Thứ Bảy, 24 tháng 12, 2022

 CHIẾC RƯƠNG BAY

 

                                                       Hans Christian Andersen

 

                                                       Phan Thiện Trì dịch

 

Xưa có một thương gia giàu có đến mức có thể lát vàng cả con phố, và thậm chí còn có đủ để lát thêm một con hẻm nhỏ nữa.  Nhưng lão ta chẳng dại gì mà làm như vậy; lão biết lắm cách để sử dụng đồng tiền tốt hơn cách này rất nhiều.  Lão ta thông minh đến nỗi mỗi đồng xu bỏ ra đều chắc chắn mang lại cho lão một đồng tiền vàng; và vì vậy lão tiếp tục cho đến khi chết.  

Con trai của lão được thừa hưởng biết bao của cải và tiền vàng. Và đã sống một cuộc sống vui vẻ với nó; anh đi đến lễ hội hóa trang mỗi đêm, lấy những tờ giấy bạc năm pound làm diều thả chơi, và dùng  những thỏi vàng thay cho đá sỏi để chơi ném thia lia xuống biển. Bằng cách này, anh ta sớm mất tất cả tiền của mình.  Cuối cùng anh ta chẳng còn gì ngoài một đôi dép lê, một chiếc áo choàng cũ và bốn đồng shilling.  Và bây giờ tất cả bạn bè của anh ấy đều bỏ rơi, họ không thể cùng anh đi dạo trên đường phố; nhưng một người trong số họ, người rất tốt bụng, đã gửi cho anh ta một chiếc rương cũ với lời nhắn này, "Hãy đóng gói tài sản vào!"  “Vâng, thế thì còn gì bằng,” anh ấy nói, nhưng anh chẳng còn gì để đóng gói, vì vậy anh ấy ngồi vào trong rương. Đúng là một chiếc rương rất tuyệt vời. Vừa khi bất cứ ai ấn nút trên ổ khoá thì chiếc rương bay lên. Anh ta đóng nắp và nhấn khóa, khi chiếc hòm bay lên theo ống khói với con trai người lái buôn trong đó, bay thẳng lên các tầng mây.  Bất cứ khi nào phần đáy của chiếc rương nứt ra, anh ta vô cùng sợ hãi, vì nếu đáy rương rơi xuống và tan ra từng mảnh, anh ta sẽ tạo ra một cú lộn nhào khủng khiếp bên trên các ngọn cây. Tuy nhiên, anh đã bay an toàn trong chiếc rương của mình đến đất nước Thổ Nhĩ Kỳ.  Anh giấu chiếc rương trong rừng, phủ lá khô lên rồi đi vào thị trấn: anh ta có thể làm như vậy rất tốt, vì người Thổ Nhĩ Kỳ luôn mặc áo choàng và đi dép lê, như chính anh ta hiện giờ. Anh tình cờ gặp một chị vú em với một đứa trẻ nhỏ trên tay.  “Này, chị vú ơi, cho tôi hỏi thăm một tí,” anh ta kêu lên, “lâu đài có cửa sổ cao kia, ở ngay gần thị trấn là lâu đài của ai thế?” 

“Con gái của đức vua sống ở đó,” chị vú trả lời;  "Người ta đã tiên tri rằng số cô sẽ gặp phải một người tình làm cho cô rất không hài lòng, và do đó không ai được phép đến thăm cô ấy, trừ khi nhà vua và hoàng hậu có mặt."

 "Cảm ơn," con trai của thương gia nói. Vì vậy, anh ta quay trở lại khu rừng, ngồi vào chiếc rương của mình, bay lên toà lâu đài, và len lỏi qua cửa sổ vào phòng của công chúa.  Công chúa đang nằm ngủ trên ghế sô pha, cô đẹp đến mức con trai thương gia không cầm lòng được bèn ôm hôn cô.  Sau đó, công chúa tỉnh dậy, và rất sợ hãi;  nhưng anh chàng nói với cô rằng anh là một thiên thần Thổ Nhĩ Kỳ, người đã bay xuống từ không trung để gặp nàng, điều này làm cô nàng rất hài lòng.

 

Anh ngồi xuống bên cạnh cô, anh chàng bắt đầu tán tụng đôi mắt tuyệt đẹp của cô. Anh bảo nó giống như hồ nước đen tuyệt đẹp, trong đó ý nghĩ bay lượn tung tăng như những nàng tiên cá nhỏ, rồi anh tán đến trán nàng. Nó như một ngọn núi tuyết, trong đó có những sảnh lộng lẫy đầy hình ảnh. Và rồi anh kể cho nàng nghe về con cò cõng những đứa con xinh đẹp từ sông về đầu thai trong các gia đình.  Đây là những lời tán tỉnh hay tuyệt khiến cho công chúa mê tít. và khi anh chàng hỏi công chúa liệu có muốn lấy anh làm chồng không thì nàng đồng ý ngay lập tức.

“Nhưng  chàng phải quay lại đây vào thứ Bảy,” nàng nói;  “Hôm ấy đức vua và hoàng hậu sẽ đến uống trà với thiếp .  Họ sẽ rất tự hào khi biết rằng con mình thừa lệnh tiếp đón một thiên thần Thổ Nhĩ Kỳ; nhưng chàng phải nghĩ ra một số câu chuyện rất hay để kể cho vua cha và hoàng hậu nghe, vì cả hai rất thích nghe kể chuyện hơn bất cứ thứ gì khác.  Hoàng hậu thích nghe những chuyện nói về những nhân vật thật thà và đạo đức; nhưng vua cha thì thích một cái gì đó vui nhộn, để làm cho ông ấy cười ”

“Rất tốt,” anh chàng trả lời;  “Tôi sẽ không mang sính lễ gì ngoài những câu chuyện kể”. 

Họ chia tay, nhưng trước đó, công chúa đã đưa cho anh ta một thanh kiếm nạm tiền vàng, và những thứ này sẽ giúp ích cho anh.

Sau đó, anh bay đi đến thị trấn, mua một chiếc áo choàng mới, và rồi quay trở lại khu rừng, ngồi bịa ra một câu chuyện để chuẩn bị sẵn sàng cho ngày thứ Bảy, một điều không hề dễ dàng chút nào. Tuy nhiên, tới thứ Bảy anh chàng cũng chuẩn bị xong. 

Nhà vua, hoàng hậu và cả triều đình uống trà với công chúa; và anh con trai lão lái buôn đã được đón tiếp rất nồng nhiệt. 

“Cậu sẽ kể cho chúng tôi nghe một câu chuyện chứ? ” nữ hoàng nói, "một câu chuyện mà trong đó có tính chất giáo dục tư tưởng thật sâu sắc, được không?”

Nhà vua nói thêm: “Vâng, nhưng đồng thời lại có một chút gì mang tính khôi hài nữa kia”. 

“Chắc chắn tâu hoàng thượng,” anh chàng nói rồi bắt đầu ngay lập tức, yêu cầu họ chú ý lắng nghe.  

 

“Đã từng có một nhóm những que diêm, vô cùng tự hào về dòng dõi cao quý của chúng.  Cây phả hệ của chúng là một cây thông lớn đã bị chặt, đã có lúc là một cây cổ thụ lớn trong rừng. Thế mà những que diêm tội nghiệp bây giờ phải nằm trong bếp ​​giữa một cái bật lửa và một cái nồi cũ kỹ và chỉ có thể thuật lại những ngày tháng vinh quang của thời tuổi trẻ. Chúng nói: “Phải, chúng tôi đã từng sống trong sung sướng, chúng tôi lớn lên trên những cành cây xanh tươi, và cũng xanh tươi như chúng; mỗi sáng và mỗi tối, chúng tôi đã được nuôi dưỡng bằng những giọt sương lóng lánh như kim cương.  Bất cứ khi nào mặt trời chiếu sáng, chúng tôi tận hưởng ánh nắng suốt ngày, và có những chú chim nhỏ đến để kể chuyện cho chúng tôi nghe khi chúng hát. Chúng tôi biết rằng chúng tôi giàu có, vì những cái cây khác chỉ khoác lên mình chiếc áo xanh vào mùa hè, còn chúng tôi thì mặc y phục màu xanh lá cây suốt cả mùa hè lẫn mùa đông. 

 

Nhưng bỗng một hôm tiều phu kéo đến, giống như một cuộc cách mạng lớn, và gia đình chúng tôi đã phải chịu cảnh ly tán. Người đứng đầu gia đình được dùng làm cột buồm chính trên một con tàu rất đẹp, và có thể đi vòng quanh thế giới được. Các nhánh khác của gia đình đã được đưa đến những nơi khác nhau, và số phận của chúng tôi bây giờ là đưa lửa đến cho mọi nhà, để thắp sáng cho những người bình thường.  Đây là cách những người sinh ra thuộc dòng dõi cao quý  như chúng tôi mới bị đày ải vào ở trong một cái nhà bếp như thế này”.

 “Số phận của tôi lại rất khác,” cái Nồi sắt bên cạnh các que diêm nói;  “Từ lần đầu tiên bước chân vào đời, tôi đã quen với việc nấu nướng và cọ rửa. Chính tôi là vật đầu tiên trong nhà này chịu đựng giỏi nhất khi một vật gì rắn chắt và hữu ích được cần đến. Niềm vui duy nhất của tôi là sau khi xuất hiện trên bàn ăn về lại được lau chùi sạch bóng và đặt ngồi vào vị trí của tôi, trò chuyện với bạn bè chung quanh. Tất cả chúng tôi, trừ cái xô nước đôi khi được đưa vào sân trong, sống ở đây cùng nhau trong bốn bức tường này mà thôi. Chúng tôi nhận được tin tức bên ngoài từ chiếc Giỏ đi chợ, nhưng đôi khi anh ấy nói với chúng tôi những điều rất khó chịu về người dân và chính phủ.  Vâng, và một ngày nọ, một chiếc nồi cũ rất hoảng sợ, đã rơi xuống đất và bị vỡ thành nhiều mảnh. Nó là một người theo chủ nghĩa tự do, tôi có thể nói với bạn như vậy".

"Bạn đang nói hơi quá nhiều rồi đấy," hộp Bùi nhùi nói, và thép đập vào đá lửa cho đến khi một số tia lửa phụt ra, kêu lên, "Chúng ta muốn có một buổi tối vui vẻ, phải không?"

"Tất nhiên," nhóm que diêm nói, "chúng ta hãy nói về những người được sinh ra cao nhất."

“Không, tôi không muốn lúc nào cũng nói về chúng ta là gì,” cái Chảo nhận xét; chúng ta hãy nghĩ về một số trò giải trí khác; Tôi xin được phép bắt đầu.  Chúng tôi sẽ kể điều gì đó đã xảy ra với chính mình;  điều đó sẽ rất dễ dàng và thú vị nữa.  Trên Biển Baltic, gần bờ biển Đan Mạch”.

“Thật là một sự khởi đầu tuyệt vời!” mấy chiếc Đĩa bàn nói;  "Tất cả chúng ta sẽ thích câu chuyện đó, tôi chắc chắn”.

“Đúng, thời còn trẻ, tôi sống trong một ngôi nhà tĩnh mịch, nơi đồ đạc được đánh bóng loáng, sàn nhà luôn được cọ rửa sạch tinh và rèm cửa sạch sẽ được thay mỗi nửa tháng một lần”.

"Bạn có cách kể chuyện thật thú vị,”  cây Chổi quét thảm khen;  "Dễ dàng nhận ra rằng bạn đã là một người rất quan trọng trong hội phụ nữ, có điều gì đó rất thuần khiết qua những gì bạn kể”.

“Điều đó hoàn toàn đúng,” Xô xách nước nói và nó bật dậy trong sự thích chí làm tung toé nước khắp sàn nhà.

“Sau đó, Chảo tiếp tục câu chuyện đời nó, kết thúc có hậu như phần mở đầu tốt đẹp.

“Mấy chiếc Đĩa bàn rung lên lạch cạch vì sung sướng, và chiếc Chổi quét thảm lấy mấy nhánh rau ngò tây ra khỏi sọt rác quàng vào cổ Chảo để khen thưởng nó. Biết rằng làm như thế sẽ khiến những kẻ khác ghen tị, không hài lòng, nhưng Chổi nghĩ thầm: "Nếu hôm nay ta trao vương miện cho nó thì ngày mai ắt hẳn nó sẽ trao vương miện cho ta chứ sao!”

“Bây giờ, chúng ta hãy khiêu vũ,” chiếc Kẹp than hồng rủ rê;  và rồi nó ra sức dang đôi tay ra, giơ một chân lên trời thật.  Chiếc Ghế đệm trong góc bếp bật cười khi nhìn thấy nó.

“Bây giờ tôi có được trao vương miện như chị Chảo chưa?” chiếc Kẹp than lại hỏi; vì vậy Chổi đã tìm thấy một vòng hoa khác để thưởng cho chiếc Kẹp than.

“Dù sao thì họ cũng chỉ là những người bình thường mà thôi,” lũ Diêm quẹt nghĩ bụng.  Ấm trà bây giờ được yêu cầu hát, nhưng nó nói rằng nó bị cảm lạnh, và không thể hát nếu không có nhiệt độ sôi.  Tất cả họ đều cho rằng đây là lý do bịa để thối thác, và vì nó muốn để đến lúc được đặt lên bàn, trong phòng khách, trước mặt các ông bà chủ nó mới hát. 

Trên cửa sổ có đặt một cây Bút lông ngỗng, mà cô hầu gái vẫn dùng để viết.  Không có gì đáng chú ý về cây bút, ngoại trừ việc nó đã bị chấm mực nhiều quá, nhưng nó tự hào về điều đó.

“Nếu Ấm trà không muốn hát thì thôi, cứ để nó yên,” cây Bút nói, “trong lồng ngoài kia chúng ta còn có con chim hoạ mi biết hót; cô ấy đã không được dạy nhiều, chắc chắn, nhưng chúng ta không cần phải nói bất cứ điều gì tối nay về điều đó. "

“Tôi nghĩ điều đó thật không đúng đắn,” cái Ấm đun nước vừa là nhạc sĩ bếp vừa là anh em cùng cha khác mẹ với Bình trà nói thêm vào, “rằng một con chim lạ mặt giàu có ấy hát cho chúng ta nghe lúc này thật không hợp lý chút nào, có đúng không? Hãy để cho Giỏ đi chợ  quyết định điều gì là đúng”.

“Tôi chắc chắn không được hài lòng lắm về các bạn,” chiếc Giỏ nói;  ‘Trong lòng rất phẫn nộ, hơn bất kỳ ai khác có thể tưởng tượng.  Chúng ta có đang dành buổi tối đúng cách chưa?  Sẽ không hợp lý chút nào nếu đặt ngôi nhà ngăn nắp hơn.  Nếu mỗi người trở về vị trí của mình, tôi sẽ dẫn dắt một trò chơi; đây sẽ là một điều hoàn toàn khác”.

“Hãy để chúng tôi diễn một vở kịch,” tất cả đồng thanh hô lớn. Ngay lúc đó, cánh cửa bật mở, người hầu gái bước vào, không ai cựa quậy;  tất cả đứng yên tại chỗ, khá tĩnh lặng;  Tuy nhiên, đồng thời, không có một chiếc nồi đơn thuần nào trong số chúng lại không đánh giá cao về chính mình và về những gì mình có thể làm nếu được chọn.

“Đúng vậy, nếu chúng tôi được chọn,” mỗi người đều nghĩ,“ thì có phải chúng ta đã trải qua một buổi tối rất vui rồi không?”

Người hầu gái lấy diêm ra quẹt và châm lửa; Ối! Trời ôi! Chúng phun ra phì phì và phát sáng làm sao!

“Bây giờ thì,” chúng nghĩ, “mọi người sẽ thấy rằng chúng tôi là những người đầu tiên tỏa sáng ra làm sao! chúng tôi cung cấp ánh sáng biết bao!”  Ngay cả trong khi chúng nói, ánh sáng của chúng cũng đã chết thiêu luôn.

 

“Thật là một câu chuyện tuyệt vời,” hoàng hậu nói, “Ta cảm thấy như thể ta thực sự đang ở trong bếp, và có thể thấy các que diêm; vâng, con sẽ được kết hôn với con gái của chúng tôi. "

"Chắc chắn," nhà vua cũng phán, "thế nào ta cũng gả công chúa cho con”.   Nhà vua và hoàng hậu đều gọi anh bằng con vì anh sắp sửa là một thành viên mới trong hoàng gia rồi. Ngày cưới đã được ấn định, và vào buổi tối hôm trước hôn lễ, toàn thành phố được chiếu sáng rực rỡ với ánh đèn và muôn hoa.  Bánh ngọt, đồ ngọt và mứt, kẹo và hoa quả được tung ra cho mọi người.  Những cậu bé đường phố kiễng chân lên vừa "hoan hô" vừa vỗ tay và huýt sáo, nói chung đó là một sự kiện rất huy hoàng.

“Ta cũng phải thết đãi họ một thứ gì mới được chứ!” chàng con trai của thương gia nghĩ bụng.  Vì vậy, anh ta đã đi mua pháo nổ, pháo thăng thiên, và tất cả các loại pháo hoa mà anh có thể nghĩ đến, đóng gói chúng lại, bỏ vào trong chiếc rương của mình, và vừa bay lên không trung vừa đốt chúng. Ôi, những tiếng vèo vèo và lốp bốp vui làm sao khi chúng nổ!  

Dân chúng Thổ Nhĩ Kỳ khi nhìn thấy cảnh tượng như vậy trên không trung, họ thích quá, đã nhảy cẫng lên cao đến nỗi dép bay lên đến tận mang tai. Thật dễ dàng để tin, sau đó, rằng, công chúa thực sự sẽ kết hôn với một thiên thần Thổ Nhĩ Kỳ.

 

Ngay sau khi con trai của người lái buôn đáp xuống khu rừng trong chiếc rương đang bay của mình sau trận pháo hoa, anh nghĩ, "Ta sẽ trở lại thị trấn ngay bây giờ, và nghe thiên hạ nghĩ gì về trò giải trí."  Đó là điều rất tự nhiên mà anh muốn biết.  Và những điều kỳ lạ người ta đã nói, chắc chắn là như vậy!  mỗi người mà anh ta hỏi đều có một câu chuyện khác nhau để kể, mặc dù tất cả đều cho rằng họ chưa từng thấy gì đẹp và thích thú bằng thế.

“Chính tôi đã nhìn thấy thiên thần nước Thổ Nhĩ Kỳ,” một người nói;  "Người có đôi mắt như những vì sao lấp lánh, và cái đầu như bọt nước."

“Người bay trong một lớp áo choàng bằng lửa,” một người khác kêu lên, “và những thiên thần nhỏ có cánh đáng yêu ló ra từ các nếp gấp.”

Anh đã nghe nhiều điều tốt đẹp hơn về chính anh, và rằng ngày hôm sau anh ấy sẽ kết hôn.  Sau đó, anh ta quay trở lại rừng để nghỉ ngơi trong chiếc rương của mình.  Nó đã biến mất!  Một tia lửa từ pháo hoa còn sót lại đã bắt lửa và đốt cháy nó; chiếc rương giờ đã bị thiêu cháy thành tro!  Vì vậy, con trai của người lái buôn không thể bay nữa, cũng không thể đi gặp cô dâu của mình. Công chúa đã đứng cả ngày trên gác thượng để đợi chàng, và rất có thể nàng vẫn đang đợi, đợi mãi ở đó;  trong khi anh lang thang khắp thế giới để kể những câu chuyện, nhưng không có câu chuyện nào trong số đó thú vị như câu chuyện anh kể về những que diêm quẹt.

 

                                      Phan Thiện Trì dịch

                                               July, 2022

 

THE FLYING TRUNK

 

                                                       Hans Christian Andersen

THERE was once a merchant who was so rich that he could have paved the whole street with gold, and would even then have had enough for a small alley. But he did not do so; he knew the value of money better than to use it in this way. So clever was he, that every shilling he put out brought him a crown; and so he continued till he died. His son inherited his wealth, and he lived a merry life with it; he went to a masquerade every night, made kites out of five pound notes, and threw pieces of gold into the sea instead of stones, making ducks and drakes of them. In this manner he soon lost all his money. At last he had nothing left but a pair of slippers, an old dressing-gown, and four shillings. And now all his friends deserted him, they could not walk with him in the streets; but one of them, who was very good-natured, sent him an old trunk with this message, “Pack up!” “Yes,” he said, “it is all very well to say ‘pack up,’” but he had nothing left to pack up, therefore he seated himself in the trunk. It was a very wonderful trunk; no sooner did any one press on the lock than the trunk could fly. He shut the lid and pressed the lock, when away flew the trunk up the chimney with the merchant’s son in it, right up into the clouds. Whenever the bottom of the trunk cracked, he was in a great fright, for if the trunk fell to pieces he would have made a tremendous somerset over the trees. However, he got safely in his trunk to the land of Turkey. He hid the trunk in the wood under some dry leaves, and then went into the town: he could so this very well, for the Turks always go about dressed in dressing-gowns and slippers, as he was himself. He happened to meet a nurse with a little child. “I say, you Turkish nurse,” cried he, “what castle is that near the town, with the windows placed so high?” 

“The king’s daughter lives there,” she replied; “it has been prophesied that she will be very unhappy about a lover, and therefore no one is allowed to visit her, unless the king and queen are present.”

“Thank you,” said the merchant’s son. So he went back to the wood, seated himself in his trunk, flew up to the roof of the castle, and crept through the window into the princess’s room. She lay on the sofa asleep, and she was so beautiful that the merchant’s son could not help kissing her. Then she awoke, and was very much frightened; but he told her he was a Turkish angel, who had come down through the air to see her, which pleased her very much. He sat down by her side and talked to her: he said her eyes were like beautiful dark lakes, in which the thoughts swam about like little mermaids, and he told her that her forehead was a snowy mountain, which contained splendid halls full of pictures. And then he related to her about the stork who brings the beautiful children from the rivers. These were delightful stories; and when he asked the princess if she would marry him, she consented immediately.

“But you must come on Saturday,” she said; “for then the king and queen will take tea with me. They will be very proud when they find that I am going to marry a Turkish angel; but you must think of some very pretty stories to tell them, for my parents like to hear stories better than anything. My mother prefers one that is deep and moral; but my father likes something funny, to make him laugh.”

“Very well,” he replied; “I shall bring you no other marriage portion than a story,” and so they parted. But the princess gave him a sword which was studded with gold coins, and these he could use.

Then he flew away to the town and bought a new dressing-gown, and afterwards returned to the wood, where he composed a story, so as to be ready for Saturday, which was no easy matter. It was ready however by Saturday, when he went to see the princess. The king, and queen, and the whole court, were at tea with the princess; and he was received with great politeness.

“Will you tell us a story?” said the queen,—“one that is instructive and full of deep learning.”

“Yes, but with something in it to laugh at,” said the king.

“Certainly,” he replied, and commenced at once, asking them to listen attentively. “There was once a bundle of matches that were exceedingly proud of their high descent. Their genealogical tree, that is, a large pine-tree from which they had been cut, was at one time a large, old tree in the wood. The matches now lay between a tinder-box and an old iron saucepan, and were talking about their youthful days. ‘Ah! then we grew on the green boughs, and were as green as they; every morning and evening we were fed with diamond drops of dew. Whenever the sun shone, we felt his warm rays, and the little birds would relate stories to us as they sung. We knew that we were rich, for the other trees only wore their green dress in summer, but our family were able to array themselves in green, summer and winter. But the wood-cutter came, like a great revolution, and our family fell under the axe. The head of the house obtained a situation as mainmast in a very fine ship, and can sail round the world when he will. The other branches of the family were taken to different places, and our office now is to kindle a light for common people. This is how such high-born people as we came to be in a kitchen.’

“‘Mine has been a very different fate,’ said the iron pot, which stood by the matches; ‘from my first entrance into the world I have been used to cooking and scouring. I am the first in this house, when anything solid or useful is required. My only pleasure is to be made clean and shining after dinner, and to sit in my place and have a little sensible conversation with my neighbors. All of us, excepting the water-bucket, which is sometimes taken into the courtyard, live here together within these four walls. We get our news from the market-basket, but he sometimes tells us very unpleasant things about the people and the government. Yes, and one day an old pot was so alarmed, that he fell down and was broken to pieces. He was a liberal, I can tell you.’

“‘You are talking too much,’ said the tinder-box, and the steel struck against the flint till some sparks flew out, crying, ‘We want a merry evening, don’t we?’

“‘Yes, of course,’ said the matches, ‘let us talk about those who are the highest born.’

“‘No, I don’t like to be always talking of what we are,’ remarked the saucepan; ‘let us think of some other amusement; I will begin. We will tell something that has happened to ourselves; that will be very easy, and interesting as well. On the Baltic Sea, near the Danish shore’—

“‘What a pretty commencement!’ said the plates; ‘we shall all like that story, I am sure.’

“‘Yes; well in my youth, I lived in a quiet family, where the furniture was polished, the floors scoured, and clean curtains put up every fortnight,’

“‘What an interesting way you have of relating a story,’ said the carpet-broom; ‘it is easy to perceive that you have been a great deal in women’s society, there is something so pure runs through what you say.’

“‘That is quite true,’ said the water-bucket; and he made a spring with joy, and splashed some water on the floor.

“Then the saucepan went on with his story, and the end was as good as the beginning.

“The plates rattled with pleasure, and the carpet-broom brought some green parsley out of the dust-hole and crowned the saucepan, for he knew it would vex the others; and he thought, ‘If I crown him to-day he will crown me to-morrow.’

“‘Now, let us have a dance,’ said the fire-tongs; and then how they danced and stuck up one leg in the air. The chair-cushion in the corner burst with laughter when she saw it.

“‘Shall I be crowned now?’ asked the fire-tongs; so the broom found another wreath for the tongs.

“‘They were only common people after all,’ thought the matches. The tea-urn was now asked to sing, but she said she had a cold, and could not sing without boiling heat. They all thought this was affectation, and because she did not wish to sing excepting in the parlor, when on the table with the grand people.

“In the window sat an old quill-pen, with which the maid generally wrote. There was nothing remarkable about the pen, excepting that it had been dipped too deeply in the ink, but it was proud of that.

“‘If the tea-urn won’t sing,’ said the pen, ‘she can leave it alone; there is a nightingale in a cage who can sing; she has not been taught much, certainly, but we need not say anything this evening about that.’

“‘I think it highly improper,’ said the tea-kettle, who was kitchen singer, and half-brother to the tea-urn, ‘that a rich foreign bird should be listened to here. Is it patriotic? Let the market-basket decide what is right.’

“‘I certainly am vexed,’ said the basket; ‘inwardly vexed, more than any one can imagine. Are we spending the evening properly? Would it not be more sensible to put the house in order? If each were in his own place I would lead a game; this would be quite another thing.’

“‘Let us act a play,’ said they all. At the same moment the door opened, and the maid came in. Then not one stirred; they all remained quite still; yet, at the same time, there was not a single pot amongst them who had not a high opinion of himself, and of what he could do if he chose.

“‘Yes, if we had chosen,’ they each thought, ‘we might have spent a very pleasant evening.’

“The maid took the matches and lighted them; dear me, how they sputtered and blazed up!

“‘Now then,’ they thought, ‘every one will see that we are the first. How we shine; what a light we give!’ Even while they spoke their light went out.

“What a capital story,” said the queen, “I feel as if I were really in the kitchen, and could see the matches; yes, you shall marry our daughter.” 

“Certainly,” said the king, “thou shalt have our daughter.” The king said thou to him because he was going to be one of the family. The wedding-day was fixed, and, on the evening before, the whole city was illuminated. Cakes and sweetmeats were thrown among the people. The street boys stood on tiptoe and shouted “hurrah,” and whistled between their fingers; altogether it was a very splendid affair.

“I will give them another treat,” said the merchant’s son. So he went and bought rockets and crackers, and all sorts of fire-works that could be thought of, packed them in his trunk, and flew up with it into the air. What a whizzing and popping they made as they went off! The Turks, when they saw such a sight in the air, jumped so high that their slippers flew about their ears. It was easy to believe after this that the princess was really going to marry a Turkish angel.

As soon as the merchant’s son had come down in his flying trunk to the wood after the fireworks, he thought, “I will go back into the town now, and hear what they think of the entertainment.” It was very natural that he should wish to know. And what strange things people did say, to be sure! every one whom he questioned had a different tale to tell, though they all thought it very beautiful.

“ I saw the Turkish angel myself,” said one; “he had eyes like glittering stars, and a head like foaming water.”

“He flew in a mantle of fire,” cried another, “and lovely little cherubs peeped out from the folds.”

He heard many more fine things about himself, and that the next day he was to be married. After this he went back to the forest to rest himself in his trunk. It had disappeared! A spark from the fireworks which remained had set it on fire; it was burnt to ashes! So the merchant’s son could not fly any more, nor go to meet his bride. She stood all day on the roof waiting for him, and most likely she is waiting there still; while he wanders through the world telling fairy tales, but none of them so amusing as the one he related about the matches.

 

                      Translated into Vietnamese by Phan Thien Tri

                                                  July, 2022

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

MUA RAO  - Hwang sun Won (uo) https://gtvh51.blogspot.com/2024/10/rao-sun-won-han-quoc-ngay-khi-cau-be.html