại giao đầy triển vọng rời đi Pháp. Ông giải thích với bố ông rằng ông không thể tiết lộ bất cứ thông tin gì về việc này vì công việc được giao là nhiệm vụ tối mật. Thực ra thì ông đến đó để tháp tùng với một nhà truyền giáo người đã bị trục xuất tới Dordrecht. (Ông đã gặp nhà truyền giáo này vào một trong những chuyến đi bộ và đã bị ảnh hưởng sâu sắc bởi những ý tưởng tôn giáo của ông ta).  Do một sự thay đổi kỳ lạ của số phận, ông đã kết thúc sự nghiệp ở Pháp, dẫu sao thì nhà truyền giáo này đã chứng tỏ là không được hoan nghênh ở một tỉnh của Hà Lan nữa, và những bạn bè quen biết duy nhất vẫn còn có thiện chí để cho ông một chỗ nương thân ở Loire.

Jacob đã đánh giá bởi sự thiếu khả năng của mình bằng cách đưa ra một quyết định: rốt cục, nó đã mang lại cho ông ta những gì ông mong mỏi – một cuộc sống phục vụ Chúa, được thoát khỏi tầm ảnh hưởng của bố ông, người đã chuẩn bị cho ông một sứ mệnh mà ông sẽ không bao giờ chọn cho chính mình. Từ nay về sau ông sẽ dành những ngày của mình cho việc đi bộ và cho sự trầm ngâm bắt nguồn từ nhịp điệu của bước chân ông. Mỗi ngày một lần, ông sẽ giảng một bài thuyết giáo đầy ngôn từ tốt đẹp. Đấy chỉ có thế.  Chúa không biết giới hạn. Người trải rộng một cách chậm rãi khắp thế gian rồi để mọi vật như nó từng là.

Nhà truyền giáo Justus van Oyen có vẻ giống như một nhà thông thái. Ông nói ít nhưng lắng nghe nhiều. Bao nhiêu người – và ông có một giáo sư thần học ở Leiden trong đầu – đã nghĩ rằng họ biết rõ đấng sáng tạo của họ hơn. Luật của Chúa rất đơn giản và những ai càng dùng nhiều lời để giải thích chúng là đã chẳng hiểu gì về chúng. Justus đã không quan tâm đến việc nói về Chúa. Nếu Jacob có đưa ra một nhận xét gì về tôn giáo, Justus liền chỉ tay khắp vùng nông thôn xung quanh và nói: hãy giữ yên lặng; Người ở đây, Người luôn có mặt ở giữa chúng ta. 

Ông thích lắng nghe Jacob nói về những gì ông ấy dự định làm trong đời. Và Jacob, người mà lần đầu tiên đã nói về những kế hoạch của mình một cách cởi mở, vừa có thể giữ chặt điều mình nghĩ, nhưng  lời nói luôn dẫn đưa ông tới những ngôn từ mới lạ, trước sự ngạc nhiên của riêng ông, ông nẩy ra những ý tưởng mà đối với kiến thức ông, ông chưa bao giờ tiêu khiển với chúng. Bên ngoài thị trấn Arras, trong những ngọn đồi trùng điệp của tỉnh lỵ Artois, sự tuôn trào ngôn từ của ông đã dẫn đưa ông đến một nguyên tắc sống trong sáng, gồm chủ yếu là không có bất cứ những kế hoạch gì, để mọi thứ vẫn còn có thể. Sự đáp lời của Justus là một trận cười bể bụng được gia cố bởi sự tròng trành của chiếc xe tứ mã của họ.

Khi đến thị xã Saumur trên bờ sông Loire, Jacob lần đầu tiên bắt đầu nghi ngờ về sự sùng đạo của người bạn đồng hành của ông .Trên đường, ông đã thấy sự trầm lặng của ông ta như bắt nguồn từ sự sùng kính đối với những việc làm của Chúa. Tuy nhiên ông cảm thấy lạ rằng Justus vẫn giữ yên lặng ở chỗ ở mới của ông. Một nhà truyền giáo, rốt cục, được cho là phải giảng đạo. Khi ông nhận xét điều này, người bạn đồng hành gào lên bằng tiếng cười lớn. Có phải người ta học được từ những lỗi lầm của riêng họ không? Ông hỏi và tiếp tục cười thậm chí còn lớn hơn. Tất cả điều này đã cho Jacob một khoảng tạm dừng để suy nghĩ. 

Justus bỏ ra cả ngày ở tại nhà để tiếp đón bạn bè. Họ nói bằng một thứ biệt ngữ mà Jacob không hiểu được. Một người phụ nữ lôi thôi lếch thết mang đến cho họ thức ăn và rượu và sẵn sàng để bản thân cảm thấy phấn chấn khi cô lướt qua họ. Cô đã khiến cho Jacob khó chịu và không thích ở trong nhà quá nhiều. Ông lang thang quanh vùng nông thôn, nhưng dù ông ở đâu đi nữa, dưới chân cầu hay bên các bức tường của toà lâu đài, Chúa vẫn dõi mắt theo ông . Tại sao Người vẫn đang đuổi sát theo ông? Phải chăng Người tức giận vì ông đã để cho nhà truyền giáo uống rượu thay vì thúc giục ông ấy thuyết giáo vinh danh Người. Chỉ sau này ông mới nhận biết rằng Chúa đã thấy trước tất cả: Justus không phải là nhà truyền giáo mà là một gã phiêu bạc, một uyển ngữ để chỉ cho người bội tín. Bạn bè của gã hoá ra là phường móc túi . Đối với Jacob, ông vẫn tiếp tục cầu kinh ngợi ca Chúa và những việc làm tốt của Người cốt để nhận chìm tiếng xủng xoảng của đồng xu bất chính của họ.

Đường về lại quê nhà đã bị vây bủa bởi nhiều trở ngại, vì tiền bạc còn lại rất ít do đã chia sẻ cho Justus. Ông đi một mình, không còn tin cậy bất cứ ai. Thậm chí cũng không gõ cửa bất cứ nhà nào để xin tá túc; ông nằm ngủ dưới bầu trời đêm và rất ít nhu yếu phẩm ông đánh cắp từ các nông gia trong khi Chúa vẫn canh chừng ông một cách đầy lo lắng. Ông nghĩ ông sẽ không bao giờ trở lại quê nhà, nhưng một ngày nọ, trước sự  kinh ngạc của ông, ông đã thấy bờ biển xứ Walcheren.

Với vẻ bề ngoài rách rưới của ông, vị đặc phái viên ngoại giao trước đây đã thu hút rất nhiều sự chú ý ở Middelburg. Ông được chào đón một cách ầm ĩ với tất cả lòng thương cảm, trong khi trò vui đùa đầy ác ý rầm rì đủ thứ chuyện sau lưng ông. Ông không cần đưa ra bất cứ sự giải thích nào vì họ đã có rồi. Ông ta đã bị cướp, mặc dầu họ không có ý tưởng về việc bị cướp những gì. Mọi lời ông nói, mọi bước ông đi trong đời được thêm vào nỗi thất vọng của ông. Tại sao mọi thứ không thể như chúng là? Giá mà mọi thứ vừa mới bắt đầu và không đi quá xa. Bởi vì mọi thứ đã kết thúc đều không có giá trị.

Phải chăng mục đích của Chúa là tước đoạt mọi thứ ra khỏi ông?

Ông đã đợi chờ số phận của mình với sự cam chịu.

 

           

                                                                    8

 

Ngày bố ông qua đời đã đến; bố ông mất một cách bình thản trong lúc ngủ. Lúc đầu Jacob cảm thấy bị phụ bạc: không có lấy một lời chấp thuận trước đó từ bố ông, để mặc ông ta trôi theo số phận của mình. Mọi thứ đã diễn ra mà ông không có phần nào trong đó. Mọi thành viên trong gia đình xuất hiện và đã đưa thi hài người chết ra khỏi nhà. (Jacob đã đề nghị rằng bố ông nên được cấp phát một mộ phần của một nhà hàng hải như một sự vinh danh cuối cùng, nhưng lời đề nghị của ông đã bị gạt bỏ một cách đầy phẩn nộ.) Sau đó ông hoàn toàn cô độc. Ông có thể làm được gì mà không có bố ôngcòn có gì để phải tránh né đây? Ông miễn cưỡng tin rằng cái chết của bố là sự kết thúc. Đã phải có một sự hiểu lầm. Ông vẫn còn chìm đắm trong những suy nghĩ của mình – làm sao ông có thể không còn tồn tại?

Một niềm thương cảm không thể chịu đựng nổi đang tràn ngập trong ông. Ông cảm thấy có một sự mất mát không thể giải thích. Thật như thể  ông thấy mọi thứ  trong đôi mắt của bố ông và ông tràn ngập với một sự khao khát kỳ lạ với những thứ xung quanh ông, mà dường như đã trải qua một sự biến đổi sâu sắc. – thật như thể ông đang chứng kiến mọi thứ mà ông thấy lần cuối cùng. Thay vì bố ông, người đã “yên nằm” một cách bình thản, thật như thể chính ông là người phải nói lời vĩnh biệt. Nước mắt dâng trào khi ông hình dung bố đang ở trên thiên đàng, quây quanh là những linh hồn xa lạ, và đang nghĩ đến tất cả những thứ, những người thân yêu ông đã phải để lại phía sau: xác thân ông, các con trai ông, những tấm bản đồ thế giới, hải cảng nhỏ ở Middleburg với những con tàu ra khơi mà không có ông. Có lẽ từ chỗ hiện giờ ông có thể thấy Lục Địa Phương Nam. Người bố đáng thương trên thiên đàng đang nhìn chăm chăm vào tất cả sự vĩnh cữu của thế giới có thể diễn tiến mà không có ông. Ông không thể an ủi được trước ý nghĩ về sự cô đơn của bố ông. Người quá cố đã bị lừa đảo theo cách không trung thực: không phải với chính ông, người đã qua đời, mà với mọi người đang vẫy tay chào vĩnh biệt ông, nhưng những người khác, đã ra đi trước ông, tất cả họ cùng nhau, để ông một mình trong huyệt lạnh.

Jacob coi nó như là nghĩa vụ của mình để nâng niu kỷ niệm của bố ông: nếu ông thôi nghĩ về bố ông, ông sẽ tan biến vào hố sâu vô đáy của sự lãng quên. Ông một mình phải có trách nhiệm với chính số phận của mình. Tuy nhiên, trước sự ngạc nhiên của ông, ông đã quan sát thấy rằng, mỗi khi ông nghĩ đến người quá cố, thì thực ra ông chỉ tưởng tượng ra chính mình. Ông chỉ có thể gợi ra bố ông bằng tưởng tượng ông ta như chính ông. Ông nhớ lúc còn sống và bị khiển trách bởi công việc chưa được hoàn tất. Và lý do tại sao ông trải nghiệm qua cái chết của bố ông như một cú sốc nặng là vì ông coi nó như một sự báo trước cái chết của chính ông.

Những thành viên trong gia đình ông tìm cho ông một chỗ làm trong Công ty East India Company, bởi vì ông phải kiếm tiền như một phương kế sinh nhai của ông và của em ông. Ông chấp nhận việc làm một cách đầy biết ơn. Ông có cảm tưởng rằng, dẫu sao bằng cách này ông có thể thanh toán một phần nợ nần của ông đối với bố ông. Món nợ này bao gồm mọi thứ mà bố ông đã mong đợi ở ông nhưng ông chưa trả được tí nào. Dư nợ đã được thiết lập nhưng khoản nợ chưa được giải quyết.

Cả đời ông, ông chưa bao giờ kính trọng bố và đã bác bỏ mọi thứ mà bố đã đưa ra. Bất cứ kế hoạch nào bố đã lập ra cho cuộc đời ông đều là những lời thoái thác khôn khéo: ông đã cương quyết không  bao giờ trở thành một người giống như bố. Ông đã không muốn mình trở thành là gì cả. Sự ưa thích của ông là cứ để mọi thứ giữ nguyên trạng, chỉ  như một loạt những điều khả thi. Nhiều cuộc sống đã có thể; chỉ một cuộc đời thực sự có thể được sống. 

Sau khi bố mất, ông cố gắng sống theo yêu sách của bố ông. Khướt từ chúng có nghĩa là ông đã khẳng định rằng bố ông chả liên quan gì tới ông. Chỉ bằng sự tôn kính ông mới có thể bù vào tất cả những gì ông đã mất. 

 

Jacob đã làm việc rất cần mẫn cho Công ty, nơi ông giữ chức vụ của một công chứng viên: nhiệm vụ của ông là soạn thảo và huỷ các hợp đồng. Ban đêm ông nghiên cứu các kế hoạch khám phá Lục Địa Phương Nam của bố ông. Ông đã khuất phục nỗi sợ hải biển khơi của ông, bởi vì những ước muốn của riêng ông không còn kể đến nữa. Ông đã hy sinh bản thân mình thoải mái. Với Jan, đứa em tật nguyền của ông, ông thảo luận cơ hội để  hoàn thành giấc mơ của bố họ. Ông không mấy nhiệt tình, nhưng có vẻ như để tạo ý nghĩa về cái chết của bố ông nếu ông bước theo những bước chân của bố; ông tiếp tục từ nơi bố ông để lại và cả hai anh em sẽ cùng nhau đạt được mục tiêu. Ông đảm nhận một nhiệm vụ lớn hơn chính ông; bây giờ ông có một số phận. Ít nhất đó là những gì ông đã bảo với chính mình – nhưng không nhận ra là ông đã đang vạch định một sự lẩn tránh mới, tuy nhiên, nó chắc chắn sẽ thất bại, bởi vì làm sao ông có thể thoát khỏi một người đã chết đây? Không có bất cứ thứ gì ông có thể làm về cái di sản còn dở dang của bố ông.

 

                             

                                                                     9

 

Công ty cử ông đến East Indies, mặc dầu có chút do dự, nhưng ông vẫn đi đến vùng đất xa xôi này, vì ông không có sự lựa chọn nào khác. Ông cảm thấy nhớ nhà ngay khi còn ở bến cảng, và khi tàu ra khơi ông nhìn chăm chăm về phía sau toàn bộ thời gian – đó là một chân trời mà từng giữ ít lời hứa hơn. Ông thấy chính mình tan biến: ông chỉ là một chấm nhỏ trong một màu xanh có mặt khắp mọi nơi quanh ông. Cuối cùng, ông đã trở thành một cái gì đó; ông đã làm một sự chọn lựa vượt ra ngoài những khả năng vô tận mà cuộc sống cung ứng: ông đã trở thành một nhân viên văn phòng chẳng có ý nghĩa gì nhiều, hoàn toàn mất hút đằng sau cái bao la của Chúa, người là tất cả mội thứ.

Ông đã trải nghiệm một sự lên bờ ở thương cảng Batavia như là một điều kỳ diệu. Ông đã đi theo nhiều lối đi và trong mỗi trường hợp ông đều hình dung chặng cuối. Thật chẳng có gì giống như thế này, thế nhưng ông đã có mặt ở đây. Ông thấy rằng mọi thứ ông đảm trách đều dẫn tới một cái gì khác, cái mà ông không biết cũng không mong đợi. Và lạ lùng thay nó cho ông hy vọng. Ắt hẳn phải có một cái gì đó mà sẽ giải phóng ông và bố ông khỏi cái Lục Địa Phương Nam đáng nguyền rủa này. 

Nhưng nó có thể là gì? 

Ông vẫn còn mê quặc bởi ý tưởng rằng thực sự phải có một cái gì đó. Một cách chân thành viên chức này xem qua các hồ sơ của ông, tràn đầy tin tưởng rằng ý nghĩa thật sự của loại việc làm phù phiếm này một ngày nào đó sẽ được tiết lộ đối với ông. 

Nó có vẻ chẳng là gì cả. Ông tìm thấy bằng chứng của việc này ở khắp mọi nơi. Ông đã phát điên lên bởi những âm thanh chung quanh ông, thế nhưng khi ông nhìn quanh ông chẳng thấy thứ gì. Những vẻ mặt ngoài giả dối của các toà nhà trông có vẻ rất Hà Lan, nhưng chúng được thiết lập trong một thứ ánh sáng chói chang kỳ lạ. Ông thấy chính mình ngồi trong văn phòng của Công ty, nhưng ông cũng thấy chính ông đang ngắm chính mình đang ngồi ở đó. Ông cũng không thể nhận ra ông đang ngắm nhìn chính mình từ đâu. Có lẽ là từ bên trên. Ông không thể tìm thấy Chúa ở bất cứ đâu trong cõi hoang vắng này. Nếu ông nghĩ đến Chúa, thì ông nghĩ đến Middelburg, và ông tìm thấy Chúa ở đó nữa – trong khoảng không gian màu xám ngoài khơi xa. 

Năm này qua năm khác công chứng viên này đã làm việc rất sốt sắng và cần mẫn, nhưng lý do thực sự đối với việc ông ở lại trên trần gian này chưa được tiết lộ. Ông thường xuyên được thăm viếng bởi ký ức về người bố của ông và rồi cảm thấy một niềm cảm thông sâu sắc, vì bố ông đã không bao giờ khám phá những gì ông tìm kiếm. Và rồi ông trở lại công việc một cách đầy quyết tâm hơn. Bằng cách này ông hy vọng trả lại số nợ mà ông đã mắc, dù rằng nhiệm vụ có vẻ bất khả thi: dù ta có làm gì đi nữa, luôn luôn vẫn quá ít. 

Ông nghĩ đến câu chuyện của một người đi tìm vận may đã đến Eldorado. Ông ta tìm thấy quá nhiều kim cương và nhiều thỏi vàng ở đó đến nỗi  ông ta không thể mang hết chúng đi. Ông ta thâu tóm càng nhiều như ông có thể cho đến khi hai cánh tay ông đầy ắp và ông đã phải nhất hai bắp đùi lên để ngăn chiến lợi phẩm không tuột khỏi tay. Đứng trong tư thế đó, hơi khom người một chút, hai chân giở lên, ông ta thấy quá nhiều vàng và kim cương đang chiếu sáng đến nỗi ông cảm thấy số kim cương và vàng ông đã có còn quá ít ỏi. Ông ta sẽ rời đi với số vàng và kim cương ít ỏi đó, nhưng ông sẽ luôn nghĩ đến những gì ông không thể mang hết. Và vì vậy ông đã đánh rơi số chiến lợi phẩm hiện có của mình, vừa nghĩ vừa dang đôi bàn tay trống rỗng về phía chân trời: tất cả cái này mới là cái của tôi.

 

 

                                                                    10

 

Jacob Roggeveen trở về  Middelburg với đôi bàn tay trắng. Một chuyến trở về không biết lần thứ bao nhiêu của ông, nhưng nó cũng không phải là lần bắt đầu mới. Đúng vậy, ông vẫn cùng là một con người giống như trước đây – ông luôn có cảm tưởng là đang khởi đầu cho không cái gì mới -  nhưng môi trường chung quanh ông thường xuyên thay đổi vì vậy ông vẫn giống như một người luôn tham gia vào cuộc trò chuyện quá trễ: ông hiểu những lời đã trao đổi, nhưng không thể hình dung ra những gì đang được thảo luận. 

Jan thì quá vui mừng được gặp lại anh mình, và chính Jacob cũng rất hài lòng. Họ nói về Lục Địa Phương Nam, vì đây là cách mà họ nói về người cha của họ. Jan vẫn còn tin tưởng anh mình sẽ khám phá nó. Jacob có thể giải thích như thế nào rằng ông đang hy vọng cho một cái gì đó hoàn toàn khác, một cái gì đó không hiện hữu, nhưng chẳng bao lâu nữa nó nhất định sẽ trở thành hiện thực, sẽ tiết lộ mọi thứ dưới ánh sáng khác hoàn toàn?

Ông sống nhờ vào số tiền ông dành dụm ở Indies khoảng một năm, sau đó ông phải trở lại làm việc. Ông tự thiết lập chính mình như một công chứng viên. Mọi việc sẽ dễ dàng biết bao: bạn gọi chính mình là một công chứng viên và đó là những gì bạn đã từng là. Bằng cách này  cuộc sống của ông vẫn tiếp tục mà không cần nổ lực. Nếu mọi thứ trở nên khó khăn, ông chỉ cần nhắm mắt lại, và sự bình an lại đến với ông. Kẻ tìm vận may đã dang rộng đôi bàn tay trắng. Nhắm mắt lại, đó là cử chỉ được ưa thích của ông.

Nhưng cảm giác tội lỗi của ông đối với bố ông đã không rời khỏi ông. Như kẻ tìm vận may, ông có thể nghĩ rằng tất cả những thứ này là của ông. Nhưng ý nghĩ này thường xuyên bị mâu thuẫn bởi một ý nghĩ khác, rằng bố ông ta đã không thích. Ông nguyền rủa bố người đã chiếm mất chỗ ở bên trong ông như sán xơ mít ăn ngấu nghiến mọi thứ một cách tham lam vô độ, vì vậy chẳng còn gì để lại cho ông.

Chẳng có gì đã thay đổi cả; ông thấy mọi thứ trong cùng một ánh sáng giống nhau, hoặc có khác chăng thì đó là thứ ánh sáng màu xám đã cướp mất mọi thứ của đường nét và màu sắc. Đã lâu lắm rồi kể từ khi ông ôm ấp cái ý nghĩ thoát khỏi nó thì toàn bộ nhận thức về nó dường như thuộc về một đời sống khác. Một ở sau lưng ông, một ở trước mặt và không hề có chút giống nhau. Tuy vậy, ông vẫn không lo lắng, không giống như em trai ông luôn quan tâm và cư xử như thể nó là một đại biểu của bố ông trên trái đất này, thỉnh thoảng lại khiển trách Jacob. Đến lượt Jacob rất vui vẻ và ngoan ngoãn làm theo những gì em trai ông bảo ông. Ông phải mang cuộc sống của bố ông đến chỗ thành công. Nếu không có ông nhận ra nó, nó đã là một sự giải thoát hoàn hảo: ông đang sống cuộc sống của người khác. Cuộc sống của riêng ông là theo cách khác; nó trống không như thể nó chưa từng hiện hữu.

Có phải điều đó đã khiến ông ta vui?

Không, ông không vui.

Ông dửng dưng. Giống như một hòn đá bị bào mòn bởi cuộc sống trôi ngang qua nó.

 

Vào đầu hôm sau một ngày ở văn phòng, ông trải qua thời gian như thường lệ để soạn thảo và huỷ bỏ hợp đồng, ông đã gặp Chúa. Jacob không đang cầu nguyện Người, nhưng bỗng Người xuất hiện. Người lắc đầu, không nói bất cứ thứ gì. Tất cả những gì Người đã làm là chỉ lắc đầu.

Rồi mọi thứ trở nên rõ ràng. Những gì ông đang tìm kiếm đã không tồn tại. Tất cả những sự tránh né của ông đều vì sợ hãi – nỗi sợ của việc thuộc về hay trở thành một cái gì mà chắc có lẽ đã  khiến thật không thể nào đối với ông để trở thành mọi thứ khác. Ông đã cư xử như một người đi tìm vận may đã dang rộng hai cánh tay, không để nhận, nhưng để chứng tỏ những gì ông đã có thể nhận. Nhưng dù ông có chỉ tay ra xa mấy đi nữa, giống như người tìm vận may, ông cũng không còn có thể chỉ đến bố ông.

 

Khi Công Ty West India cuối cùng đã chấp thuận kế hoạch của ông – hoặc đúng hơn là của bố ông -  cho việc khám phá Lục Địa Phương Nam, nó không còn có bất cứ ý nghĩa gì đối với ông. Ông có thể tưởng tượng bố ông sau khi nhận tin này, đang đứng trên bến cảng, hướng cái nhìn chăm chăm vào khoảng xa, như thể ông đã có thể thấy  Lục Địa Phương Nam đang chờ đón ông.  Đối với bố ông, đây  sẽ là một ngày trọng đại; nhưng đối với ông nó chẳng có nghĩa lý gì.

Ông đứng đó, trên bến cảng này và ngắm nhìn vào cõi xa xăm, xa thật xa, vượt qua biết  bao biển cả và lục địa, xuyên qua mưa gió và sương mù, ông có thể thấy một dấu chấm nhỏ: đó là lưng của ông.

 

Bị thúc giục bởi đứa em tật nguyền của mình, ông trang bị một hạm đội nhỏ. Ông đặt tên tàu chỉ huy theo tên của bố ông. Và vào ngày một tháng Tám năm 1721 ông đã trương buồm ra khơi.

Ông cũng đã có thể không đi.

                    

                                                            Phan Thiện Trì chuyển ngữ

                                                                          Sept. 2021

                                                                  

                                                            

                                                   

 

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

MUA RAO  - Hwang sun Won (uo) https://gtvh51.blogspot.com/2024/10/rao-sun-won-han-quoc-ngay-khi-cau-be.html