BÀI VIẾT TRÊN TƯỜNG
Nescio
Phan Thiện Trì dịch
Một ngày dài nhất lại qua. Ngày càng trở nên ngắn hơn – thật khó có thể chú ý thấy, nhưng chúng tôi biết nó đang diễn ra, mùa hè này rồi cũng sẽ trôi qua. Một ngày nữa lại kết thúc, lại một lần nữa màu đỏ tươi bên trên đường chân trời trở nên nhợt nhạt, mặt nước ở phía xa vẫn giữ nguyên màu sắc của nó, nhưng bóng tối gần như len lỏi khắp nơi, trên mặt trái đất. Giờ đây con kênh đào ở phía xa cũng đã biến mất trong đêm. Chúng tôi cảm thấy u buồn về tất cả những điều đã qua, và về cuộc sống của chúng tôi rồi sẽ kết thúc trong khi những điều này vẫn tiếp tục tồn tại. Chúng tôi sẽ thấy ngày trở nên dài hơn vài lần nữa, và rồi chúng tôi sẽ không còn trẻ nữa. Và sau đó, khi những cây hạt dẻ đã nở hoa đỏ hoặc trắng thêm vài lần nữa, chúng tôi sẽ chết ở thời kỳ sung mãn nhất của cuộc đời mình hoặc ở giai đoạn già nua của những cụ già, lúc ấy thậm chí còn tệ hơn nhiều. Bầu trời rồi sẽ đỏ trở lại, và con kênh vẫn ở đó, rất có thể, vàng lúc chạng vạng, và người ta không nhận thấy bất cứ sự khác biệt nào.
Rồi, Bavink nói, “tôi sẽ nổi tiếng” theo cách mà người khác sẽ nói, “họ tính phí quá cao cho tôi mười xu” và tất cả chúng tôi đều cảm thấy mình đã nhận được đầu gậy ngắn, cả ba chúng tôi, Bavink, Bekker và tôi.
Sau đó, Bavink kể cho chúng tôi nghe về chuyến thăm viếng mà anh đã nhận từ một quý ông anh chưa từng gặp, một người lùn, to béo trong bộ côm-lê lịch lãm. Bavink nhớ lại tên anh ấy và hoá ra tôi biết anh ta. Chúng tôi đi học cùng nhau, khi anh ta còn là một cậu nhóc đầy mưu mô.
Anh ta nhận nhiệm vụ từ một tạp chí do một quý ông đầy tham vọng khác thành lập, người đã đổ hàng khối tiền vào đó và đi khắp nơi để thu thập ý kiến, khẩu hiệu và ý tưởng ban đầu từ đủ loại người và coi chúng là của riêng anh ta, nhưng vẫn không trở nên nổi tiếng rồi sau đó anh ấy cũng từ bỏ.
“Vì vậy,” tôi nói, “ hắn ta đã đến “nhận nhiệm vụ?”
Cả ba chúng tôi đã phải bật cười, chúng tôi cười ngã nghiêng ngã ngửa, mặc dầu Bekker hơi bị khuất phục một chút vì đôi lúc anh tự mặc áo vest, đội mũ chóp, và cà-vạt trắng cách đây không lâu, để giúp chôn cất một khách hàng, và anh đã hầu như nói vài lời bên ngôi mộ và đã về nhà, bị cảm lạnh.
“Anh ấy thực sự đến đó để làm gì.”
“Để làm quen với tôi”. “Nó diễn ra như thế nào?”
“Nó bắt đầu tốt lắm,” Bavink nói, “nhưng tôi nghĩ anh chàng chẳng hiểu mô tê gì về tôi cả.”
Bavink bắt đầu bằng cách nói rằng anh ta không có khả năng nói chuyện nghiêm túc – một điều khá buồn cười khi nói thẳng với một người đàn ông như vậy, người mà trước tiên là rất nghiêm túc, thứ đến là đến đó để được giao nhiệm vụ. Người đàn ông đã cố gắng hết sức để cười và sau đó nói, “chắc hẳn ngài đang đùa có phải không, ngài Bavink?”
Và rồi ngay cả Bekker cũng phải bật cười, tự gọi mình là một tên ngốc và nói rằng anh sẽ bỏ chỗ làm, bán bộ côm-lê và hút xì gà với số tiền đó, tất nhiên là anh ta không làm.
Và Bavink đã trả lời rằng anh ta không nói đùa và người đàn ông đó hoàn toàn bối rối. Ông ấy không thể chế nhạo Bavink vì ông ta đã nghe từ những người nổi tiếng rằng Bavink “đang làm rất tốt công việc”.
“Vì vậy, tôi đoán,” anh ta nói, dừng lại một giây rồi liếc nhìn Bavink qua cặp kính của anh rồi nói trở lại “vì vậy tôi cho rằng bạn đặt tất cả sự nghiêm túc của bạn vào công việc?”
“Lúc đó bạn sẽ làm gì, Koekebekker, nếu bạn có mặt ở đó?” Người bạn đồng nghiệp đã nói với sự tôn trọng đến mức Bavink đã nghĩ “hắn ta đúng là một thằng khốn nạn” nhưng không dám nói ra.
“Bạn biết tôi sẽ làm gì, Bavink?” Tôi đã hỏi hắn ta có muốn hút thuốc không”.
“Đó chính xác là những gì tôi đã làm và hắn ta nói, “không, cảm ơn, tôi không hút thuốc”.
Anh bạn đồng nghiệp nói như thể anh đang đọc lớn từ một tờ báo. Anh ấy hoàn toàn hiểu rõ rằng Bavink không muốn nói về bản thân mình. Chính anh cũng cảm thấy như vậy, điều đó luôn khá khó chịu, nhưng đơn giản là bạn không thể luôn tránh né nó, bạn hiểu đấy, cuộc sống có những nghĩa vụ nhất định của nó, và một nghệ sĩ (anh chàng thực sự muốn nhấn mạnh từ này) ít nhiều gì cũng thuộc về những người . . . Thế rồi Bavink nghĩ anh có lẽ nói một điều gì đó nghe có vẻ giống như một lời phát biểu, vì vậy anh nói: “sự thật khá rõ ràng”. Anh chàng sửng sốt. Anh ấy rất vui khi biết Ngài Bavink chia sẻ ý kiến của mình theo quan điểm này – những người như thế đó luôn gọi những điều này là “quan điểm”- và kết quả là anh đã mạn phép hỏi ngài Bavink bằng tất cả sự chân thành liệu có thật đúng như những gì một số tờ báo nào đó, không (anh gọi chúng là “những tạp chí chuyên ngành”) đã in, nghĩa là ông đã, ở một mức độ nào đó, ở một mức độ to lớn hơn, dửng dưng với danh tiếng?
“Chúa ơi!” Bavink nói, “tôi đã ở đó, tôi nghĩ nếu Hoyer đã ở đó, anh ta cũng biết phải nói gì với hắn ta”.
“Và anh đã nói gì?”
“Tôi đã hỏi hắn ta: Có phải đó là những gì người ta nói trên báo không?”
“Bạn không đọc báo à?” anh ta liền hỏi, giống như một người bình thường.
“Chết tiệt thật,” Bekker nói, “vì vậy, rốt cuộc hắn ta đã không ra về với hai bàn tay trắng sao? Giờ thì hắn ta có thể viết trên tờ báo lá cải của mình rằng Johannes Bavink không bao giờ đọc báo”.
“Đó là những gì tôi cũng nghĩ vậy,” Bavink nói.
“Bây giờ hắn ta đã có trong tay một thứ gì đó, và tôi sẽ không bao giờ thoát khỏi hắn. Hắn ta đã bắt đầu với cuốn sổ tay của mình”.
“Thật hỗn độn biết bao!” tôi nói. “Sự lộn xộn?” Bạn không có ý tưởng. Tôi được cho là phải làm gì lúc đó? Làm sao tôi có thể thoát khỏi hắn ta? Càng ngồi lâu ở đó, hắn ta càng chiếm nhiều chỗ hơn. Tôi thấy hắn ta đang ngày càng phát triển và có sức lan toả, hắn đang lấp đầy xưởng vẽ của tôi và cả con phố đầy ắp những người đàn ông nhỏ bé, những người mà cả ba chúng tôi, Hoyer nữa, đã từng thấy trong những năm gần đây khắp trên đường phố, khắp mọi nơi, họ đang ra đứng ngoài đường phố và tôi biết họ đang đứng ở đó. Xưởng vẽ của tôi nhìn tôi như thể nó đã không còn biết đến tôi nữa. Tôi không còn là Bavink nữa, tôi cảm thấy như thể tôi là Bekker với ông chủ nhà máy nào đó đang nói qua điện thoại”.
“Này,” Bekker nói. “Điều đó có thể xảy ra,” tôi nói.
“Cậu có nghe không, Bekker? Tôi đã nói là điều đó có thể xảy ra. Đó là một cảm giác tệ hại. Cậu biết là tôi cảm thấy có lỗi với cậu”.
“Này,” Bekker nói. Chúng tôi im lặng.
“Bạn biết đấy, Koekebekker, làm thế nào trong công việc cuối cùng của bạn mà bạn phải hỏi xem mỗi buổi tối trước khi có thể về nhà rằng biên lai có còn nằm trên trục chính không.
“Tất nhiên”.
“Và làm thế nào mà mỗi khi bạn hỏi rằng bạn cảm thấy như thể bạn có tóc mai dài được cắt tỉa công phu?”
“Nhất định!” “Vậy đó, nó rất giống như vậy. Tôi đã nghĩ về bạn và tôi cảm thấy như thể tôi đang biến thành một “đồng bọn” giống như gã đó, chỉ từ việc hắn ta ngồi đó, đối diện với tôi. Tôi nghĩ tôi sắp bắt đầu nói về những dòng tri thức, những từ này đến từ đâu vậy? Tất cả xảy ra chỉ đúng vào khoảng thời gian anh chàng đó phải mất để bắt đầu trở lại và nói, “Thưa ngài, ngài …”
Một lần nữa chúng tôi lại im lặng. Cuối cùng bạn không thể chống lại họ. Có quá nhiều người trong số họ và họ luôn luôn đúng. Họ có lý do để tồn tại. Chúng ta là những người không có lý do để tồn tại.
Đó là cách nó phải như vậy, đó là ý muốn của Chúa. Bekker nhìn xuống đất, giữa hai đầu gối.
“Làm thế nào bạn thoát khỏi anh ta?” tôi hỏi.
“Tôi rất phẩn nộ,” Bavink nói, “tôi không thể nào chịu đựng được khi mà tôi vẽ được những bức tranh của mình và tôi phải bán chúng, nhưng tôi rất cảnh giác. Tôi ngắt ngang và nói: “Thưa ông,” tôi nói, “tôi thực sự lấy làm tiếc là không có gì để cung cấp cho ông, nhưng chẳng còn gì trong nhà cả”. Tôi đang nói bằng hết sức tưởng tượng có thể.
“Tôi lấy làm tiếc để nói rằng tôi không tin là chúng ta có thể hiểu nhau. Anh ta nhướng mày. “Có lẽ chúng ta sẽ hiểu nhau hơn trong vòng mười năm tới, nhưng hôm nay chúng ta không thể hiểu nhau”. Tôi đứng dậy và anh ấy cũng đứng dậy.
“Tôi đánh giá cao những ý định tốt của bạn”.
“Tôi đánh giá cao những ý định tốt của bạn!” Bekker nói.
“Đó là những gì tôi đã nói,” Bavink nói. “Những lời đó xuất phát từ đâu?” Tôi đánh giá cao những ý định tốt của bạn, nhưng tôi e rằng tôi không nghĩ chúng ta có một từ thông minh nào để nói với nhau. Nếu có điều gì khác về tôi mà bạn muốn biết, tôi có thể đề nghị bạn đến thăm quý ông Hoyer . . . “
“Cái gì?” cả hai chúng tôi đều hét lên cùng một lúc.
“Hãy đến thăm quý ông Hoyer,” tôi nói. “ ở Van Woustraat, ông ta có thể cho bạn biết mọi thứ bạn cần biết và ông ấy nói như một tờ báo đã nói, ở số 28 – Van Woustraat”.
Chúng tôi sững sờ ngồi lặng yên ở đó.
Anh chàng ấy vẫn hoàn toàn lịch sự, anh ta viết địa chỉ bằng một cây bút máy, cảm ơn ngài Bavink và nói, “Đừng bận tâm, tôi có thể tự tìm lối thoát cho mình, cảm ơn ngài”.
“Nếu hắn ta đi đúng nước cờ của mình,” Bekker – người sở hữu công việc kinh doanh của riêng mình, và ngước nhìn lên với đầu vẫn còn trong đôi tay – nói, “hắn ta sẽ nhận bài báo hay về điều đó. Điều đó không thành vấn đề với Hoyer, hắn ta mới xứng đáng với điều đó”.
Lại một lần nữa chúng tôi ngồi im lặng và nghĩ về việc chúng tôi không có lý do gì để tồn tại.
Điều này đã được viết cách đây nhiều năm, tại một thời điểm rất xa, có thể là vào năm 1913 hay 1914 gì đó.
CHUYẾN ĐI DÃ NGOẠI DỌC THEO DÒNG SÔNG IJ
1. KHÁM PHÁ
Bavink và Bekker đi trước, tiếp đến là Kees đi một mình. Họ đã để tôi đi cùng với Hoyer. Đó là một buổi chiều vào tháng Mười Một. Mặt trời xuống thấp ở phía sau chúng tôi, bên trên giữa vùng Zeeburgerdijk. Hoyer bước đi với áo khoác không cài nút – chiếc áo khoác ngoài duy nhất giữa năm thằng chúng tôi. Đó là một ngày ôn hoà, đẹp một cách đặc biệt. Cánh đồng cỏ trải rộng một màu xanh nhạt và sũng nước trên vùng đất thấp bên phải. Trước mặt chúng tôi, dưới chân đê, những hàng cây trong Nghĩa Trang Do Thái đứng sừng sững cao và trơ trọi đổ bóng phản chiếu màu tím nhạt, bầu trời trên đầu chúng tôi xanh nhạt; khi chúng tôi quay lại, chúng tôi nhìn thấy mặt trời chiếu sáng trên kênh Spui và hai bên của những căn nhà lán bằng gỗ xập xệ thường chỉ làm bằng những tấm ván màu xám xấu xí, nhưng chúng đang toả sáng trong ánh nắng chiều, cả thế giới xung quanh chúng tôi cũng đang chói chang trong ánh sáng, trái đất toả ra ánh sáng và thế giới là của chúng tôi trong chừng mực mắt chúng tôi có thể nhìn thấy được, và xa hơn nữa.
Chúng tôi đang đi ra khỏi thành phố, bước đi khó khăn, đế giày của Hoyer (còn nguyên vẹn) va vào đá. Bavink vung gậy chống bên trên đầu và tôi xô nhẹ Hoyer một cái. Chúng tôi đang vui vẻ phấn chấn, và náo nức về mọi thứ, về thời tiết, về ánh nắng mặt trời, về ánh sáng và không khí chung quanh mà chúng tôi đang hít thở, về bầu trời phía trên mà chúng tôi nhìn thấy. Chúng tôi đang trên đường chinh phục thế giới, ngoại trừ Hoyer, người duy nhất không tin vào điều đó, tất cả những gì anh ta biết là chuyến đi dạo trên đê Zeeburgedijk, qua khỏi lò mổ. Nhưng khi chúng tôi đi đến cuối con đê và nhìn thấy Zuiderzee trước mặt thì Hoyer trở nên yên lặng, phẳng lặng như mặt nước phản chiếu bầu trời xanh và mây trắng bên trên. Về phía bắc, đằng sau con đê, dòng sông IJ có màu trắng như phấn. Một chiếc xà lan và một chiếc tàu kéo nhỏ đang chạy về phía thành phố, từ đông sang tây. Chúng ở phía bên kia của con đê nhưng hơi nước của chúng bị phản xạ trong nước qua phía bên này. Và một chiếc thuyền buồm đang chạy đến đó với góc buồm trắng phía trước hướng về phía cảng. Xa hơn nữa là Durgedam, với những ngôi nhà trên bờ đê và hai ngọn tháp nhỏ với vài cây trơ trọi giữa chúng. Dọc theo bến cảng là một vài chiếc tàu nhỏ với cột buồm yếu ớt của chúng vươn lên bầu trời. Ngoài khơi xa, về phía bên phải, có khói từ những chiếc tàu chạy bằng hơi nước không thể thấy rõ.
Chúa đã tốt và nhân từ vào buổi chiều hôm đó. Thế giới của Người đến qua mắt chúng tôi và sống trong đầu chúng tôi. Những suy nghĩ không diễn tả bằng lời của chúng tôi đã vươn ra ngoài khắp thế giới của Người và chúng vượt xa ra ngoài đường chân trời. Và thế là chúng tôi và thế giới lần lượt hoà vào nhau: Bekker nói anh có thể cảm thấy trái tim của mình căng phồng lên, và khi tôi nhắm chặt mắt lại, như thể đầu tôi ngập tràn ánh sáng vàng và làn nước xanh, và những cơn rùng mình tuyệt vời chạy dọc sống lưng tôi. Tôi cảm nhận được thế giới xung quanh mình.
Chúng tôi đi xa hơn. Ai đó đã xới đất trong khu vườn nhỏ cạnh một ngôi nhà và những cục đất đen ẩm ướt phát sáng một cách buồn tẻ. Chung quanh khu vườn là một hàng rào hoa hồng thấp, mặt trời chiếu sáng lên nó. Một người đàn ông cuốc nốt phần đất ở góc vườn. Chiếc áo khoát ngoài của ông ta có màu xanh lam nhạt với một mảnh hình vuông sẫm màu ở mặt trước. Và ngay khi người đàn ông đưng thẳng người lên nhìn chung tôi, mặt trời chiếu sáng vào mặt ông. Bây giờ những đám mây hồng nhỏ được phản chiếu trên biển.
Trên con đê đến Schellingwoude, chúng tôi tình cờ gặp một quý ông có vẻ ngoài thuộc phe Cải tổ. Khuôn mặt trắng hồng của ông được cạo sạch, ông mặc chiếc áo khoác đuôi dài màu đen, tay cầm mũ và áo choàng trên cánh tay, đang vừa đi vừa huýt sáo. Đó là vào ngày 22 tháng 11. Chúng tôi thích ông ta và muốn bắt tay ông nhưng lại lo lắng rằng ông ấy sẽ không hiểu chúng tôi vì khuôn mặt ông trông trắng bệt rất đáng sợ.
Lúc bốn giờ chiều, mặt trời đã xuống rất thấp ở chân trời, to và đỏ và nó chìm dần trong lạnh lẽo và ảm đạm phía sau một nhà kho trên bến cảng Amsterdam. Sự hiu quạnh len lỏi ra khỏi đầm lầy qua khỏi con đê về phía đông; ở cuối con đê có một ao nước được viền quanh bằng lau sậy màu nâu – bản thân nó đã bị bỏ hoang từ lâu.
Ở đằng xa, phía bờ đê bia kia sông IJ là một cỗ xe của người bán bánh được kéo theo sau một con ngựa trắng, và chúng tôi lại nghĩ đến những ổ bánh mì có nho khô bên trong nó, vì hôm đó là thứ Bảy. Và bên trong một căn nhà hiu quạnh, ánh sáng duy nhất từ bếp lửa để pha trà đang thắp sáng trên bàn, ngay kế bên cửa sổ với những tấm rèm vải tuyn nhỏ được kéo qua hai bên. Một ấm trà đặt trên bếp đang đốt sáng khiến trái tim của chúng tôi như tan chảy, chúng tôi sẽ chinh phục thế giới vào một thời điểm khác, còn bây giờ chúng tôi đang nghĩ nhiều hơn về việc có thứ gì đó để ăn và uống, có bánh mì và cà phê vì trời đang trở lạnh, về khoảng sàn nhà rải cát trắng và cái bếp trong quán cà phê nhỏ ở Schelingwoude.
Chúng tôi đang lặng lẽ ngồi bên cửa sổ trong một quán cà phê. Tôi nhìn ra phía đông dọc theo con đê, nhìn vào mấy cái cây khẳng khiu, lộng gió bên bờ nước, nhìn vào mặt nước, và bầu trời đang tối dần. Bỗng Hoyer, ngồi đối diện với tôi, nói, “Hãy nhìn vào bầu trời kia”.
Về phía Tây Nam cả bầu trời nhuộm một màu vàng. Tôi xoay người ngồi nghiêng một bên ghế và nhìn ra. Tôi thấy thật tuyệt vời, mọi thứ đều như ý, không còn gì để chinh phục nữa, và tôi đang sống.
Khi chúng tôi đi bộ dọc theo con đê giữa Schellingwoude và Nieuwendam với bến cảng IJ bên trái và và những cánh đồng bất tận bên phải chúng tôi. Mặt nước ánh lên một màu vàng xa về phía thành phố; bên kia là những con mương đổ nước về đồng quê đang nhuốm một màu hồng nhạt đến nỗi thoạt đầu tôi nghĩ chắc do mắt tôi đã nhìn vào mặt trời quá lâu.
Và ở cuối những cánh đồng, bạn chỉ còn có thể nhận ra con đê Zuiderzee. Khung cảnh đồng quê khá buồn tẻ trong lúc hoàng hôn của một ngày vào tháng Mười Một, với tháp chuông nhà thờ Ransdorp vuông vức ở phía xa và những dãy nhà nhỏ ở mỗi bên đang lưỡng lự giã từ một ngày như thể sẽ không bao giờ có ánh sáng nữa sau buổi trời chạng vạng tối này. Thật giống như khi chúng tôi chết, chỉ một thời gian ngắn sau đó là mọi thứ sẽ kết thúc, và thế là chúng tôi đã cảm thấy rất buồn. Nhưng Bavink nói rằng vẫn còn một hai điều anh ấy muốn làm. Màu vàng trong nước đã chuyển thành màu hồng. Xa hơn nữa, có một khoảnh đất trang trại bên ngoài con đê, ở mặt trước, một hàng cây thấp trên bờ đê, ở phía sau là vuông đất đã cày xới màu đen kịt, đang sáng chập chờn. Và rồi chúng tôi nghĩ về mùa xuân sắp tới, sau mùa đông này, và cảm thấy mình trở nên bất tử trở lại, không còn một chút u buồn, không còn buồn bã nữa.
2. SỐNG ĐỜI ẨN DẬT
Vào cuối mùa Thu năm sau, Hoyer và Bavink thuê một căn nhà nhỏ bỏ hoang ở Schellingwoude trên đê bên kia dòng sông IJ. Cây tiêu huyền trong vườn phía sau văn phòng của Bekker đang trút xuống những chiếc lá cuối cùng.
Đó là một nơi hoàn toàn không thoải mái mà họ tìm thấy. Đằng trước, mặt nước, phía sau, những cánh đồng trũng nước màu xanh nhạt vô tận, không có gì trong đó và toà tháp Ransdorp trơ trụi ở phía xa với những ngôi nhà lụp xụp quây quần xung quanh. Một vài cây khẳng khiu, lộng gió, đen nhánh, trơ trụi, sống kiếp sống của loài cây nhỏ tội nghiệp của chúng ở rìa ngoài cùng của con đê trước cửa nhà họ.
Mọi thứ trông như chỉ chực chờ bị lũ quét, nhưng con đê lại rất kiên cố. Nó chỉ bị vỡ vài năm sau đó, và ở một nơi khác. (1)
Căn nhà lúc nào cũng có gió lùa, và họ thay phiên nhau ngủ với áo khoác ngoài của Hoyer. Ở Schellingwoude bạn hầu như không thể mua bất cứ thứ gì bằng thẻ tín dụng. Những chiều thứ Bảy, Bekker và tôi thường đi ra đó, phải mất một tiếng rưỡi đồng hồ để thả bộ từ văn phòng của Bekker. Thường thì chúng tôi phải mang theo thứ gì đó: một hộp xì gà, hoặc một chai rượu, bút vẽ và sơn màu, hoặc những thứ khác mà bạn không thể có được ở Schellingwoude.
Bekker luôn mang theo sách, báo hoặc tạp chí, nhưng phần lớn là bác sĩ ở Schellingwoude đọc chúng, chứ Bavink và Hoyer chỉ liếc qua, và chỉ quan tâm đến những bức tranh trong tờ Simplicissimus và tờ Le Rire.
Trong nhiều tháng, họ không bao giờ rời khỏi làng, Bavink, tê cóng vì lạnh, ngồi xuống cạnh cửa cống kênh đào để vẽ; Hoyer, với chủ nghĩa lý tưởng điên rồ, đã bước đi hàng giờ trong sương lạnh dọc theo con đê ven biển ngoằn ngoèo dẫn đến Uitdam và xa hơn nữa, và không bao giờ phàn nàn khi không còn thứ gì để ăn hoặc uống, và cho Bavink mượn chiếc áo khoác nhẹ của mình, không hề để ý khi đôi chân mình bị ướt sũng. Vào một buổi sáng khi anh ngồi ở mép giường, chà bùn khô ra khỏi bít tất của mình, lòng đầy tự mãn, Hoyer sống như một vị thánh - vị thánh vẽ phát thảo, vẽ tranh.
Hàng nhiều tuần lễ, anh ta tái xanh vì ốm, cả ngày trôi qua anh hầu như không nói một lời, vì chẳng có ai và chẳng có bất cứ điều gì để nói cả. Bavink thì vẽ hoặc ngủ, Hoyer chẳng bao giờ phàn nàn, anh không còn mong mỏi đến Kalverstraat trong thành phố, hoặc đến các quán rượu, hoặc mơ tưởng các cô gái.
Bekker tin tưởng sẽ không còn bao lâu nữa trước khi chúng tôi sẽ làm cho cả thế giới kinh ngạc.
Với Lien chuyện đã qua rồi, cô ấy đã lên đời. Một lần nọ, vào một buổi chiều tháng Hai có nắng ấm, cô ấy ghé qua trên chuyến phà nhỏ. Mặt trời tháng Hai như trẻ thơ đã chiếu sáng. Cô mặc bộ quần áo đắt tiền và một chiếc mũ bằng lông vũ màu vàng đắt hơn cả số tiền mà Bavink từng nhận được cho một trong những “thứ nhỏ nhặt” của anh ta. Bavink đang ngồi bên bờ đê, trên các trụ cọc, đang vẽ tranh thì vị thánh ngồi xổm xuống bên cạnh anh, ngay trên bờ nước, chà sạch dầu mỡ trên chảo bằng đá ở vùng nước lợ lợ của sông IJ, họ không quá đặt biệt.
Ngay khi họ nhìn thấy Lien, họ quyết định nghỉ việc buổi chiều. Bavink đã vật lộn với dòng sông IJ trong ba tháng trời, và chỉ chừng ấy là đủ. Và có Lien đang ngồi giữa phòng, trên chiếc ghế duy nhất của họ, và trước tiên nhìn xuyên qua cửa sổ phía bên này ra cánh đồng và rồi qua cửa sổ phía bên kia ra hàng cây khẳng khiu xơ xác lá và làn nước trong xanh, dưới ánh nắng mặt trời như thể thế giới thực sự trông tuyệt đẹp. Còn Bavink và Hoyer thì ngồi trên sàn nhà, tựa lưng vào tường, hút thuốc bằng ống điếu đất sét, ngước nhìn lên, lòng ngập tràn trạng thái thoả mãn, lặng nhìn Lien và Lien nói là mình có một bản thảo.
Hoyer nói anh chưa bao giờ để ý đến bất cứ điều gì – Hoyer, thường không bao giờ ngồi trên lề đường bằng đá vì trời quá lạnh!
Hoyer ra ngoài mang ví của Lien vào, còn Bavink chỉ ngồi nhìn, và ngưỡng mộ, cố gắng không nói một lời. Lien ngồi vắt chân này qua chân kia, cô đặt đầu dù của mình vào kẽ hở giữa hai tấm ván trên sàn nhà rồi duỗi tay ra, nhìn mặt nước, rồi từ mặt nước nhìn xuống mũi giày của cô, rồi ngước lên nhìn vào mắt của Bavink. Rồi Bavink nhìn vào mắt cô, lấy ống điếu ra khỏi miệng và nói, “ Lien à, em trông rất xinh đẹp! Nếu anh được phép làm lại từ đầu … và với quần áo đẹp đẽ, và mọi thứ, và với chiếc mũ đó …”
Lien đỏ bừng mặt, lấy chiếc ô chọc vào người anh, khiến cô suýt ngã khỏi ghế.
Sau đó, Hoyer quay lại với nửa dram rượu jenever cũ cho hai người và một ly bia bia pha rượu nóng đánh trứng cho Liên. Mọi người đều có tâm trạnh vui vẻ cho đến bốn giờ chiều.
“Này, Lien,” Hoyer nói, “em có biết cách làm sạch dầu mỡ trên chảo không? Tụi anh đã thử chà nó bằng viên đá bọt ở trên đê nhưng không có hiệu quả”.
“Anh cần nước nóng, anh ngốc à”.
“Đó là những gì tôi đã nghĩ,” Bavink nói. “Phải mất quá nhiều thời gian. Tôi biết có điều gì đó không ổn”.
Sau đó Lien nói rằng họ đều vô vọng, cô liền cởi bộ đồ đẹp của mình ra, buộc một trong những chiếc áo khoác của Bavink quanh eo, và đi vào nhà bếp với bộ dạng như thế, thay cho chiếc tạp dề, và rửa chảo.
Cô lại thấy một chồng khoảng mười ba đĩa bàn bẩn và hai nửa số đĩa nhỏ, cô liền rửa tất cả và muốn vứt bớt số đĩa nhỏ kia đi nhưng họ không để cô làm việc ấy. Sao lại phải ném phân nửa số đĩa nhỏ kia đi trong khi chúng còn tốt?
Chảo chưa bao giờ được rửa sạch. Dù sao thì họ cũng chỉ nấu cơm trong đó thôi.
Nhưng vào lúc bốn giờ, lũ trẻ ở nông trại ra khỏi trường và áp sát mũi trang trại của chúng lên các cửa sổ để tất cả những gì bạn có thể nhìn thấy là những hình tam giác nhỏ màu trắng và chúng sẽ không rời đi. Không có rèm cửa.
Khi Bavink và Hoyer đưa Lien trở lại chiếc phà của cô ấy, lúc bốn giờ ba mươi phút, có hai người đàn ông đã đứng tại ngả tư bên cạnh cống, và họ nói, “Chà, chà,” và nhìn cô như thể họ chưa từng nhìn thấy Lien.
Không lâu sau tôi tình cờ gặp Bavink trong thành phố. Anh mặc chiếc áo khoác ngoài của Hoyer và có mùi bánh mì. Tôi nghĩ đó thật là một điều kỳ lạ. Tôi hỏi Lien có trở lại nữa không và anh lắc đầu nói: không. Anh ấy đã cam chịu: “Bạn có thể mong đợi điều gì một khi bạn bị khánh kiệt. Này, hãy nhìn đây.” Anh mở cúc áo trên cùng của chiếc áo khoác đắt tiền của Hoyer để cho tôi nhìn vào bên trong. “Bánh mì, một ổ bánh mì nóng. Tôi đã mua được nó bằng thẻ tín dụng ở cửa hàng De Pijp.
Hoyer cũng ra ngoài nữa. Tôi phải gặp anh ta lúc ba giờ tại Muiderpoort”.
Ở Schellingwoude, họ thậm ngay cả không thể mua nổi một ổ bánh mì nữa. Mặc dầu tôi nghèo, nhưng tôi đã ứng trước tiền mặt cho họ trên Outer IJ. Có lẽ mọi thứ sẽ ổn với số tiền đó.
Thị phần của Bavink về thế giới mà chúng tôi sẽ chinh phục thì cũng đủ lớn. Tôi đã cung cấp tài chính cho một đế chế. Đế chế? Tôi đã cho anh ta một sự thăng tiến trên cả một vũ trụ.
Bavink rảo bước dọc theo Kalverstraat với cổ áo kéo cao lên và lồng ngực căn phồng lên bên trong áo khoác, miệng đang huýt sáo bản Mếillaise và ngửi thấy mùi bánh mì nóng.
Tháng Bảy, năm 1914
(1) Phần bổ sung sau đó.
Phan Thiện Trì dịch
|
Nescio
AGAIN the longest day was past. The days were getting shorter—it was still barely noticeable but we knew it was happening, this summer too would pass. Again the day came to an end, again the bright red above the horizon grew pale, the water in the distance kept its color, but barely, darkness crept up everywhere, out of the earth, now the canal in the distance had vanished in the night. We were gloomy about all the things that had passed, and about our lives, which would end while all these things continued to exist. We would see the days get longer a few more times, then we wouldn’t be young anymore. And after that, when the chestnut trees had blossomed red or white a few more times, we would die, in the prime of our lives or maybe as old men, which would be even worse. And the sky would be red again and the canal would still be there too, most likely, gold in the twilight, and they wouldn’t notice any difference.
Then Bavink said “I’m going to be famous” the way someone else would say “They overcharged me ten cents,” and we all felt we had
gotten the short end of the stick, all three of us, Bavink and Bekker and me.
Then Bavink told us about a visit he had received from a gentleman he’d never met, a short, well-fed man in a suit jacket. Bavink remembered his name and it turned out I knew him, we went to school together, back when he was still a scheming kid.
He’d come on assignment from a magazine founded by another ambitious gentleman who had poured a ton of money into it and gone around collecting original opinions and slogans and ideas from all sorts of people and presented them as his own, and still didn’t get famous, and then later he gave up too.
“So,” I said, “he came ‘on assignment’?”
And all three of us had to laugh, we laughed our heads off, though Bekker was a little subdued because he sometimes wore a suit coat himself, and a top hat and white tie too not long ago, to help bury a client, and he had almost said a few words by the grave and had come home with a cold.
“What was he really there for?” “To make my acquaintance.” “How did it go?” “It started well,” Bavink said, “but I think the guy couldn’t
really make heads or tails of me.”
Bavink had started by saying that he was incapable of talking seriously—a funny thing to say right off the bat to a man like that, who in the first place is a serious person and secondly is there on assignment. The man had done his best to laugh and then said, “You must be joking, Mister Bavink.”
Then even Bekker had to laugh and call himself an idiot and say he was going to quit his job and sell his suit and smoke cigars with the money. Which of course he didn’t do.
And Bavink had answered that he wasn’t joking and the man was completely flummoxed. He couldn’t sneer at Bavink because he had heard from well-known persons that Bavink “was doing remarkably fine work.”
“So I presume,” he’d said, and paused for a second and peered at Bavink through his pince-nez and then said again, “So I presume that you put all of your seriousness into your work?”
“What would you have done then, Koeke- bakker, if it was you there?” The fellow had spoken with so much respect that Bavink had thought “What an absolute ass he is” but didn’t
dare to say anything.
“You know what I would have done,
Bavink? I would’ve asked if he wanted a smoke.” “That’s exactly what I did too, and he said, ‘No thank you, I don’t smoke.’”
The fellow talked like he was reading out loud from a newspaper. He understood perfectly well that Bavink did not want to talk about himself, he himself felt the same way, it is always rather unpleasant, but you simply can’t always avoid it, you understand, life carries with it certain obligations and an artist (the guy really emphasized that word) more or less belongs among those who ... Then Bavink thought that he might as well say something that sounded like it was straight out of a speech too, so he said: “Indubitably.” The guy was taken aback. He was happy to hear that Mister Bavink shared his opinion with respect to this point—guys like that always call these things “points”—and as a result he took the liberty of asking Mister Bavink in all candor whether it was true what certain newspapers (he called them “journals”) had printed, namely that he was, to a great degree, a great degree, indifferent to fame?
“Jesus,” said Bavink, “there I was, I thought if Hoyer was here he’d know what to say to him.”
“And what did you say?”
“I asked him: Is that what it said in the paper?”
“Don’t you read the newspapers?” he said then, just like a normal person.
“I’ll be damned,” Bekker said, “so he wasn’t going to leave empty-handed after all. Now he can write in his little rag that Johannes Bavink never reads the newspaper.”
“That’s what I thought too,” Bavink said. “Now he’s got his hands on something, now I’ll never get rid of him. He was already starting in with his notebook.”
“What a mess,” I said. “Mess? You have no idea. What was I supposed to do then? How could I get rid of him? The longer he sat there the more room he took up. I saw him growing and spreading, he filled my whole studio and the whole street was full of the little men, everyone the three of us, Hoyer too, have seen for all these years on the street, everywhere, they were standing out on the street and I knew they were standing there. My studio looked at
me like it didn’t know me anymore, I wasn’t Bavink anymore, I felt like I was Bekker with some factory owner on the phone.” “Hey,” Bekker said. “That can happen,” I said. “You hear that, Bekker? I said that can happen. It’s a lousy feeling. You know I feel sorry for you.” “Hey,” Bekker said. We fell silent.
“You know, Koekebakker, how at your last job you had to ask every evening before you could go home if the receipt was on the spindle?”
“Sure.”
“And how every time you asked that you felt like you had muttonchop sideburns?”
“Definitely.” “So, it was like that. I thought about you and I felt like I was turning into a ‘fellow’ like that guy, just from him sitting there across from me. I thought, I’m about to start talking about intellectual currents, where are these words even coming from? It all happened in just the time it took for the guy to start up again and say, ‘Sir, you ...’”
Again we fell silent. In the long run, you can’t fight them, there are so many of them and they’re always right. They had a reason to exist. We were the ones with no reason to exist.
That’s the way it had to be, it was God’s will. Bekker looked down at the ground, between his knees.
“How did you get rid of him?” I asked. “I was furious,” Bavink said. “Goddammit, I can’t help it if I paint my pictures and I have to sell them. But I kept my wits about me. I interrupted and said: ‘Sir,’ I said, ‘I am terribly sorry to have nothing to offer you, but there’s nothing in the house.’ I was talking as fancy as I could.
‘1 regret to say that I don’t believe we understand one another.’ He raised his eyebrows. ‘Perhaps we might understand each other better in ten years, but today, we do not understand each other.’ I stood up and he stood up too. ‘I appreciate your good intentions
“I appreciate your good intentions!” Bekker said.
“That’s what I said,” Bavink said. “Where did those words come from? ‘1 appreciate your good intentions, but I’m afraid I don’t think we have one single intelligent word to say to each other. If there is anything else about me you’d like to know, may I suggest you pay a visit to Mister Hoyer...’”
“What?!” both of us cried at the same time.
“‘Pay a visit to Mister Hoyer,’ I said, ‘on Van Woustraat, he can tell you everything you need to know and he talks like a newspaper. 28 Van Woustraat.’”
We sat there thunderstruck.
The fellow had stayed perfectly polite, he wrote down the address with a fountain pen, thanked Mister Bavink, and said, “Don’t trouble yourself, I can find my way out, thank you.”
“If the guy plays his cards right,” Bekker said—who owned his own business, and looked up with his head still in his hands—“he’ll get a nice little article out of that. It doesn’t matter about Hoyer, he deserves it.”
And again we sat silent and thought about how we had no reason to exist.
This was written many years ago, in a distant
time, probably 1913 or 1914.
1. Discovery
BAVINK and Bekker walked up ahead, then came Kees on his own. They had stuck me with Hoyer. It was a November afternoon; the low sun was behind us, above the middle of the Zeeburgerdijk. Hoyer walked with his coat unbuttoned—the only overcoat between the five of us. It was an especially beautiful, mild day. Pastures spread out on the low ground to the right, pale green and sodden. In front of us, at the foot of the dike, the trees in the Jewish Cemetery stood tall and gnarled and cast a pale purple reflection. The sky above our heads was pale blue; when we turned around we saw the sun shining in the Spui canal and the sides of run-down wooden sheds that were usually just ugly gray boards, but they were shining in the light, the whole world all around us was shining in the light, the earth gave off light and the world was ours for as far as our eyes could see, and farther.
We were walking out of the city, walking hard, the soles of Hoyer’s shoes (which were intact) clattered on the stones. Bavink bran-
1 of 12
dished his walking stick above his head and I gave Hoyer a little shove. We were in high spirits, and excited about nothing, about the weather, the sunshine, the light all around us that we breathed and the sky above us that we saw. We were heading out to conquer the world, except for Hoyer, he was the only one who didn’t believe in that, all he knew was that he was out for a walk on Zeeburgerdijk, past the slaughterhouse.
But when we came to the end of the dike and saw the Zuiderzee before us, Hoyer fell silent too, as silent as the water, which was as white-blue as the sky above. To the north, behind the levee, the Outer IJ was chalk-white. A barge and a little tugboat were steaming in toward the city, from east to west; they were on the other side of the levee but their steam was reflected in the water on this side. And a tjalk was sailing there with a white sail, its clew listing to port. Farther past it was Durgerdam, with its houses on the dike and its two little towers and a few bare trees black between them, and along the quay a few very small ships with their puny masts reaching up into the sky. To the right, offshore, there was smoke
from invisible steamships.
God was good that afternoon, and merciful. His world came in through our eyes and lived in our heads, and our thoughts went wordlessly out across the world, far beyond the horizon they went. And so we and the world took turns flowing into and through each other: Bekker said he could feel his heart swell and when I shut my eyes tight it was as though my head was filled with golden light and blue water, and wonderful shivers ran up and down my spine. I felt the world that lay around me.
We walked farther. Someone had turned the soil in a little garden next to a house and the wet black clumps of earth glowed dully. There was a low dog-rose hedge around it, the sun shone down on it. A man was spading the last corner. His smock was light blue with a dark square piece on the front. And just when the man straightened up to look at us the sun shone onto his face. Now little pink clouds were reflected in the sea.
On the dike to Schellingwoude we ran into a Reformed-looking gentleman; his white face was clean-shaven, he was wearing a black tailcoat, but he had his hat in his hand and his
overcoat draped over his arm and he was whistling. It was November 22. We liked him and wanted to shake his hand but were worried he wouldn’t understand us and his face was so terribly white.
At four o’clock the sun was very low in the sky, big and red, and it sank cold and dull behind a shed on the Amsterdam harbor. Loneliness crept up out of the marshland past the dike, to the east; at the end of the dike lay a pool lined with brown reeds—abandonment itself.
In the distance, on the Outer IJ dike, was a baker’s wagon being pulled behind a white horse, and we thought about the raisin bread inside it, since it was Saturday. And in one lonely house a single tea light was burning on the table, right next to the window with little tulle curtains pulled back to both sides. The teapot sat on the tea light, and our hearts completely melted, we would conquer the world some other time, for now we were thinking more about having something to eat and drink, bread and coffee, because it was getting cold, and about the floor sprinkled with white sand and the stove in the little café in
Schellingwoude.
We sat quietly by the window in the café. I looked out to the east along the dike, at the couple of scrawny, windswept trees at the water’s edge, at the water, and the sky turning darker. And then Hoyer, sitting across from me, said, “Look at that sky.”
To the southwest the whole sky was yellow. And I turned to sit sideways on my chair and look, and I saw that it was good, everything was good as it was and there was nothing left to conquer, and I was alive.
When we walked along the dike between Schellingwoude and Nieuwendam with the IJ harbor on our left and the endless fields on our right, the water was blazing yellow all the way to the city; on the other side, the ditches ran off into the countryside and were tinged with pink, so lightly that at first I thought it must be from my eyes having looked into the sun so much.
And at the end of the fields you could still just make out the Zuiderzee dike. The countryside was so melancholy in the November twilight, with the square Ransdorp church tower in the distance and the rows of tiny houses on either side taking leave of the day as reluctantly as if there would never be any light again after this twilight. It would be like that when we died, just a little while then everything would be over, and we were very sad. But Bavink said that he still had one or two things he wanted to do. The yellow in the water had turned to pink. A ways farther, there was a plot of farmland outside the dike, and down in front, on the dike, was a short row of trees, behind it the rich plowed soil, black and glimmering. And then we thought of the spring to come, after this winter, and we felt immortal again and not the least bit sad, not anymore.
2. On Retreat
In late fall the following year, Bavink and Hoyer rented a little abandoned house in Schelling- woude on the Outer IJ dike. The plane tree in the garden behind Bekker’s office was down to its last leaves.
It was quite an uncomfortable place they had found. In front, the water; behind, endless pale-green soggy fields with nothing in them and the stumpy Ransdorp tower in the distance with the shivering houses huddled around it.
A couple of scrawny, windswept trees, black and bare, lived their poor little tree-lives on the outermost edge of the dike in front of their house.
Everything looked like it was just waiting to be flooded, but the dike was strong. It only broke a few years later, and somewhere else. [1]
The house was always drafty and they took turns sleeping with H oyer’s overcoat on. And you couldn’t buy anything on credit in Schellingwoude.
On Saturday afternoons, Bekker and I went out there, an hour and a half walk from Bek- ker’s office. We usually had to bring something, a box of cigars or a flask of liquor, or brushes or paint or something else you couldn’t get in Schellingwoude.
Bekker always brought some book or another with him, and newspapers, but mostly the Schellingwoude doctor read them. Bavink and Hoyer took a glance but only cared about the pictures in Simplicissimus and Le Rire.
For months they never left the village. Bavink, numb with cold, sat down by the sluice and painted; Hoyer, with mad idealism, walked
for hours in the mist along the winding sea dike, to Uitdam and beyond, and never complained when there was nothing to drink, and loaned Bavink his light coat, and didn’t notice when his feet got soaking wet. In the morning he sat on the edge of his bed and rubbed the dried mud out of his socks and was content. Hoyer lived like a saint—a sketching, painting saint.
For weeks he was blue with cold, whole days went by when he hardly spoke a word since there was no one to say anything to, Bavink painted or slept, and still Hoyer never complained, he didn’t long for Kalverstraat in the city, or his bar, or girls.
Bekker was convinced it wouldn’t be much longer now before we astounded the world.
It was over with Lien, she had moved up in the world. One time, on a sunny afternoon in February, she came over on the little ferry. A childlike February sun was shining. She had on expensive clothes and a hat with a yellow-gold feather that cost more money than Bavink had ever gotten for one of his “little things.” Bavink was sitting down on the dike, on the pilings, painting; the saint squatted next to him, right
on the water, scrubbing the grease from a pan with a stone in the brackish water of the Outer IJ, they were not too particular.
The moment they saw Lien they decided to take the afternoon off. Bavink had been wrestling with the Outer IJ for three months and had just about had enough. And there was Lien, sitting in the middle of the room on their only chair and looking first out the window on one side at the fields and then out the window on the other side at the scrawny trees and the light blue water, and in the sun like that the world really did look quite nice. And Bavink and Hoyer sat on the floor with their backs against the wall and smoked clay pipes and looked up, full of quiet contentment, at Lien and Lien said there was a draft.
Hoyer said he’d never noticed anything— Hoyer, who used to never sit on a stone curb because it was too cold!
Then Hoyer went out and took Lien’s purse and Bavink just looked and admired and continued to say nothing. Lien sat with one leg crossed over the other and she placed the tip of her umbrella in a crack between two boards on the bare floor and stretched out her arm and looked at the water and down from the water to the tips of her shoes and then up into Bavink’s eyes. Then Bavink looked into her eyes and took his pipe out of his mouth and said: “Lien, you sure look pretty. If I had it to do over again ... and with those pretty clothes and everything, and that hat....”
Lien turned bright red and poked him with her umbrella, which almost made her fall off her chair.
Then Hoyer came back with a half dram of old jenever and a beer bottle fall of eggnog for Lien.
Everyone was in a good mood till four o’clock. “Hey, Lien,” Hoyer said, “do you know how to get the grease off a pan? I tried it with a pumice stone down on the dike but it didn’t work.”
“You need hot water, dummy.”
“That’s what I thought,” Bavink said. “It was taking too long, I knew something was wrong.”
Then Lien said they were hopeless and she took off her nice clothes, tied one of Bavink’s coats around her waist, and went into the kitchen like that, in her slip, and washed the pan.
And then she saw a stack of about thirteen dirty plates and two half-plates. She washed them all and wanted to throw out the halfplates but they wouldn’t let her, why throw out a perfectly good half-plate?
The pan had never been cleaned. They usually only cooked rice in it anyway.
But at four o’clock the farm children got out of school and pressed their little farm noses against the windows so that all you could see were little white triangles all over and they wouldn’t leave. There were no curtains.
And when Bavink and Hoyer took Lien back to her ferryboat, at four thirty, there were two men standing at the crossroads by the sluice, and they said “Well, well,” and then looked as though they hadn’t seen Lien at all.
Not long after that, I ran into Bavink in the city. He had Hoyer’s overcoat on and smelled of bread. I thought that was strange. I asked if Lien had come back again and he shook his head no. He was resigned: “What can you expect when you’re broke. Hey, look at this.”
He unbuttoned the top button of Hoyer’s expensive coat to let me peek inside. “Bread, a fresh loaf of bread. I got it on credit in De Pijp.
Hoyer’s out too, I’m supposed to meet him at Muiderpoort at three.”
In Schellingwoude they couldn’t even get bread anymore. Poor though I was myself, I gave them a cash advance on the Outer IJ. Oh, it would work out fine with the money,
Bavink’s share of the world we were going to conquer was large enough. I was financing an empire. Empire? I was giving him an advance on a whole universe.
Bavink shuffled down Kalverstraat with his collar up and a bulge under his coat and he was whistling the Marseillaise and he smelled of fresh bread.
July 1914
[ll A later addition.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét