Thứ Tư, 28 tháng 12, 2022

 TRONG THÀNH CÓ MA TRƠI

 

                                 truyện cổ tích của Hans Christian Andersen

                                 Phan Thiện Trì dịch

 

 

Có một người đàn ông trước kia đã từng biết rất nhiều câu chuyện cổ tích mới, nhưng về sau ông bảo với mọi người ông quên hết cả rồi. Ông ta nói. Truyện, xưa kia  đã từng đến thăm ông, nay theo cách riêng của nó, không còn đến gõ cửa nhà ông nữa; và tại sao không đến nữa, nào ai biết?  

Đúng là trong một năm và một ngày, ông bạn của chúng ta đã không nghĩ đến nó, không thực sự mong đợi nó sẽ đến và gõ cửa;  và chắc chắn nó sẽ không đến, vì bên ngoài đã có chiến tranh và bên trong là sự khốn khổ và đau buồn mà chiến tranh mang lại.

 

Cò vạc và chim én trở về sau cuộc hành trình dài, chúng không hề nghĩ rằng tai hoạ đã xảy đến.  Nhưng khi về đến nơi, chúng thấy những tổ ấm bị phá huỷ, nhà cửa của người dân cháy rụi, hàng rào bị đập vỡ, đồng cỏ tan hoang, vâng, và một số thậm chí hoàn toàn biến mất, và ngựa quân thù đã dày xéo lên những ngôi mộ cổ. Tuy nhiên, thời kỳ khó khăn gian khổ, tàn khốc và ảm đạm cũng đã qua, thời điểm đó đã là quá khứ mà Truyện cũng chẳng quay về gõ cửa nhà ông nữa; hoặc đưa ra bất kỳ dấu hiệu nào về sự hiện diện của nó.

 

“Nó có thể đã chết và biến mất, giống như rất nhiều thứ khác,” ông bạn của chúng ta nghĩ. Nhưng Truyện chẳng bao giờ chết!

 

Hơn một năm trôi qua, ông vẫn mong chờ gặp lại Truyện.

 

"Tôi tự hỏi liệu có bao giờ Truyện quay lại và gõ cửa nữa không."  Và ông bạn của chúng ta nhớ rất rõ tất cả những hình thức khác nhau mà Truyện đội lốt để tìm đến với ông – lúc thì tươi trẻ và quyến rũ như mùa xuân, lúc thì dưới hình dáng một cô thiếu nữ xinh đẹp với vòng hoa cỏ xạ hương trên tóc và cầm nhánh dẻ gai trên tay, đôi mắt sáng trong veo  như những hồ nước sâu thẳm trong rừng lấp lánh trong ánh nắng rực rỡ;  và có khi nó đến với ông ta giống như một người bán hàng rong, rao bán những dải lụa dài có ghi những câu thơ cổ và những câu châm ngôn nhẹ nhàng. Nhưng tuyệt vời nhất là khi Truyện biến thành một bà già, mái tóc bạc phơ với đôi mắt to nhân hậu và trầm lặng.  Bà cụ biết rất rõ những câu chuyện thời xa xưa, thời mà các nàng công chúa còn kéo sợi trên những cái guồng bằng vàng và những con rồng, những con rắn, nằm cuộn tròn bên ngoài để chiêm ngưỡng các nàng.  Bà cụ kể những câu chuyện của mình một cách sống động đến mức những đốm đen sẽ nhảy múa trước mắt người nghe và sàn nhà trở nên đen kịt bởi máu người; thật là kinh khủng khi nghe, nhưng sao mà thú vị đến thế. Dẫu sao thì tất cả đã xảy từ ngày xửa ngày xưa.

 

"Liệu bà ấy có bao giờ gõ cửa nhà ta nữa không?"  Ông bạn của chúng ta nghĩ vậy, và nhìn chằm chằm vào cánh cửa cho đến khi những đốm đen xuất hiện trước mắt ông, và trên sàn nhà, ông không biết đó là máu hay những cánh hoa tang từ những ngày đen tối và ảm đạm của thời xa xưa đó.

Khi ngồi đó, ông bạn của chúng ta nghĩ rằng có lẽ Truyện đã ẩn mình, giống như nàng công chúa trong câu chuyện cổ, và nếu bây giờ ông bạn của chúng ta nên đi tìm nó, và tìm thấy nó, nó sẽ tỏa sáng trong vẻ huy hoàng mới, đáng yêu hơn bao giờ hết.  "Ai biết?  Có lẽ Truyện núp trong đống rơm đang bị gió xoáy nằm sát mép giếng kia chăng? Cẩn thận, cẩn thận!  Có lẽ nó được giấu trong một bông hoa ép khô trong những pho sách lớn trên giá sách của mình chăng? 

 

Để được yên lòng, ông bạn của chúng ta đã đi đến một trong những cuốn sách mới nhất và mở nó ra để tìm hiểu, nhưng không có bông hoa trong đó.  Đó là một cuốn sách nói về truyện Holger xứ Đan Mạch, và thuật lại rằng những truyện phiêu lưu của Holger chỉ là do một thầy tu người Pháp bịa ra và ghép lại với nhau, rằng đó chỉ là một câu chuyện tình lãng mạn, “được dịch và in bằng tiếng Đan Mạch”. Cái anh chàng Holger xứ Đan Mạch ấy làm gì có thật, do đó, không bao giờ có thể hiện về như chúng ta thường hát và muốn tin tưởng, thậm chí có người lại tưởng tượng mình là người ấy. Truyện Holger xứ Đan Mạch cũng giống như truyện William Tell thôi;  cả hai đều chỉ là những huyền thoại phổ biến, không có gì chúng ta có thể dựa vào.  Ở đây tất cả đã được viết ra một cách rất uyên bác.

 

“Mặc kệ, cho dù thế nào cũng được – ông bạn của chúng ta tự nhủ, -  ta sẽ tin vào niềm tin của chính mình, "Không thể có con đường mòn nếu không có bước chân người qua lại!” 

 

Vì vậy, ông gấp cuốn sách lại, đặt nó trở lại chỗ cũ trên giá, và bước đến chỗ bó hoa tươi trên bệ cửa sổ;  Có lẽ Truyện đã ẩn mình trong những bông hoa tuy líp đỏ với viền vàng, hoặc trong những bông hồng tươi, hoặc có khi trong những bông hoa trà rực rỡ sắc màu.  Nhưng chỉ có ánh nắng mặt trời lấp lánh nằm giữa những bông hoa – nhưng truyện nào đâu thấy! 

 

“Những bông hoa mọc ở đây trong những ngày khốn khó còn đẹp hơn nhiều; nhưng người ta đã lần lượt ngắt hoa đi, kết thành vòng hoa, và đặt trên chiếc linh cữu với lá cờ được phủ trên chúng.  Có lẽ Truyện cũng được chôn theo những đoá hoa ấy chăng? Nhưng nếu vậy, ắt hẳn hoa, linh cữu và đất đều phải biết rõ về nó. và từng ngọn cỏ nhỏ mới mọc lên ắt hẳn cũng đã kể lại về nó rồi.  Câu chuyện cổ tích không bao giờ chết!

 

“Có thể trong những ngày đau khổ , Truyện đã đến gõ cửa nhà ta chăng? Nhưng lúc ấy thì ai còn tâm địa đâu mà nghe kể chuyện nữa, ai ở vào thời điểm đó lại để tai cho nó hoặc đã nghĩ đến nó?  Mọi tấm lòng còn đang u uất , rã rời và hầu như khó chịu khi nghe tiếng chim muông ríu rít hót, khi nhìn vào cảnh vật xanh tươi vui cùng với mùa xuân. Lúc ấy ánh nắng mùa xuân, tiếng chim hót, và toàn bộ cây xanh tươi vui;  vâng, và lưỡi của họ thậm chí sẽ không lặp lại những bài hát dân ca vui vẻ cũ, và họ đã được đặt trong quan tài cùng với rất nhiều thứ khác mà trái tim chúng ta trân trọng. Phải, có lẽ lúc ấy Truyện đã đến gõ cửa nhà ta nhưng ta không nghe thấy, không niềm nỡ đón chào nên Truyện có thể đã bỏ đi mất.

“Ta sẽ ra ngoài và tìm kiếm nó! Dù Truyện ở nơi thôn dã, trong rừng rậm hoặc ngay cả trên những bãi cát bên bờ đại dương”.

 

Ở ngoài xa kia, sừng sững một lâu đài cổ, với những bức tường đỏ, đầu hồi nhọn và trên đỉnh tháp phấp phới một lá cờ.  Chim sơn ca hót dưới những chiếc lá sồi tua trong khi nó nhìn những cây táo đang nở hoa trong vườn và cứ tưởng chúng là những cây hoa hồng. Chính nơi đây, dưới ánh nắng hè, đàn ong làm việc không ngừng, bay lượn quanh ong chúa của chúng với tiếng hót vo ve. Chính nơi đây, cơn bão mùa thu kể nhiều về cuộc rượt đuổi hoang dã, về những chiếc lá rơi, và về những thế hệ đàn ông đã qua đời.  Vào dịp lễ Giáng sinh, những con thiên nga hoang dã ca hát trên mặt nước, trong khi bên trong toà lâu đài cổ kính, những vị khách ngồi bên đống lửa reo vui,  nghe ca hát và nghe kể về những truyền thuyết cổ xưa.

 

Đi xuống khu vườn cổ kính, nơi đại lộ với những cây dẻ già mời gọi, người tìm Truyện đang rảo bước trên con đường rợp bóng cây dẻ gai, dừng lại dưới bóng râm của chúng. Chính nơi đây, một hôm gió đã từng kể chuyện  “Valdemar Daae và những nàng Con gái của  người”, tại đây Nữ thần rừng -  thân mẫu của Truyện - biến hình thành nữ mộc tinh, đã kể cho ông ta nghe truyện “Giấc Mơ cuối cùng của Cây Sồi già”.  

Vào thời bà nội chúng ta, nơi ấy có những hàng rào được cắt tỉa và nhiều lùm cây; nhưng giờ đây chỉ còn rặt những cây dương xỉ và cây tầm ma, leo lên những mảnh vỡ vụn của những pho tượng cũ được điêu khắc trên đá;  rêu mọc ngay trong mắt tượng, nhưng chúng vẫn có thể được nhìn thấy rõ ràng, điều mà người đi tìm Truyện chẳng sung sướng bằng những pho tượng, vì ông ta tìm mà không thấy truyện đâu cả. Vậy Truyện có thể ở đâu?

Hàng trăm con quạ khoang bay qua trên đầu ông và những cây cổ thụ, kêu lên, "Còn xa!  Còn xa! ”

 

Sau đó, ông rời khỏi khu vườn và băng qua thành lũy bao quanh toà lâu đài, đi vào khu rừng cây tống quán sủi. Nơi đây sừng sững một ngôi nhà nhỏ sáu mặt, với một sân nuôi gia cầm và một sân nuôi vịt.  Ở giữa phòng khách trong nhà, bà lão chủ nhà ngồi giữa lều, bà quản lý mọi thứ, bà nhớ không sai mảy may tất cả số trứng và số gà con từ khi chúng mới nở, khi nào mỗi con gà sẽ chui ra khỏi quả trứng của nó. Nhưng cụ không phải là kho Truyện mà ông bạn chúng ta đang tìm kiếm;  bà cụ chỉ có thể cho ta xem những giấy chứng nhận rửa tội và chứng nhận tiêm chủng của Cơ đốc giáo mà bà cất trong một hộp lớn.

 

Bên ngoài, cách ngôi nhà không xa, có một ngọn đồi phủ đầy cây mận gai đỏ và cây đậu chổi;  ở đây có một bia mộ cũ, được đưa đến đây nhiều năm trước từ nghĩa trang nhà thờ của thị trấn gần đó để tưởng nhớ một trong những thị trưởng được vinh danh nhất của thị trấn.  Được khắc trên đá, vợ và năm cô con gái của ông, tất cả đều khoanh tay và cổ áo xếp nếp cứng đờ, đứng quanh ông.  Nếu bạn nhìn chúng trong một thời gian dài, nó sẽ ảnh hưởng đến suy nghĩ của bạn, từ đó nó sẽ phản ứng lại trên đá, khiến nó dường như gợi nhớ về thời xa xưa.  Ít nhất thì đó cũng là cách mà nó đã từng xảy ra với ông bạn chúng ta, người đang tìm kiếm Truyện cổ tích.

 

Khi đến gần, ông nhìn thấy một con bướm sống đậu ngay trên trán ông thị trưởng được điêu khắc. Bướm tung cánh bay lượn đi một chút, rồi quay lại đậu sát bên bia mộ, như để kêu gọi sự chú ý đến những gì đang mọc ở đó. Đó là một khóm cỏ ba lá, một chạc có bốn lá, bảy chiếc tất cả, mọc liền nhau.  Khi vận may đến, nó cũng đến theo từng chùm.  Ông bạn của chúng ta nhổ tất cả cỏ ba lá cho vào túi, cho đó là một điềm lành, và nghĩ thầm: “Sự may mắn thường lại tiếp vận may.” Hạnh phúc cũng quý đấy, nhưng một truyện hay độc đáo đối với chúng ta đáng quý hơn nhiều”. Nhưng ông ta không thể tìm đâu ra Truyện cả.

 

Mặt trời lặn, to và đỏ rực, và hơi khói bốc lên từ đồng cỏ. Người phụ nữ đầm lầy đang ủ rượu.

 

Tối hôm đó, ông bạn của chúng ta đứng một mình trong phòng, nhìn ra vườn hoa, qua đồng cỏ trước mặt và xa tí nữa là đầm lầy, đồng hoang và bãi biển. Trăng sáng vằng vặc. Hơi khỏi toả lên, sương mù trên đồng cỏ khiến nó trông giống như một hồ nước lớn; thực sự, theo truyền thuyết cho chúng ta biết nó từng là một hồ nước lớn, và dưới ánh trăng, con mắt có thể hiểu được những huyền thoại này.

 

Ông bạn của chúng ta nghĩ đến cuốn sách đã từng đọc, sách nói rằng Holger xứ Đan Mạch và William Tell chưa bao giờ thực sự sống; nhưng họ vẫn sống trong niềm tin của người dân, giống như hồ nước ngoài kia, bằng chứng sống động của huyền thoại.  

“Vâng, thế thì có ngày Holger xứ Đan Mạch cũng sẽ hiện về một lần nữa!

 

Khi ông đang đứng suy nghĩ, một thứ gì đó đập mạnh vào cửa sổ.  Đó là một con chim, một con cú hay một con dơi?  Nếu chúng có bay chạm vào cửa cũng chẳng ai mở làm gì. Nhưng cửa sổ bỗng mở toang ra, và một bà lão hiện ra, nhìn ông chằm chằm.

"Chuyện này là thế nào?" ông ấy tự nhủ.  "Bà muốn gì?  Bà là ai?  Tại sao, bà ấy đang nhìn vào cửa sổ tầng hai! Bà ấy đang đứng trên một cái thang? ”

 

"Nhà ngươi có một chùm cỏ ba lá, mỗi chạc có bốn lá, ở trong túi của ngươi phải không?”  bà ấy trả lời.  "Hay đúng hơn là ngươi có tất cả bảy lá, trong đó có một chẽ có sáu lá."

 

"Bà là ai?"   ông bạn của chúng ta hỏi.

 

“Ta là phù thuỷ đầm lầy,” bà ấy nói, “người chuyên nghề bứt cỏ nấu rượu bia.  Ta đang bận rộn với công việc sản xuất bia thì một tên giúp việc đã nghịch ngợm tháo nút dưới đáy thùng và vứt nó qua đây, nơi nó va vào cửa sổ của ngươi.  Bây giờ bia sắp chảy cạn thùng và không ai có thể kiếm tiền theo cách đó! ”

 

“Hãy nói cho tôi biết …” - ông bạn của chúng ta nói.

 

 “Có, nhưng chờ một chút,” người phụ nữ đầm lầy nói.  "Tôi có chút việc phải làm ngay bây giờ."  Nói rồi mụ ấy biến mất.

 

Nhưng khi ông bạn của chúng ta chuẩn bị đóng cửa sổ lại, thì mụ lại hiện lên, đứng trước mặt ông ta.

“Bây giờ nó đã được khắc phục, " mụ ấy nói," nhưng ngày mai, nếu thời tiết tốt, ta sẽ phải nấu lại một nửa số bia. Thế nào? nhà ngươi muốn biết điều gì?  Ta trở lại, vì ta luôn giữ lời, ngoài ra, vì trong túi ngươi có bảy nhánh chẽ ba, mỗi chạc bốn lá, trong đó có một chạc sáu lá; mà đòi hỏi sự tôn trọng, vì loại đó mọc bên vệ đường, và không nhiều người tìm thấy chúng. Ngươi muốn hỏi ta điều gì?  Đừng đứng đực mặt ra như thế, ta sẽ bỏ về với thùng rượu của ta đấy!”

 

Sau đó, ông bạn của chúng ta hỏi bà về câu chuyện cổ tích, và liệu bà có gặp Truyện trong cuộc hành trình của nó không.  "Vì tình yêu với thùng ủ bia lớn của ta!"  Người phụ nữ nói.  “Ngươi chưa kể đủ chuyện cổ tích sao?  Ta chắc chắn rằng hầu hết mọi người đã no chúng rồi. Thời bấy giờ có rất nhiều việc khác để làm và để quan tâm.  Ngay cả trẻ con cũng chán ngấy truyện đời xưa tận cổ rồi! Đưa cho các cậu bé một điếu xì gà, và cho các cô bé mặc một chiếc váy mới;  chúng sẽ thích hơn nhiều. Ngồi mà nghe kể chuyện cổ tích!  Không, đủ rồi. Thực ra, chắc chắn còn có những việc khác phải tham gia, những việc quan trọng hơn phải làm! ”

 

"Ý bà là thế nào?" ông bạn của chúng ta hỏi.  “Bà biết gì về thế giới?   Bà chỉ chuyên sống với cóc nhái và ma trơi thì còn biết cái gì khác ở đời này kia chứ? 

 

“Hãy cẩn thận với những điều sắp xảy ra!”  Mụ phù thuỷ đáp. “Hãy cẩn thận với tụi ma trơi. Ta thả chúng ra rồi đấy, chúng đang ở ngoài - chúng đang ở trong tình trạng tự do phóng túng!  Chúng ta còn phải nói với nhau rất nhiều về chúng đấy. Nhưng ngươi hãy đến với ta tại đầm lầy, vì ta phải đến đó ngay bây giờ. Về đến đó ta sẽ kể cho ngươi nghe tất cả. Nhưng ngươi phải nhanh lên, nhanh lên một tí, trong khi bảy chiếc lá chẽ ba của ngươi, một trong số chúng có sáu lá, vẫn còn tươi và mặt trăng vẫn còn trên cao! ”

 

Nói rồi, mụ phù thuỷ đầm lầy biến mất.

 

Đồng hồ thị trấn điểm mười hai giờ, và trước khi tiếng chuông cuối cùng, ông bạn của chúng ta đã ra khỏi sân, băng qua khu vườn và đứng trên đồng cỏ.  Màn sương đã tan đi vì người phụ nữ đầm lầy đã nấu xong rượu. "Ngươi đã mất thời gian khá lâu để đến đây!"  Người phụ nữ đầm lầy nói.  “Thế mới biết phù thủy di chuyển nhanh hơn người thường rất nhiều. Ta rất vui vì ta là một phù thủy”.

“Mụ định nói gì với ta bây giờ?"  ông bạn của chúng ta hỏi.  "Có định nói về Truyện không đấy?"

 

"Đó là tất cả những gì ngươi có thể hỏi?"  Người phụ nữ đầm lầy nói.

 

"Thế mụ hãy nói về tương lai của thơ ca cho ta nghe được không?” 

Người phụ nữ đầm lầy nói: “Đừng mất kiên nhẫn, ta sẽ trả lời. Ngươi chỉ chăm chăm hỏi ta về Thơ và Truyện. Ngươi hỏi về câu chuyện cổ tích như thể nó là cô chủ của tất cả mọi thứ. Đúng vậy, cô ấy là người lớn tuổi nhất, nhưng cô luôn truyền lại cho những người trẻ tuổi nhất;  Ta biết cô ấy rất rõ. Hồi còn trẻ và đó không phải là bệnh của trẻ em!  Hồi còn nhỏ ta đã là một tiên nữ bé nhỏ xinh đẹp, thường vẫn khiêu vũ với các tiên nữ tí hon khác dưới ánh trăng. Bọn chúng ta thường lắng nghe hoạ mi hót và dạo chơi trong rừng, và gặp tiên nữ ở đó, nơi Truyện luôn chạy tới.  Khi thì Truyện dành cả đêm trong một bông hoa tulip hé mở, hoặc trong một bông hoa ngoài đồng cỏ, lúc thì Truyện lẻn nhà thờ và quấn mình trong chiếc khăn tang treo trên những ngọn nến trên bàn thờ”.

 

“Mụ dường như biết tất cả về nó,” ông bạn của chúng ta nói.

 

Người phụ nữ đầm lầy nói: “Về điểm này ta cũng biết nhiều như ngươi…“Truyện và Thơ - vâng, chúng giống như hai mảnh ghép của cùng một chất liệu. Đặt chúng vào chỗ nào mà chẳng được, chúng có thể đi và nằm ở nơi chúng muốn.  Người ta có thể tổng hợp tất cả các cuộc nói chuyện của chúng và làm cho nó tốt hơn và rẻ hơn.  Ta sẽ cho không ngươi một ít. Ta có cả một tủ đầy thơ đóng thành chai, những tinh hoa, những thứ tốt nhất của thơ đấy - cả những loại thảo mộc, dịu ngọt cũng có, cay đắng cũng có. Trong các chai của ta có đủ những gì mà mọi người đòi hỏi ở thơ ca, chỉ cần vào những ngày nghỉ, rảy một ít vào khăn tay để ngửi ”.

 

“Tại sao, đây là những điều tuyệt vời mà bà đang nói với ta!”  ông bạn của chúng ta cho biết.  "Mụ thực sự có thơ trong chai thật ư?"

“Nhiều hơn những gì ngươi có thể mong đợi,” Người phụ nữ đầm lầy nói. “Ta cho rằng ngươi đã biết câu chuyện về" Cô gái giẫm lên ổ bánh mì mà đi để giày khỏi bẩn?" Truyện đó cũng đã được viết ra và được xuất bản ”.

“Chính ta đã kể truyện đó,”  ông bạn của chúng ta nói.

 

“Vâng, ắt hẳn ngươi đã biết rằng con bé ấy đã chìm ngay xuống lòng đất, đến với Người phụ nữ đầm lầy, đúng vào hôm bà ngoại Quỷ sứ đến thăm ta trong chuyến thăm để kiểm tra nhà máy bia. Mụ ngoại nhìn thấy con bé, bèn xin ta mang về làm kỷ niệm cho chuyến thăm ấy, và mụ bà ấy có được con bé và mụ đã biếu lại ta một món quà mà đối với ta chẳng có ích lợi gì. Một chiếc rương lớn, đựng toàn thơ đóng chai. Mụ bà khuyên ta nên đặt chiếc rương ở chỗ nào. Vẫn còn đủ cả đấy. Bây giờ ngươi vào mà xem. Hãy nhìn vào đây!  Ngươi có bảy cây cỏ bốn lá trong túi, một trong số đó có sáu lá, vì vậy ngươi sẽ có thể nhìn thấy những chai ấy! ”

 

Chắc chắn rồi, ông bạn của chúng ta trông thấy một thứ giống như một khối cây tống quán sủi lớn có xương xẩu, và đó là chiếc rương của bà ngoại Quỷ Sứ ở giữa đầm lầy. Mụ ấy giải thích rằng mụ và tất cả những người biết nơi để rương, bất kể người đó ở thời đại nào và thuộc dân tộc nào, đều có thể mở rương ấy ra. Nó có thể được mở ở phía trước hoặc ở phía sau và ở tứ phía. Đây là một tác phẩm nghệ thuật thực sự và dường như chỉ là một gốc cây tống quán sủi.  Các nhà thơ của tất cả các quốc gia, và đặc biệt là của đất nước chúng ta, đã được giới thiệu trong đó; sáng tác của họ đã được tinh chế, sửa chữa, cô đọng lại và đóng vào chai.  Với tài năng tuyệt vời – nếu không gọi là thiên tài – bà ngoại Quỷ Sứ đã thu góp từ trong thiên nhiên tất cả những gì hợp với phong cách của một thi sĩ, lấy một ít của nhà thơ này và một ít của nhà thơ khác, rồi thêm vào đó một ít tinh chất của ma quỷ, và thế là được chất thơ của tất cả các thi sĩ, đóng vào chai để dùng mãi về sau. 

 

“Làm ơn để tôi xem nào!” ông bạn của chúng ta nói.

 

Người phụ nữ đầm lầy nói: “Được rồi, nhưng có nhiều điều quan trọng hơn cần phải lắng nghe”.

 

“Nhưng chúng tôi đang ở ngay đây, tại chiếc rương này,”  ông bạn của chúng ta nói, khi nhìn vào bên trong nó.  “Thật là đủ các cỡ chai. Chai này đựng gì, chai kia đựng gì? ”

 

“Đây là những gì họ gọi là Sương tháng Năm,” Người phụ nữ đầm lầy đáp.  “Bản thân ta chưa thử, nhưng ta biết rằng nếu ai nhỏ một giọt xuống sàn, liền thấy thấy trước mắt mình là một cái hồ xinh xắn với hoa súng, hoa cói và bạc hà dại bao quanh.

Nếu có ai nhỏ hai giọt lên một cuốn vở của một cậu học sinh bình thường, thậm chí một giọt từ lớp thấp nhất trong trường, quyển vở sẽ biến ngay thành một vở hài kịch hoàn chỉnh, thơm ngát đến nỗi chỉ ngửi thôi cũng đủ lịm đi rồi, mùi của nó rất nồng. Ta rất vinh dự vì họ đã nêu danh ta vào nhãn chai là “Rượu Bia của bà Phù Thuỷ Đầm Lầy”. Ngươi có thấy không?

 

“Đây là chai chứa những vụ bê bối.  Nó trông như thể chỉ có nước bẩn trong đó, và tất nhiên, đó là nước bẩn, nhưng với bột sủi tăm, ba lạng dối trá, và hai hạt sự thật, được khuấy bằng một cành bạch dương, không phải lấy từ một thân cây ngâm muối và được sử dụng trên lưng đang chảy máu của những người có tội, cũng không phải một mảnh vụn từ sự chuyển đổi đột ngột của hiệu trưởng - không, nhưng được lấy ngay từ cây chổi đã được sử dụng để quét rãnh nước.

 

“Đây là cái chai với bài thơ sùng đạo được phổ nhạc thành bản thánh ca. Mỗi giọt đều có âm thanh như tiếng đánh sầm của cánh cổng địa ngục, và được tạo ra từ máu và mồ hôi của sự trừng phạt.  Một số người nói rằng đó chỉ là mật của một con chim bồ câu; nhưng bồ câu là loài vật hiền lành nhất; chúng không có mật, những người không biết lịch sử tự nhiên của chúng nói”

 

“Đây là cái chai to tướng trong tất cả các chai; nó đã chiếm đến nửa rương  Đó là cái chai có ghi "Những câu chuyện về cuộc sống hàng ngày" và nó được bao phủ bởi cả da heo lẫn bong bóng heo để nó không bị hả hơi. Tất cả các món ăn quốc hồn quốc tuý của mỗi quốc gia đều có ở trong đó. Điều gì xảy ra sẽ phụ thuộc vào cách bạn dốc ngược chai và súc súc chai là người Đức sẽ thấy trong ấy món nước xốt triết học của mình.  Đây là món súp máu Đức cũ với bánh bao của tên cướp, và cũng có món súp nông dân loãng, với những quan chức triều đình chính hiệu, những người xếp như rau ở phía dưới, trong khi đôi mắt triết lý mập mạp nổi lên ở phía trên.  Có món súp của người Anh, và món lẩu hổ lốn kiểu Pháp, được làm từ chân gà và trứng chim sẻ, và người Đan Mạch chúng ta gọi là "súp căng-căng”.  Nhưng ngon nhất trong tất cả các món súp là súp của kinh thành Copenhagen; cả nhà đều nói vậy ”.

 

Đây là "Bi kịch", trong một chai sâm panh;  nó có thể tạo ra tiếng ồn ào, và đó là điều nên làm.  "Hài kịch" trông giống như cát mịn để ném vào mắt mọi người – tức là kịch hài càng tinh tế thì ý nghĩa càng rộng lớn hơn cũng được đóng chai, nhưng chỉ bao gồm các vở kịch thuộc chương trình biểu diễn trong tương lai;  có một số tựa hài kịch xuất sắc, chẳng hạn như Mày Dám Nhổ Nước Bọt vào Thể Chế ? Ta Nơi Ngõ Hẹp, Gã Ngốc Dịu Dàng, và Nàng Say Bí Tỉ !

 

Trong khi ông bạn của chúng ta hoàn toàn chìm đắm trong dòng suy nghĩ của mình, Mụ Phù thuỷ đầm lầy đã nghĩ trước; mụ muốn chấm dứt chuyện này.

 

“Đến giờ chắc ngươi đã xem và biết cái rương của ta đựng gì rồi,” mụ nói. Nhưng ta muốn báo cho ngươi một tin quan trọng mà ngươi chưa hề biết: “Trong thành có Ma trơi!” Điều đó quan trọng hơn nhiều so với thơ ca hay truyện cổ tích. Đáng lẽ ta nên giữ miệng về điều đó, nhưng có một sức mạnh thần bí thúc đẩy ta, có vẻ như một sự ép buộc - một động lực - điều gì đó đã ập đến với ta, nó mắc kẹt trong cổ họng ta và muốn bật ra:  Trong thành có Ma trơi!!  Chúng được thả ra rồi đấy. Loài người phải coi chừng”.  

“Sao? Ta chẳng hiểu bà nói gì cả,” ông bạn của chúng ta nói.

“Hãy ngồi lên chiếc rương một lát,” mụ ấy nói, “nhưng hãy cẩn thận chớ có làm xẹp rương và làm vỡ các chai – hẳn là ngươi đã biết bên trong chúng có gì!  Ta sẽ kể cho ngươi nghe về sự kiện trọng đại. Nó chỉ xảy ra ngày hôm qua; thế nhưng nó đã từng xảy ra trước đây. Và bây giờ nó còn ba trăm sáu mươi tư ngày nữa. Ta cho rằng ngươi biết có bao nhiêu ngày trong một năm? ”

 

Và đây là câu chuyện của Người phụ nữ đầm lầy:

 

“Có rất nhiều sự phấn khích ngày hôm qua ở đây trong đầm lầy!  Có một bữa tiệc làm lễ rửa tội! Ngươi thử tưởng tượng xem có mười hai con Ma Trơi đã được sinh ra ở đây; công khai, mười hai trong số chúng được sinh ra cùng một lúc. Và chúng thuộc loại có quyền biến hình thành người, hành động và liên kết với nhau như người thật vậy, chúng đi ra ngoài giữa những con người, nếu chúng muốn. Đó là một sự kiện tuyệt vời ở đầm lầy, và vì lý do đó mà tất cả ma trơi đực và ma trơi cái sẽ nhảy múa trên đầm lầy và đồng cỏ như những ngọn đèn nhỏ.  Một số trong số chúng thuộc loài chó, nhưng đấy không phải là chuyện đáng để nói đến.

“Khi ấy ta cũng ngồi trên chiếc rương như ngươi bây giờ, đang ẵm mười hai ma trơi mới nở vào lòng. Chúng lấp lánh như những con đom đóm; chúng đã bắt đầu nhảy lò cò, và chúng lớn dần lên sau mỗi phút, và chưa đầy mười lăm phút sau, mỗi trong số chúng lớn bằng bố hoặc chú của chúng.  Giờ ta phải cho ngươi biết rằng, theo lệ trong giang sơn ta, những đứa ma trơi nào sinh ra trong ngày trăng tròn đứng đúng vị trí của nó hôm qua, và có gió thổi đúng như cách nó thổi hôm qua, đều được phép biến thành người và sống như người thật, và mỗi người trong số chúng thực hiện quyền lực của mình trong cả năm.

 

“Ma trơi có thể đi khắp đất nước, hoặc bất cứ nơi nào trên thế giới, miễn là không sợ rơi xuống biển hoặc bị bão táp vùi dập. Ma trơi còn có thể nhập vào linh hồn con người, bắt người đó phải nói và thực hiện bất kỳ hành động nào nó muốn. Ma trơi có thể ở bất kỳ hình thức nào chúng thích, chúng có quyền nhập vào đàn ông hay đàn bà và hành động theo tinh thần của chúng, nhưng trong một năm chúng phải làm hư hỏng cho được ba trăm sáu mươi lăm người, và cũng phải theo phong cách vĩ đại; chúng phải khiến họ rời xa chân lý và đạo đức. Con nào thành công sẽ được nhận phần thưởng cao quý nhất của loài ma trơi, được chạy trước xe của Quỷ sứ, được mặc một bộ đồng phục màu vàng rực lửa và thở ra những ngọn lửa từ miệng.  

Điều đó đủ để khiến một con ma trơi đơn thuần liếm môi trong sự khao khát.  Nhưng cũng có nguy hiểm và rất nhiều công việc đối với một ma trơi đầy tham vọng muốn đạt đến tầm cao đó.  Nếu mắt của người đó được mở ra và nhận ra điều gì đang xảy ra và có thể thổi vào nó thì ma trơi rơi trở lại đầm lầy. Hơn nữa,  nếu, trước khi một năm kết thúc, ma trơi nhớ về tổ ấm và gia đình quá, muốn về thăm, không làm tròn nhiệm vụ thì nó không còn lập loè nữa, và sẽ sớm tắt và không thể sáng lại.  Và nếu, vào cuối năm, nó đã không khiến ba trăm sáu mươi lăm người xa rời sự thật và tất cả những gì tốt đẹp và cao cả thì sẽ bị kết án và giam trong một gốc cây mục nát, nó vẫn còn sáng nhưng không thể di chuyển được nữa.  Đó là hình phạt kinh khủng nhất đối với một con ma trơi. 

 

“Ta đã biết tất cả về điều này, và đã kể tất cả cho mười hai đứa ma trơi mới ra đời lúc ta ẵm chúng trên tay, và chúng rất vui mừng. Ta đã cảnh báo chúng rằng cách an toàn và dễ dàng nhất là từ bỏ danh vọng và đừng nên làm người!”

Nhưng không, những con ma trơi nhỏ đó không chịu lắng nghe, chúng đã mơ tưởng đến việc được mặc quần áo vàng rực lửa, thở ra ngọn lửa từ miệng.

Một số ma trơi lớn tuổi bảo chúng: “Hãy ở lại đây với chúng ta!”. Một số khác lại nói: “Cứ đi mà hại lũ người. Họ chẳng đã tát cạn và vét sạch đầm lầy của chúng ta đó sao?”

“Vâng, họ đang rút cạn đồng cỏ của chúng ta và làm khô chúng! Rồi số phận con cháu của chúng ta sẽ thế nào đây? "

“Chúng tôi muốn đốt sạch họ bằng ngọn lửa!” Lũ Ma trơi trẻ reo lên. và thế là chúng quyết định ra đi.

 

“Sau đó,  các quả bóng nhỏ xíu bắt đầu, không thể ngắn hơn được nữa.  Các thiếu nữ yêu tinh quay cuồng ba lần với tất cả những người khác, để không tỏ ra tự hào, nhưng chúng luôn thích khiêu vũ với nhau.  Sau đó, những món quà của cha mẹ đỡ đầu đã được trao - nó được gọi là "ném đá cuội".  Những viên đá cuội được ném trên mặt nước đầm lầy.  Mỗi thiếu nữ đều được trao một tấm mạng che mặt nhỏ của mình.

 

 “Hãy nắm lấy điều đó, ”họ nói,“ và các bạn sẽ có thể thực hiện những bước nhảy cao nhất, những lần xoay và vặn người khó nhất - nghĩa là, nếu bạn cần.  Bạn sẽ có cách cư xử tốt nhất, vì vậy bạn có thể thể hiện mình ở vị trí cao nhất của xã hội. "

 

 “Con quạ đêm đã dạy những đứa ma trơi trẻ nói “Ca a n can đảm lên!”  Và nói điều đó vào đúng thời điểm;  và đó là một món quà tuyệt vời mang lại phần thưởng cho chính nó.

 

“Con cú và con cò cũng thả quà của chúng xuống.  Nhưng họ nói rằng những điều này không đáng đề cập đến và vì vậy chúng tôi sẽ không nói về nó.

Cuộc săn lùng hoang dã của Vua Valdemar vừa lúc đó đang gấp rút băng qua đầm lầy, và khi các quý tộc nghe về lễ kỷ niệm, họ đã gửi đến làm quà một đôi chó đẹp  có thể săn bằng tốc độ gió và mang theo một con ma trơi, hoặc ba, trên lưng của chúng.  Một vài mụ phù thủy già, những người kiếm sống bằng cách cưỡi trên cán chổi, đã có mặt tại bữa tiệc, và họ dạy những ma trơi trẻ sẽ biết cách chui qua bất kỳ lỗ khóa nào như thể cánh cửa đã mở cho chúng.  Những phù thủy này đề nghị mang những ma trơi trẻ đến thị trấn, mà họ biết khá rõ.  Họ thường cưỡi trên không trung với mái tóc ở lưng buộc chặt thành một nút, vì họ thích một chỗ ngồi cứng.  Nhưng bây giờ họ ngồi trên những con chó săn và ôm vào lòng những đứa ma trơi trẻ, những người sẵn sàng đi vào thị trấn để bắt đầu gây hiểu lầm và hoang mang cho loài người.  Vù!  và họ đã biến mất!

 

“Đó là những gì đã xảy ra đêm qua.  Hôm nay những ma trơi trẻ đã có mặt tại thị trấn và bắt đầu hoạt động - nhưng bằng cách nào và ở đâu?  Mụ có thể cho ta biết điều đó được không?  Tuy nhiên, ta vẫn có một sợi dây điện báo ở ngón chân cái, và điều đó luôn cho ta biết điều gì đó. ”

 

“Đó là toàn bộ câu chuyện cổ tích!” ông bạn của chúng ta cho biết.

 

Người phụ nữ đầm lầy nói: “Sao! nó mới chỉ là phần khởi đầu”.  “Ngươi có thể kể cho ta biết những ma trơi sẽ tự hành xử như thế nào và những gì chúng đang làm, hình dạng mà chúng xuất hiện và dẫn mọi người đi lạc đường không?”

 

“Ta tin rằng,” ông bạn của chúng ta nói, “ ta có thể viết cả một quyển tiểu thuyết về ma trơi, gồm mười hai chương; hoặc hơn nữa, có thể viết thành một bộ hài kịch hoàn chỉnh về chúng".

 

"Thế thì cứ viết đi," Người phụ nữ đầm lầy nói.  "Hay thôi, có lẽ đừng viết thì hơn”.

 

“Phải, ta cũng thấy đừng viết có lẽ tốt hơn.  “Vậy thì chúng ta sẽ không bị các tờ báo chỉ trích, điều đó cũng tệ chẳng kém gì ma trơi bị giam vào gỗ mục, chỉ có thể tỏa sáng lập loè và sợ hãi mà không nói năng hay cử động được”

 

Mụ phù thuỷ nói: “Đối với ta, ngươi làm gì không quan trọng.  “Hãy để những người khác viết, nếu họ có thể, hoặc ngay cả khi họ không thể. Ta sẽ cung cấp cho nhà ngươi một chai Thơ ca từ rương của ta;  Điều đó sẽ mở ra cái rương, nơi ta giữ thơ trong chai, và ngươi có thể lấy bất cứ thứ gì ngươi muốn.  Nhưng nhà ngươi, người đàn ông tốt của ta, ta thấy dường như các ngón tay ngươi đã khá nhem nhuốc những mực rồi đấy, và ở độ tuổi này và sự ổn định mà ngươi đã đạt được, không cần phải chạy khắp nơi hàng năm để kiếm tìm những câu chuyện cổ tích, đặc biệt là vì nó còn có nhiều việc quan trọng hơn cần làm. Nhà ngươi đã hiểu chuyện ta vừa kể chưa?”

 

Ông bạn của chúng ta cho biết: “Trong thành đã có ma trơi, phải, ta đã nghe và ta đã hiểu. Nhưng ngươi nghĩ ta phải làm gì với chúng bây giờ?  Ta sẽ bị nhốt nếu ta đến gặp mọi người và nói, "Nhìn này!  Có một con ma trơi trong bộ quần áo trung thực!”

 

"Đôi khi  chúng mặc váy!"  Người phụ nữ đầm lầy nói.  “Ma trơi có thể ở dưới bất kỳ hình thức nào và xuất hiện ở bất cứ đâu.  Chúng lẻn vào nhà thờ, không phải vì Chúa của chúng ta, nhưng có lẽ để chúng có thể làm cho mục sư lúc ấy cũng chẳng nghĩ gì đến giáo dân nữa, mà chỉ nghĩ đến bản thân mình thôi.  Chúng vận động vào ngày bầu cử, không phải vì lợi ích của tiểu bang hay đất nước, mà chỉ vì chính chúng.  Đó là một nghệ sĩ với hộp màu sơn, và trong rạp hát, nhưng khi chúng có đủ năng lực, thì chiếc hộp màu sẽ trống rỗng!  Tôi tiếp tục, nói chuyện phiếm, nhưng những gì đang vướng mắc trong cổ họng tôi phải bật ra, ngay cả khi nó làm tổn thương chính gia đình tôi.  Nhưng bây giờ tôi phải là người phụ nữ để cứu rất nhiều người.  Nhưng, thành thật mà nói, tôi không làm điều đó với mục đích tốt hay vì lợi ích của bất kỳ huy chương nào.  Tôi làm điều điên rồ nhất mà tôi có thể làm được. Tôi nói với một nhà thơ về nó, và mọi người trong thị trấn sẽ sớm biết về nó. "

 

Ông bạn của chúng ta nói: “Thị trấn sẽ không để tâm đến điều đó. “Nó sẽ không làm phiền một người nào.  Tất cả họ sẽ nghĩ rằng tôi chỉ đang kể cho họ nghe một câu chuyện hoang đường, mặc dầu tôi có hết sức nghiêm chỉnh báo cho họ biết rằng: “Trong thành có Ma Trơi đấy, Mụ phù thuỷ đầm lầy bảo với tôi thế!  Tất cả hãy coi chừng!”.

 

                                          Phan Thiện Trì dịch

                                                  June, 2022

 

THE WILL-O’-THE-WISPS ARE IN TOWN

 

                                             fairy tale by Hans Christian Andersen

                                              

There was a man who once had known a great many new fairy tales, but he had forgotten them, he said. The fairy tale that used to come to visit him of its own accord no longer came and knocked at his door; and why didn’t it come any more? It’s true that for a year and a day the man hadn’t thought of it, hadn’t really expected it to come and knock; and it certainly wouldn’t have come anyway, for outside there was war and, inside, the misery and sorrow that war brings with it.

 

The stork and the swallow returned from their long journey, for they had no thought of danger. But when they arrived they found the nests burned, people’s houses burned, the fences smashed, yes, and some even completely gone, and horses of the enemy were trampling down the old grave mounds. Those were hard, cruel times; but they always come to and end.

 

And now those times were past, people said; but still no fairy tale came to knock at the door or gave any sign of its presence.

 

“It may well be dead and gone, like so many other things,” said the man. But then the fairy tale never dies!

 

More than a year passed, and he longed so for the fairy tale.

 

“I wonder if it will ever come back and knock again.” And he remembered so vividly all the various forms in which it had come to him – sometimes as young and charming as spring itself, as a beautiful maiden with a thyme wreath in her hair and a beechen branch in her hand, her eyes shining as clear as the deep woodland lakes in the bright sunshine; and sometimes it had come to him in the likeness of a peddler and had opened its pack and let the silver ribbons inscribed with old verses and mottoes flutter out. But it had been best of all when it had come as an old grandmother, with silvery hair and such large and kindly eyes. She knew so well the tales of the old, old times, of even long before the princesses spun with golden spindles, and the dragons, the serpents, lay outside, guarding them. She told her tales so vividly that black spots would dance before the eyes of her listeners and the floor become black with human blood; it was terrible to see and to hear, and yet very entertaining, since it had all happened so long ago.

 

“Will she ever knock at my door again?” said the man, and gazed at the door until black spots appeared before his eyes and on the floor, and he didn’t know if it was blood or mourning crape from the dark and dismal days of yore.

 

As he sat there, the thought came to him that perhaps the fairy tale had hidden itself, like the princess in the very old tale, and if he should now go in search of it, and find it, it would shine in new splendor, lovelier than ever. “Who knows? Perhaps it is hidden in the discarded straw lying near the edge of the well. Careful, careful! Perhaps it’s hidden in a faded flower, shut up in one of the big books on the shelf! ”

 

So the man went to one of the newest books and opened it to find out, but there was no flower there. It was a book about Holger Danske, and the man read how the whole story had been invented and put together by a French monk, that it was only a romance, “translated and printed in the Danish language,” and that since Holger Danske had never really lived he could never come again, as we have sung and wanted to believe. As with Holger Danske, so it was with William Tell; both were only popular legends, nothing we could depend on. Here it was all written down in a very learned manner.

 

“Yes, but I shall believe my own beliefs,” said the man. “No road grows where no foot has trod!”

 

So he closed the book, put it back on the shelf, and walked over to the fresh flowers on the window sill; perhaps the fairy tale had hidden itself in the red tulips with the golden-yellow edges, or in the fresh roses, or in the brilliantly colored camellias. But only sunshine lay among the flowers – no fairy tale.

 

“The flowers which grew here in the days of misery were much more beautiful; but one after another was cut off, woven into wreaths, and laid in coffins, with the flag placed over them. Perhaps the fairy tale was buried with them; but then the flowers would have known of it, and the coffin would have heard of it, and every little blade of grass that shot up would have told of it. The fairy tale never dies!

 

“Perhaps it was here and knocked, but who at that time had ears for it or would have thought of it? Then people looked darkly, gloomily, almost angrily, at the spring sunshine, the singing birds, and all the cheerful greenery; yes, and their tongues wouldn’t even repeat the merry old folk songs, and they were laid in the coffin with so much else that our heart cherished. The fairy tale may well have knocked but not been heard, and with no one to bid it welcome, it may have departed.

 

“I shall go out and seek it! In the country – in the woods – on the open beaches”

 

Out in the country stands an old manor house with red walls, pointed gables, and a flag waving from the tower. The nightingale sings under the fringed beech leaves while it gazes at the blooming apple trees in the garden and thinks they are rose trees. Here the bees labor busily in the summertime, hovering around their queen with humming song. Here the autumn storm tells much of the wild chase, of the falling leaves, and of the generations of men that pass away. At Christmastime the wild swans sing on the open water, while in the old manor house the guests beside the fire are happy to hear the ancient songs and legends.

 

Down into the old part of the garden, where the great avenue of old chestnut trees invites the wanderer to pause in their shade, went the man who was seeking the fairy tale. Here the wind had once told him of “Valdemar Daae and His Daughters”; here the dryad in the tree – the fairy-tale mother herself – had told him “The Old Oak Tree’s Last Dream.” In our grandmother’s time clipped hedges stood here; now there grow only ferns and stinging nettles, hiding the broken fragments of old figures sculptured in stone; moss grows in their very eyes, but still they can see as well as ever, which the man seeking the fairy tale couldn’t, for he didn’t see it. Where could it be?

 

Hundreds of crows flew over him and the old trees, crying, “Caw! Caw!”

 

Then he left the garden and crossed the rampart surrounding the manor, into the alder grove. There a little six-sided house stands, with a poultry yard and a duck yard. In the midst of the living room in the house sat the old woman who managed everything and who knew exactly when every egg would be laid and when each chicken would creep out of its egg. But she wasn’t the fairy tale the man was seeking; she could prove that with the certificates of Christian baptism and vaccination that she kept in her chest of drawers.

 

Outside, not far from the house, there is a hill covered with red thorn and broom; here lies an old gravestone, brought here many years ago from the churchyard of the near-by town in memory of one of the most honored councilmen of the neighborhood. Carved in stone, his wife and five daughters, all with folded hands and stiff ruffs, stand about him. If you looked at them for a long time it would affect your thoughts, which in turn would react on the stone, so that it would seem to tell of olden times. At least that was the way it had been with the man who was searching for the fairy tale.

 

As he approached, he noticed a living butterfly sitting right on the forehead of the sculptured councilman. The insect flapped its wings, flew a little bit away, then returned to sit close by the gravestone, as if to call attention to what was growing there. Four-leaved clovers grew there, seven in all, side by side. When good luck comes, it comes in bunches. The man plucked all the clovers and put them into his pocket. “Good luck is as good as ready cash,” thought the man, “though a new, beautiful fairy tale would be better still.” But he could find none here.

 

The sun went down, big and red, and vapor rose from the meadow; the Woman of the Marsh was at her brewing.

 

That evening the man stood alone in his room, gazing out upon the sea, over the meadow, moor, and beach. The moon shone brightly; the mist over the meadow made it look like a great lake; indeed, legend tells us it once was a lake, and in the moonlight the eye can understand these myths.

 

Then the man thought of how he had been reading that Holger Danske and William Tell never really lived; yet they do live in the faith of the people, just like the lake out there, living evidence of the myth. Yes, Holger Danske will return again!

 

As he stood thinking, something struck heavily against the window. Was it a bird, an owl or a bat? We don’t let those creatures in even when they knock. But the window burst open by itself, and an old woman looked in on the man.

 

“What is this?” he said. “What do you want? Who are you? Why, she’s looking in at the second-floor window! Is she standing on a ladder?”

 

“You have a four-leaved clover in your pocket,” she replied. “Or rather you have seven, but one of them has six leaves.”

 

“Who are you?” asked the man.

 

“The Woman of the Marsh,” she said, “the Woman of the Marsh, who brews. I was busy at my brewing. The tap was in the cask, but one of those mischievous little marsh imps pulled it out and threw it over here, where it hit your window. Now the beer’s running out of the barrel, and nobody can make money that way!”

 

“Please tell me –” said the man.

 

“Yes, but wait a little,” said the Woman of the Marsh. “I have something else to do right now.” Then she was gone.

 

But as the man was about to close the window, the Woman stood before him again.

 

“Now it’s fixed,” she said, “but I’ll have to brew half the beer over again tomorrow – that is, if it’s good weather. Well, what did you want to know? I came back, for I always keep my word, and besides, you have seven four-leaved clovers in your pocket, one of which has six leaves; that demands respect, for that type grows beside the roadside, and not many people find them. What did you want to ask me? Don’t stand there looking foolish; I have to go back to my tap and my barrel very quickly.”

 

Then the man asked her about the fairy tale, and if she had met it in her journeys. “For the love of my big brewing vat!” said the Woman. “Haven’t you told enough fairy tales? I certainly think most people have had enough of them. There are plenty of other things for you to do and take care of. Even the children have outgrown fairy tales! Give the small boys a cigar, and the little girls a new dress; they’ll like that much better. But listen to fairy tales! No, indeed, there are certainly other things to attend to, more important things to do!”

 

“What do you mean?” the man asked. “And what do you know about the world? You never see anything but frogs and will-o’-the-wisps!”

 

“Beware of the will-o’-the-wisps!” said the Woman. “They’re out- they’re on the loose! That’s what we should talk about! Come to me at the marsh, for I must go there now; there I’ll tell you about it. But you must hurry and come while your seven four-leaved clovers, one of them with six leaves, are still fresh and the moon is still high!”

 

And the Woman of the Marsh was gone.

 

The town clock struck twelve, and before the last stroke had died away the man had left the house, crossed the garden, and stood in the meadow. The mist had cleared away; the Woman of the Marsh had finished her brewing. “You took your time getting here!” said the Woman of the Marsh. “Witches move much faster than men; I’m glad I’m a witch.”

 

“What do you have to tell me now?” asked the man. “Anything about the fairy tale?”

 

“Is that all you can ever ask about?” said the Woman.

 

“Is it something about the poetry of the future that you can tell me?”

 

“Don’t become impatient, ” said the Woman, “and I’ll answer you. You now think only of poetry. You ask about the fairy tale as if she were the mistress of everything. She’s the oldest all right, but she always passes for the youngest; I know her very well. I was young once, and that’s no children’s disease! Once I was quite a pretty little elf maiden, and I danced with the others in the moonlight, listened to the nightingale, went into the forest, and met the fairy-tale maiden there, where she was always running about. Sometimes she spent the night in a halfopened tulip or in some field flower; sometimes she would slip into the church and wrap herself in the mourning crape that hung down from the altar candles.”

 

“You seem to know all about it,” said the man.

 

“I should at least know as much as you do,” said the Woman of the Marsh. “Fairy tales and poetry -yes, they’re like two pieces of the same material. They can go and lie where they wish. One can brew all their talk and goings-on and have it better and cheaper. I’ll give it to you for nothing; I have a whole cabinet full of bottles of poetry, the essences, the best of it – both sweet and bitter herbs. I have all the poetry people might want, bottled up, and on holidays I put a little on my handkerchief to smell.”

 

“Why, these are wonderful things you’re telling me!” said the man. “You actually have poetry in bottles?”

 

“More than you can stand,” said the Woman. “I suppose you know the story of ‘The Girl Who Trod on the Loaf,’ so that she would not soil her shoes. That has been written down and printed, too.”

 

“I told that one myself,” said the man.

 

“Yes, then you know it, and you know, too, that the girl sank right into the earth, to the Woman of the Marsh, just as the Devil’s grandmother was there on a visit to inspect the brewery. She saw the girl come down and asked to have her as a souvenir of her visit, and she got her, too. I received a present from her which is of no good to me – a regular traveling drugstore, a whole cabinet full of bottled poetry. The grandmother told me where to put the cabinet, and it’s still there. Now look here! You have your seven four-leaved clovers in your pocket, one of which has six leaves, so you should be able to see it!”

 

Sure enough, in the middle of the marsh was what looked like a great gnarled alder block, and that was the grandmother’s cabinet. She explained that it was open to her and to everyone else in the world at any time, if they just knew where it was. It could be opened in front or at the back and at every side and corner; it was a real work of art and yet appeared to be only an alder stump. Poets of all countries, and especially of our own land, had been reproduced here; the essence of each had been extracted, refined, criticized, distilled, and then put into bottles. With great skill – as it’s called, if one doesn’t want to call it genius – the grandmother had taken a little of this poet and a little of that, added a touch of deviltry, and then corked up the bottles for the use of future ages.

 

“Please let me see,” said the man.

 

“All right, but there are much more important things to listen to,” said the Woman of the Marsh.

 

“But we’re right here at the cabinet,” said the man, as he looked inside it. “Why, here are bottles of all sizes. What’s in this one, and what’s in that one over there?”

 

“This is what they call May dew,” said the Woman. “I haven’t tried it myself, but I know that if you spill only a little drop of it on the floor, you will see before you a lovely forest lake with water lilies, flowering rushes, and wild mint. You need pour only two drops on an old exercise book, even one from the lowest class in school, and the book becomes a complete, fragrant play that is good enough to be performed and to fall asleep over, so strong is its smell. It must be as a compliment to me that they labeled the bottle ‘The Brew of the Woman of the Marsh.’

 

“Here stands the bottle of scandal. It looks as if there is only dirty water in it, and, of course, it is dirty water, but with sparkling powder, three ounces of lies, and two grains of truth, stirred with a birch twig, not taken from a stalk pickled in salt and used on the bleeding backs of sinners, nor a piece of the schoolmaster’s switch – no, but taken right from the broom that had been used to sweep the gutter.

 

“Here stands the bottle with the pious poetry set to psalm music. Every drop has a sound like the slamming of hell’s gates and has been made from the blood and sweat of punishment. Some say it’s only the gall of a dove; but doves are the gentlest of animals; they have no gall, say people who don’t know their natural history.”

 

“Here stood the bottle of all bottles; it took up half of the cabinet. It was the bottle with ‘Stories of Everyday Life,’ and it was covered with both hogskin and bladder so that it couldn’t lose any of its strength. Every nation could get its own soup here; what would come forth would depend upon how you’d turn and tip the bottle. Here was an old German blood soup with robber dumplings, and there was also thin peasant soup, with genuine court officials, who lay like vegetables on the bottom, while fat, philosophical eyes floated on the top. There was English-governess soup, and French potage à la coq, made from chicken legs and sparrow eggs and, in Danish, called ‘cancan soup.’ But the best of all soups was Copenhagen soup; the whole family said so.”

 

Here stood “Tragedy,” in a champagne bottle; it could make a popping noise, and that was as it should be. “Comedy” looked like fine sand to throw into people’s eyes – that is, the more refined comedy; the broader kind was also bottled, but consisted only of future playbills; there were some excellent comedy titles, such as, Dare You spit in the Machinery?, One on the Jaw, The Sweet Ass, and She Is Dead Drunk!

 

While the man was completely lost in his thoughts, the Woman of the Marsh thought ahead; she wanted to put an end to this.

 

“By now you must have seen enough of the hodgepodge chest,” she said. “You know what it is now. But I haven’t told you the important thing you must know. The will-o’-the-wisps are in town! That’s much more important than poetry or fairy tales. I really should keep my mouth shut about it, but it seems that a compulsion – a force – something has come over me, and it sticks in my throat and wants to come out. The will-o’-the-wisps are in town! They are on the loose! Take care, you mortals!”

 

“I don’t understand a word you’re saying!” said the man.

 

“Please sit down on the cabinet,” she said, “but be careful not to fall through and break the bottles – you know what’s inside them. I’ll tell you about the great event. It happened only yesterday; yet it has happened before. And now it has three hundred and sixty-four days to go. I suppose you know how many days there are in a year?”

 

And this was the story of the Woman of the Marsh:

 

“There was much excitement yesterday out here in the marsh! There was a christening party! A little will-o’-the-wisp was born here; in face, twelve of them were born all at once. And they have permission to go out among men, if they want to, and move around and command, just as if they were human beings! That was a great event in the marsh, and for that reason all the lady and gentlemen will-o’-the-wisps danced across the marsh and the meadow like little lights. Some of them are of the canine species, but they aren’t worth talking about. I sat right there on my cabinet and held all the twelve little newborn will-o’-the-wisps on my lap. They glittered like glowworms; already they had begun to hop, and they grew bigger every minute, and after a quarter of an hour each of them was as big as his father or uncle. Now it’s an old-established law that when the moon stands just where it did yesterday, and the wind blows just the way it blew yesterday, it is granted to all will-o’-the-wisps born at that hour and at that minute that they may become human beings and each of them exercise their power for a whole year.

 

“The will-o’-the-wisp can go about in the country, or anywhere in the world, as long as it is not afraid of falling into the sea or being blown away by a great storm. It can go right into a person, and speak for him, and perform any action it wants. The will-o’-the-wisp can take any form it likes, man or woman, and act in his or her spirit, and so go to the extreme in doing what it wishes. But in the course of that year it must succeed in leading three hundred and sixty-five people into bad paths, and in grand style, too; it must lead them away from the right and truth, and then it will receive the highest honor a will-o’-the-wisp can, that of being a runner before the Devil’s stagecoach; it can then wear a fiery yellow uniform and breathe flames from its mouth. That’s enough to make a simple will-o’-the-wisp lick his lips in desire. But there’s danger, too, and a lot of work for an ambitious will-o’-the-wisp who wants to reach that height. If the eyes of the person are opened and he realizes what is happening and can blow the will-o’-the-wisp away, it is done for and has to come back to the marsh. Or if, before the year is over, the will-o’-the-wisp is overcome with longing for its home and family, and so gives up and comes back, then it is also done for; it can’t burn clearly any longer, and soon goes out, and can’t be lighted again. And if, at the end of the year, it hasn’t led three hundred and sixty-five people away from the truth and all that’s fine and noble, it is condemned to lie in a rotten stump and shine without being able to move. That’s the worst punishment of all for a lively will-o’-the-wisp.

 

“Now, I know all about this, and I told it all to the twelve little ones that I held on my lap, and they were quite wild with joy. I warned them that the safest and easiest way would be to give up the honor and just do nothing at all, but the little flames wouldn’t listen to that; already they could imagine themselves dressed in fiery yellow uniforms, breathing flames from their mouths.

 

” ‘Stay here with us!’ said some of the older ones.

 

” ‘Go and have your fun with the human beings!’ others said.

 

” ‘Yes, they are draining our meadows and drying them up! What will become of our descendants?’

 

” ‘ We want to flame with flames!’ said the newborn will-o’-the wisps, and that settled it.

 

“Then presently began the minute ball, which couldn’t have been any shorter. The elf maidens whirled around three times with all the others, so as not appear proud, but they always preferred dancing with each other. Then the godparents’ gifts were given – ‘ throwing pebbles,’ it’s called. The ‘pebbles’ were flung over the marsh water. Each of the elf maidens gave a little piece of her veil.

 

” ‘Take that,’ they said, ‘and you’ll be able to do the highest dance, the most difficult turns and twists – that is, if you should ever need to. You’ll have the best manners, so you can show yourselves in the highest of society.’

 

“The night raven taught the young will-o’-the-wisps to say, ‘Bra-bra-brave!’ and to say it at the right times; and that’s a great gift that brings its own reward.

 

“The owl and the stork dropped their gifts. But they said these weren’t worth mentioning, and so we won’t talk about it.

 

“The wild hunt of King Valdemar was just then rushing across the marsh, and when the nobles heard of the celebration they sent as a present a couple of handsome dogs which could hunt with the speed of the wind and carry a will-o’-the-wisp, or three, on their backs. A couple of old witches, who make a living riding broomsticks, were at the party, and they taught the young will o’-the-wisps how to slip through any keyhole as if the door stood open to them. These witches offered to carry the young ones to the town, which they knew quite well. They usually rode through the air on their own back hair fastened into a knot, for they prefer a hard seat. But now they sat on the hunting dogs and took on their laps the young will-o’-the-wisps, who were ready to go into town to start misleading and bewildering human beings. Whiz! and they were gone!

 

“That’s what happened last night. Today the will-o’-the-wisps are in town and have started to work – but how, and where? Can you tell me that? Still, I have a telegraph wire in my big toe, and that always tells me something.”

 

“That’s a whole fairy tale!” said the man.

 

“Why, it’s just the beginning of one,” said the Woman. “Can you tell me how the will-o’-the-wisps are behaving themselves and what they’re doing, in what shapes they’re appearing and leading people astray?”

 

“I believe,” said the man, “that a whole novel could be written about the will-o’-the-wisps, in twelve parts; or better still, a complete comedy-drama could be written about them.”

 

“You should write it,” said the Woman. ” Or perhaps you’d better leave it undone.”

 

“Yes, that’s easier, and more pleasant,” said the man. “Then we’ll not be condemned by the newspapers, which is just as bad as it is for a will-o’-the-wisp to be shut in a rotten stump, shining, and afraid to say anything.”

 

“It doesn’t matter to me what you do,” said the Woman. “Let the others write, if they can, or even if they can’t. I’ll give you and old tap from my cask; that will open the cabinet where I keep the poetry in bottles, and you can take anything you want. But you, my good man, seem to have stained your fingers enough with ink, and at the age and stability you have reached, you don’t have to be running around every year looking for fairy tales, especially as there are much more important things to be done. Have you understood what’s happening?”

 

“The will-o’-the-wisps are in town,” said the man. “I heard you, and I understand. But what do you think I ought to do about it? I’d be locked up if I were to go up to people and say, ‘Look! There goes a will-o’-the-wisp in honest clothes! ‘ ”

 

“Sometimes they wear skirts!” said the Woman. “The will-o’-the-wisp can take on any form and appear anywhere. It goes into the church, not for the sake of our Lord, but perhaps so that it can enter the minister. It speaks on election day, not for the good of state or country, but only for itself. It is an artist with the paint pot, and in the theater, but when it gets complete power, then the pot’s empty! Here I go, chattering on, but what’s sticking in my throat must come out, even if it hurts my own family. But now I must be the woman to save a lot of people. But, truthfully, I’m not doing it with good intentions or for the sake of any medal. I do the most insane thing I possibly can; I tell a poet about it, and soon everybody in town gets to know about it.”

 

“The town won’t take it to heart,” said the man. “It won’t disturb a single person. They’ll all think I’m only telling them a fairy tale if I say, ‘The will-o’-the-wisps are in town, said the Woman of the Marsh! Beware!'”

 

                      Translated into Vietnamese by Phan Thien Tri

                                                June, 2022

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

MUA RAO  - Hwang sun Won (uo) https://gtvh51.blogspot.com/2024/10/rao-sun-won-han-quoc-ngay-khi-cau-be.html