Thứ Tư, 28 tháng 12, 2022

 VƯỜN ĐỊA ĐÀNG

 

                                                    Hans Christian Andersen

                                                    Phan Thiện Trì dịch

 

Xưa có một hoàng tử, con trai của một vị vua, có một bộ sưu tập sách lớn hơn và đẹp hơn bất kỳ cuốn sách nào khác trên thế giới và đầy những bản khắc trên tấm đĩa đồng lộng lẫy.  Anh ta có thể đọc và lấy thông tin về mọi người dân trên mọi miền đất nước;  nhưng anh không thể tìm được từ nào để giải thích tình hình của vườn địa đàng, và đây chính là điều anh mong muốn được biết nhất.  Bà của anh đã nói với anh khi anh còn khá nhỏ, vừa đủ tuổi cắp sách đến trường, rằng mỗi bông hoa trong vườn địa đàng là một chiếc bánh ngọt, và trong đài hoa có chứa đầy rượu nồng, rằng trên một loài hoa đã viết bài học về lịch sử, hoặc bài học về địa lý hoặc các bình nguyên rộng lớn khác; vì vậy những người muốn học bài của chúng chỉ cần ăn một vài cái bánh, và họ càng ăn nhiều thì họ càng biết nhiều lịch sử, địa lý hoặc các bình nguyên. Hồi đó anh đã tin tất cả;  nhưng khi lớn lên, và ngày càng học hỏi nhiều hơn, anh ta trở nên đủ khôn ngoan để hiểu rằng vẻ tráng lệ của vườn địa đàng hẳn là rất khác với tất cả những điều này.  “Ồ, tại sao Eva lại hái trái từ cây Trí Tuệ?  tại sao Adam lại ăn trái cấm? ” con trai của nhà vua nghĩ: "Nếu tôi đã ở đó, điều đó sẽ không bao giờ xảy ra, và sẽ không có tội lỗi trên thế giới."  Khu vườn địa đàng chiếm trọn mọi suy nghĩ của anh cho đến khi anh bước sang tuổi mười bảy.

 

Một hôm, chàng đang đi dạo một mình trong rừng, đó là niềm vui lớn nhất mà chàng ưa thích. Chiều đến. Những đám mây tụ lại, và mưa đổ xuống như thể bầu trời đã trở thành một cột nước; và trời tối như đáy giếng vào lúc nửa đêm;  đôi khi anh ta trượt chân trên bãi cỏ mịn, hoặc ngã trên những hòn đá nhô ra khỏi mặt đất đá. Mọi vật đều ướt đẫm nước, mưa thấm ướt quần áo anh ta, và chàng hoàng tử tội nghiệp không hề có một mảnh vải khô nào quanh chàng.  Cuối cùng thì anh chàng cũng bắt buộc phải trèo qua những khối đá lớn, với nước trào ra từ lớp rêu dày. Anh bắt đầu cảm thấy yếu dần thì anh nghe thấy một tiếng động gấp gáp kỳ lạ nhất, và nhìn thấy trước mặt anh là một hang động lớn, từ đó phát ra một tia sáng rực rỡ.  Ở giữa hang, một đống lửa lớn đang bùng cháy, và một con nai sừng tấm cao quý, với cặp sừng phân nhánh, được đâm qua một cái xiên sắt, hai đầu xiên được gác trên hai cành cây thông. Nó đang quay chậm trước ngọn lửa, và một người phụ nữ lớn tuổi, to khỏe như thể là một người đàn ông cải trang, ngồi bên cạnh, ném hết mảnh gỗ này đến mảnh gỗ khác vào đống lửa.

“Mời vào,” bà nói với hoàng tử;  "Ngồi xuống bên đống lửa và hơ khô quần áo."

“Có một luồng gió tuyệt vời thổi qua đây,” hoàng tử nói khi ngồi xuống đất.

“Sẽ tệ hơn khi các con trai tôi trở về nhà,” người phụ nữ trả lời;  "Bây giờ cậu đang ở trong hang động của Gió, và các con trai của tôi là Gió bốn phương của thiên đường: hoàng tử hiểu không?"

"Con trai của bà cụ ở đâu?"  hoàng tử hỏi.

“Rất khó để trả lời những câu hỏi ngốc nghếch,” người phụ nữ nói.  “Các con trai của tôi rất bận rộn vì có quá nhiều công việc phải làm;  chúng đang chơi đá cầu với những đám mây ở trên cao xa kia trong đại sảnh của nhà vua,” và bà ấy chỉ tay lên trên.

“ Thật vậy sao,” hoàng tử nói;  "Nhưng bà nói rất cộc cằn và thô bạo hơn và không quá dịu dàng như những người phụ nữ tôi đã quen."

“Đúng, đó là bởi vì chúng không có gì khác để làm; nhưng tôi có nghĩa vụ phải nghiêm khắc, để giữ trật tự cho các chàng trai của tôi, và tôi có thể làm điều đó, mặc dù chúng rất cứng đầu. Hoàng tử có thấy bốn bao tải đó treo trên tường kia không?  Chà, chúng cũng sợ những cái bao đó, như cậu đã từng sợ con chuột đằng sau tấm gương soi mặt.  Tôi có thể bẻ cong các chàng trai lại với nhau, và cho chúng vào bao tải mà không có bất cứ sự kháng cự nào từ phía chúng, tôi có thể nói với cậu về điều đó. Chúng ở đó, và không dám bước ra cho đến khi tôi cho phép chúng làm như vậy.  Và kìa là một trong bốn đứa nó đến. ”

Đó là Gió Bắc lùa vào, mang theo cái lạnh thấu xương;  Những trận mưa đá lớn rơi lộp bộp trên sàn, và những bông tuyết rơi vung vãi ra mọi hướng. Nó mặc một chiếc váy da gấu và áo choàng.  Chiếc mũ da hải cẩu của anh ta được kéo trùm qua hai tai, những cột băng dài treo trên râu, và hết hạt mưa đá này đến hạt khác lăn từ cổ áo khoác của anh ta.

Hoàng tử nói: “Đừng đến quá gần lửa, hay là tay và mặt của bạn sẽ bị tê cóng.”

"Bị tê cóng!"  Gió Bấc nói, với một tiếng cười lớn;  “Tại sao lại bị tê cóng, băng giá là niềm vui lớn nhất của ta mà.  Bạn là một tay nhải ranh, và làm thế nào bạn tìm thấy đường đến hang động của những ngọn gió? "

Ông ấy là khách của ta, ”bà lão nói,“ và nếu con không hài lòng với lời giải thích đó, con có thể đi vào bao tải. Con có hiểu không?"

Thôi thế là đủ rồi.  Vì vậy, Gió Bấc bắt đầu kể lại cuộc phiêu lưu của mình, nơi nào anh ta đến và nơi anh ta đã ở trong cả tháng.  “Con đến từ các vùng biển ở Bắc cực,” anh nói;  “Con đã ở trên Đảo Gấu cùng với đoàn người Nga đi săn hải mã.  Con ngồi và ngủ dưới tay bánh lái tàu của họ, khi họ cho thuyền rời khỏi North Cape.  Đôi khi khi con thức dậy, những con chim báo bão sẽ bay quanh chân con.  Chúng là những con chim kỳ lạ;  chúng vỗ một cái bằng đôi cánh của mình, rồi căng rộng đôi cánh bay vút lên rất xa. "

“Đừng dài dòng về nó,” mẹ của những ngọn gió nói;  "Đảo Gấu là nơi như thế nào?"

“Một nơi rất đẹp, có sàn để khiêu vũ, nhẵn và bóng như gương ấy.  Tuyết tan một nửa, một phần bị rêu bao phủ, đá sắc nhọn và bộ xương của hải mã và gấu Bắc Cực, nằm la liệt, tứ chi khổng lồ của chúng trong tình trạng phân hủy màu xanh lục.  Dường như mặt trời không bao giờ chiếu ở đó. Con thổi nhẹ để xóa tan lớp sương mù, rồi con thấy một túp lều nhỏ dựng bằng gỗ của một con tàu đắm, được bao phủ bởi da của con hải mã, phần thịt bên ngoài;  Nó trông có màu xanh lục và đỏ, và trên mái nhà có một con gấu đang gầm gừ.  Sau đó, con đi ra bờ biển để tìm kiếm các tổ chim, và thấy những con chim non chưa mọc đủ lông, đang há miệng kêu kiếm thức ăn.  Con thổi vào cổ họng hàng ngàn chú chim non, và nhanh chóng ngăn tiếng la hét của chúng.  Xa hơn là những con hải mã có đầu lợn và răng dài hàng thước, lăn tròn như những con sâu lớn ”.

“Con kể lại cuộc phiêu lưu của mình rất tốt, con trai của mẹ,” bà mẹ nói, “điều đó khiến mẹ chảy nước miếng khi nghe con nói”.

Sau đó,” Gió Bấc tiếp tục, “cuộc săn bắt đầu.  Cây lao được ném vào ngực của con hải mã, để một dòng máu bốc khói phun ra như một đài phun nước, và đóng băng lại. Và rồi, con nghĩ về trò chơi của riêng mình; con bắt đầu thổi, và đẩy những con tàu của riêng mình, những tảng băng trôi lớn đang trôi nhanh, để chúng có thể đè bẹp những con thuyền.  Ôi, các thủy thủ hú lên và kêu réo vui làm sao! nhưng con hú và rít to hơn họ.  Họ có nghĩa vụ dỡ hàng và ném chiếc rương cùng những con hải mã chết xuống trên mặt băng.  Sau đó, con rắc tuyết lên trên chúng, và để chúng trong những chiếc thuyền bị dẹp nát của họ để trôi dạt về phía nam và cho nếm nước muối.  Họ sẽ không bao giờ quay trở lại Đảo Gấu nữa”.

“Vậy là con đã làm nhiều điều tội lỗi,” mẹ của Gió nói.

“Con sẽ để người khác kể những điều tốt đẹp mà con đã làm,” Gió ta trả lời.  

“Kìa anh Gió Tây đã về kia rồi! Tôi thích anh ấy hơn cả, vì anh ấy có vị mặn của biển quanh anh ấy, và mang lại một bầu không khí lành lạnh, trong lành, khi anh ấy bước vào. "

"Đó có phải là Zephyr bé không?"  hoàng tử hỏi.

“Vâng, đó là Zephyr bé,” bà mẹ nói;  “Nhưng giờ nó không còn bé nữa. Trong nhiều năm trôi qua, nó đã là một chàng trai đẹp; bây giờ tất cả đã là quá khứ ”.

Anh ta bước vào, trông như một kẻ hoang dã, và anh ta đội một chiếc mũ tuềnh toàng để bảo vệ đầu khỏi bị thương.  Trên tay anh mang theo một cây gậy, được đẽo từ một cây gỗ gụ trong các khu rừng ở Mỹ, chứ không phải một thứ đồ lặt vặt để mang theo.

"Con đã từ đâu đến?"  người mẹ hỏi.

“Con đến từ nơi hoang dã trong rừng, nơi những bụi cây mâm xôi đầy gai tạo thành hàng rào rậm rạp giữa rừng cây, nơi những con rắn nước nằm trong đám cỏ ẩm ướt, và loài người dường như không được biết đến ở đó”.

“Con đã làm gì ở đó?"

“Con nhìn xuống dòng sông sâu thẫm, và thấy nó lao xuống từ những tảng đá. Những giọt nước bắn lên tận những đám mây và lấp lánh trong bảy sắc cầu vồng.  Con nhìn thấy con trâu rừng đang bơi trên sông, nhưng thủy triều mạnh đã mang nó đi giữa một đàn vịt trời, chúng bay lên trời khi nước chảy xiết, để lại con trâu bị hất tung qua thác nước.  Điều này làm con rất hài lòng;  nên con dấy lên một cơn bão làm bật gốc những cây cổ thụ và thả chúng trôi theo dòng sông”.

"Và con đã làm những gì khác nữa?"  bà mẹ hỏi.

“Con đã hối hả băng qua các thảo nguyên một cách điên cuồng;  Con đã vuốt ve những con ngựa hoang, và lay rụng những hạt cacao khỏi cây. Vâng, con có nhiều câu chuyện để kể lại;  nhưng con không cần phải nói tất cả những gì con biết. Mẹ biết rất rõ tính con, phải không, bà mẹ hiền? ”  Và anh hôn mẹ một cách thô bạo đến nỗi bà suýt ngã ngửa ra sau.  Ồ, quả thực thằng này là một đứa hoang dã.

 

Bây giờ là Gió Nam cũng vừa về tới nơi, với khăn xếp và áo choàng kiểu Ả-Rập.

"Ở đây lạnh làm sao!"  Gió vừa nói, vừa ném thêm củi vào lửa. “Có thể dễ dàng cảm thấy rằng anh Gió Bắc đã đến đây trước tôi.”

"Chà!  ở đây trời nóng đủ để có thể nướng một con gấu," Gió Bấc nói.

“Này, chính anh là một con gấu đó,” Gió Nam gắt.

"Hai đứa có muốn bị bỏ vào bao không, cả hai đứa?"  bà mẹ nói.  "Gió Nam hãy ngồi xuống trên phiến đá đằng kia, và kể cho mẹ nghe con đã đến những đâu."

“Ở Châu Phi, thưa mẹ.  Con đã đi ra ngoài với những người Hottentots, những người đang săn sư tử ở vùng đất Kaffir, nơi đồng bằng được bao phủ bởi cỏ màu ô liu xanh;  và ở đây con đã chạy đua với đà điểu, nhưng con nhanh chóng bỏ xa chúng.  Cuối cùng  con đã đến sa mạc, trong đó có những bãi cát vàng, trông như đáy biển.  Ở đây con gặp một đoàn lữ hành, và những người du hành phải giết con lạc đà cuối cùng của họ để lấy nước uống; nhưng có rất ít nước trong dạ dày lạc đà, và họ tiếp tục cuộc hành trình đau đớn của họ dưới cái nắng như thiêu như đốt, và trên những bãi cát nóng, trải dài trước mặt họ là một sa mạc rộng lớn vô biên. Thế là con bốc cát lên, lăn mình trong cát rời tạo thành một cơn lốc xoáy, thành những cột cát khổng lồ  quay nó vào những cột cháy trên đầu họ. Những con lạc đà Ả-Rập đứng yên trong nỗi kinh hoàng, trong khi các thương nhân kéo những chiếc áo choàng của họ phủ qua đầu, và gieo mình xuống đất trước mặt con, như họ làm trước thánh Allah của họ.  Sau đó, con chôn vùi họ bên dưới một kim tự tháp làm bằng cát, bao phủ tất cả chúng. Nếu lần sau qua nơi ấy con sẽ thổi vào đống cát, xương cốt sẽ lộ ra, mặt trời sẽ tẩy trắng xương của họ, và những người du hành qua đó sẽ thấy rằng trước họ đã có những người khác bỏ xác ở đó; nếu không, trong một sa mạc hoang vu như vậy, họ có thể không tin là có thể. ”

“Vì vậy, con đã không làm gì khác ngoài tội ác,” người mẹ nói.  "Vào bao đi thôi;"  và, trước khi anh kịp nhận ra, bà đã tóm lấy Gió Nam quanh người, nhét anh vào bao tải.  Anh lăn lộn trên sàn, cho đến khi bà ngồi lên người anh để giữ anh đứng yên.

“Những cậu con trai này của bà rất sống động,” hoàng tử nói.

“Đúng,” bà mẹ trả lời, “nhưng tôi biết cách sửa lỗi chúng khi cần thiết; và thằng thứ tư về đây rồi”.  

Gió Đông đến, ăn mặc như người Trung Quốc.

"Ồ, kìa con từ Trung Quốc về, phải không?" bà mẹ hỏi.  "Mẹ nghĩ là con đã đến vườn địa đàng."

“Con sẽ lên trên ấy vào ngày mai,” Gió Đông trả lời;  “Con đã không ở trên đó gần một trăm năm nay rồi.  Con vừa về từ Trung Quốc, nơi con đã nhảy múa quanh tháp sứ cho đến khi tất cả các tiếng chuông trên lầu Hoàng Cung lại reo leng keng.  Trên đường phố đang diễn ra một vụ đánh bằng roi chính thức, và những chiếc gậy tre được đập gãy trên vai những người ở mọi địa vị cao, từ nhất phẩm đến cửu phẩm. Họ kêu lên, “Đa tạ Hoàng thượng! Hoàng thượng ban ân!” nhưng  con chắc chắn rằng những lời nói đó không xuất phát từ trái tim họ, vì vậy con bấm chuông cho đến khi chúng vang lên, “đing-đong, đinh-đong.”

“Con là một thằng bé hoang dã,” bà mẹ nói.  “Thật tốt cho con là ngày mai con sẽ đến vườn địa đàng; nơi con luôn luôn được cải tiến rất nhiều trong việc giáo dục. Hãy uống thật sâu từ suối nguồn trí tuệ khi con ở trên đó, và nhớ mang về cho mẹ vài chai nước ở suối Chân Như”. 

“Điều đó con sẽ làm,” Gió Đông nói;  “Nhưng tại sao mẹ lại cho anh trai con vào bao tải?  Hãy thả anh ấy ra ngoài;  vì con muốn anh ấy kể cho con nghe về con chim Phượng hoàng. Vì cứ trăm năm một lần khi con lên thăm, lần nào nàng Công chúa trên ấy luôn muốn nghe thông tin về loài chim này. Nếu mẹ chịu mở bao tải, mẹ ngọt ngào nhất, con sẽ cho mẹ hai túi chè, xanh tươi như lúc mới hái từ nơi nó mọc ”.

"Chà, vì trà, và vì nể con, con trai của mẹ, mẹ sẽ vui lòng tha cho anh con”.

Bà đã làm như vậy, và Gió Nam rón rén bước ra ngoài, trông có vẻ khá xấu hổ vì hoàng tử đã nghe thấy sự ô nhục của mình.

“Đây là chiếc lá cọ để em đưa cho công chúa,” Gió Nam nói.  “ Chính Phượng hoàng con đã trao cho anh, Phượng hoàng bố, người duy nhất trên thế giới này, đã dùng mỏ cào vào nó để viết lại lịch sử của mình trong suốt một trăm năm ông ta đã sống.  Ở đó, công chúa có thể đọc cách con phượng hoàng già đã tự tay đốt tổ mình, và ngồi giữa khói lửa đang cháy, Phượng hoàng vẫn điềm nhiên lấy mỏ viết vào lá cọ, tự thiêu sống như một góa phụ Ấn Độ tuẫn táng chết theo chồng. Những cành cây khô xung quanh tổ kêu răng rắc và bốc khói cho đến khi ngọn lửa bùng lên và thiêu rụi con phượng hoàng thành tro.  Giữa đống lửa chỉ còn để lại một quả trứng, nóng đỏ, hiện đang bùng lên với một tiếng nổ lớn, và Phượng hoàng con bay ra ngoài.  Nó là loài chim phượng hoàng duy nhất trên thế giới và là vua của tất cả các loài chim khác. Nó đã cắn một lỗ trên chiếc lá mà anh vừa tặng em, và đó là lời chào của Phượng hoàng đối với công chúa".

 

“Bây giờ chúng ta nên kiếm  cái gì đó để ăn,” mẹ của Gió nói.  Thế là tất cả cùng ngồi quây quần bên con nai nướng; hoàng tử ngồi cạnh Gió Đông, và họ nhanh chóng trở thành đôi bạn thân của nhau.

“Gió này, hãy cho tôi biết,” hoàng tử hỏi chuyện, “công chúa mà bạn đã nói chuyện là ai! và vườn địa đàng nằm ở đâu? "

“Hô!  hô! ” Gió Đông nói, “Nếu hoàng tử muốn đến đó thì ngày mai có thể bay cùng tôi;  nhưng tôi cần phải nói trước với bạn một điều - không có con người nào ở đó kể từ thời A-đam và Ê-va.  Tôi cho rằng hoàng tử đã đọc Kinh thánh và đã biết chuyện ấy chứ?”.

“Tất nhiên là tôi có,” hoàng tử nói.

“Chà,” Gió Đông tiếp tục, “khi họ bị đuổi ra khỏi vườn địa đàng, thì vườn cũng chìm vào đất; nhưng khu vườn nơi đó vẫn còn giữ được ánh nắng ấm áp, không khí trong lành và cảnh tượng huy hoàng. Ở đó có một hoang đảo và là nơi ở của Bà Chúa Tiên, trong hòn đảo hạnh phúc, nơi cái chết không bao giờ đến, và tất cả đều đẹp đẽ.  Tôi có thể xoay sở để đưa hoàng tử đến đó vào ngày mai, hoàng tử sẽ ngồi trên lưng tôi, tôi sẽ đưa đi.  Nhưng bây giờ đừng nói chuyện nữa, vì tôi muốn đi ngủ".  Và sau đó tất cả họ đều ngủ.

Khi hoàng tử thức dậy vào sáng sớm, chàng không khỏi ngạc nhiên khi thấy mình đang ở trên mây cao.  Chàng ngồi vững chắc trên lưng Gió Đông, người đã trung thành giữ anh; và họ ở trên không cao đến nỗi rừng cây, đồng ruộng, sông ngòi và biển cả hiện ra dưới mắt chàng như một tấm bản đồ được vẽ đủ màu sắc.

“Chào buổi sáng,” Gió Đông nói.  “Bạn có thể đã ngủ một giấc ngon lành đấy chứ, thưa hoàng tử?” vì có rất ít điều để xem trong đất nước bằng phẳng mà chúng ta đang đi qua trừ khi ngài thích đếm các gác chuông nhà thờ cho đỡ buồn; chúng trông giống như những đốm phấn trắng trên bảng màu xanh lá cây". Bảng xanh là tên bạn đặt cho những cánh đồng và đồng cỏ xanh mướt.

Hoàng tử nói: “Thật là vô lễ đối với tôi khi không nói lời tạm biệt với mẹ và các anh kia”.

“Họ sẽ tha thứ cho bạn, vì khi người ta đang ngủ thì từ biệt thế quái nào được?” Gió Đông nói; rồi sau đó gió bay nhanh hơn bao giờ hết.

Lá và cành cây xào xạc khi họ đi qua.  Khi họ bay qua biển cả và sông hồ, sóng dâng cao hơn, và những con tàu lớn chao đảo trên mặt nước như những con thiên nga lặn hụp.  

Vào buổi tối, khi bóng tối ập đến, quang cảnh các thành phố lớn trông thật quyến rũ;  những ánh sáng lấp lánh, lúc được nhìn thấy lúc khuất hẳn, giống như những tia lửa lần lượt vụt tắt trên một mảnh giấy cháy.  Hoàng tử vỗ tay thích thú;  nhưng Gió Đông khuyên chàng ta không nên bày tỏ sự ngưỡng mộ của mình theo cách đó, nếu không, có thể ngã xuống và thấy mình bị treo cổ trên gác chuông nhà thờ. Gió Đông bay nhanh hơn cả con đại bàng đang lướt đi trong rừng tối. Một kỵ binh người Cossack đang phi nước đại ở dưới đất, trên con ngựa nhỏ của mình, lướt nhẹ trên vùng đồng bằng; nhưng Gió vẫn phóng nhanh, lướt nhẹ hơn.

Dãy Himalaya đây rồi, đó là ngọn núi cao nhất thế giới,” Gió Đông nói. "Chúng ta sẽ sớm đến được vườn địa đàng ngay bây giờ."

Sau đó, họ quay về hướng Nam, và không khí trở nên ngan ngát hương thơm của các loại gia vị và hoa.  Ở đây sung và lựu mọc hoang, những chùm nho xanh tím leo chằng chịt.  Ở đây cả hai cùng xuống trần gian, cùng nằm dài trên thảm cỏ mềm, trong khi những bông hoa cúi mình theo nhịp thở của gió như để chào đón nó.  

"Bây giờ chúng ta đang ở trong vườn địa đàng?"  hoàng tử hỏi.

“Không, chưa đến!”  Gió Đông đáp;  “Nhưng chẳng còn xa nữa đâu. chúng ta sẽ sớm đến đó.  Hoàng tử có nhìn thấy bức tường đá, và cái cửa động bên dưới nó, trên đó những cây nho treo như một bức màn xanh không? Chúng ta phải đi xuyên qua khỏi hang động đó.  Quấn áo choàng quanh người vì, trong khi mặt trời thiêu đốt bạn ở đây, nhưng đi xa thêm vài bước nữa trời sẽ lạnh như băng.  Con chim bay qua lối vào hang có cảm giác như thể một cánh đang ở trong vùng mùa hè, và cánh còn lại ở sâu trong mùa đông. "

"Vậy đây là đường dẫn đến vườn địa đàng?"  hoàng tử hỏi, khi họ bước vào hang động.  Nó thực sự lạnh;  nhưng giá lạnh sớm qua đi, vì Gió Đông dang rộng đôi cánh, chúng lấp lánh như ngọn lửa sáng nhất.  Khi họ đi qua hang động tuyệt vời này, hoàng tử có thể nhìn thấy những khối thạch nhũ lớn, từ đó nước chảy ra, treo lơ lửng trên đầu họ với những hình dạng kỳ thú.  Đôi khi nó hẹp đến nỗi họ phải bò qua bằng tay và đầu gối, trong khi những lúc khác nó lại cao và rộng với không khí thoáng đãng.  Nó mang dáng vẻ của một nhà nguyện dành cho người chết, với tiếng đàn organ làm tê liệt và ống nhạc hơi thầm lặng.  Hoàng tử nói: “Chúng ta dường như đang đi qua thung lũng chết để đến vườn địa đàng.

Nhưng Gió Đông không đáp lại một lời, chỉ tay về phía trước, một luồng ánh sáng xanh yêu kiều lấp lánh ở phía ấy.  Các khối thạch nhũ trông giống như sa mù rũ xuống trên đầu họ, trông giống như những đám mây trắng dưới ánh trăng.  Không khí trong lành và dịu mát, như một làn gió từ trên núi cao, tỏa hương thơm ngát từ thung lũng hoa hồng. Một con suối chảy qua đấy, trong vắt như không khí, lấp lánh dưới chân họ, trong khi ở độ sâu trong vắt có thể nhìn thấy những con cá vàng và bạc đang tung tăng trong làn nước sáng, và những con cá chình đỏ sậm nhoi lên lặn xuống, làm tung toé lên những tia ánh sáng, trong khi những tàu lá sen to trên mặt nước  - hoa súng trôi nổi trên bề mặt của nó, lấp lánh với đủ màu sắc của cầu vồng.  Bông hoa có màu lửa dường như nhận được sự nuôi dưỡng từ nước, như một ngọn đèn được duy trì bằng dầu.  Một cây cầu bằng đá cẩm thạch, một tác phẩm nghệ thuật kỳ diệu, tinh xảo đến mức nó trông như thể được kết bằng đăng ten và ngọc trai, bắc ngang qua suối sang Đảo Hạnh Phúc, nơi khu vườn địa đàng nở rộ những bông hoa.  Gió Đông đã cắp hoàng tử trong nách và chở chàng qua, trong khi hoa, lá cất tiếng hát những khúc ca ngọt ngào mà chàng đã nghe trong thời thơ ấu, với những âm điệu đầy và êm dịu đến nỗi không một giọng ca nào có thể bắt chước được.  Trong vườn mọc lên những cây lớn, đầy nhựa sống;  nhưng cho dù chúng là cây cọ hay cây thảo khổng lồ dưới nước, hoàng tử không biết.  Những cây leo được treo trong những vòng hoa màu xanh lá cây và vàng, giống như những màu sắc rực rỡ trên lề của quyển kinh thánh cổ, hoặc được đan xen rực rỡ giữa các chữ cái đầu mỗi chương sách .  Chim chóc, hoa lá và các tràng hoa xuất hiện xen lẫn vẻ rối loạn.  Gần đó, trên bãi cỏ, là một đàn chim công, với những chiếc đuôi rạng rỡ đang vươn mình ra trước mặt trời.  Hoàng tử chạm vào chúng và ngạc nhiên nhận thấy rằng chúng thực sự không phải là chim công, mà là lá của cây ngưu bàng, ánh lên màu sắc của đuôi công.  Sư tử và hổ báo, hiền lành và thuần phục, đang tung tăng nhảy qua hàng rào ô- liu đang nở hoa, nhẹ nhàng như những con mèo con, vui đùa giữa những bụi cây xanh, mùi thơm của chúng giống như hoa thơm của cây ô liu. Đàn chim bồ câu lấp lánh như ngọc trai bay đến đậu trên bờm sư tử, trong khi con linh dương, thường rất nhút nhát, đứng gần, gật đầu như thể nó muốn tham gia cuộc vui đùa.  

Nàng tiên của thiên đường xuất hiện. Y phục của nàng tỏa sáng như ánh thái dương, và vẻ mặt thanh thản của nàng rạng ngời hạnh phúc giống như hạnh phúc của một người mẹ vui mừng vì đứa con của mình. Nàng tiên ấy còn trẻ và xinh đẹp, và một đoàn thiếu nữ xinh xắn theo sau nàng, mỗi người đều đeo một ngôi sao vàng trên tóc.  Gió Đông đưa cho nàng chiếc lá cọ, trên đó viết về lịch sử của loài phượng hoàng; đôi mắt nàng ánh lên niềm vui sướng. Nàng nắm tay hoàng tử và dẫn chàng vào cung điện của mình, những bức tường được tô màu rực rỡ, giống như những cánh hoa uất kim hương khi hướng về phía mặt trời.  Phần mái có hình một bông hoa ngược, màu sắc càng đậm và càng rực rỡ hơn khi nhìn.  Hoàng tử bước đến một cửa sổ và nhìn ra ngoài, chàng thấy thứ dường như là cây biết điều thiện và điều ác, với A-đam và Ê-va đứng bên cạnh, và con rắn gần họ.  “Ta nghĩ họ đã bị trục xuất khỏi thiên đường,” hoàng tử nói.

Công chúa mỉm cười và nói với chàng rằng thời gian đã khắc ghi từng sự kiện trên khung cửa sổ dưới dạng một bức tranh; nhưng, không giống như những bức tranh khác, tất cả những gì nó thể hiện đều sống động và chuyển động, — những chiếc lá xào xạc, và những người đi đi lại lại như trong một tấm gương soi. Chàng nhìn qua một ô khác và thấy cái thang trong giấc mơ của Jacob, trên đó các thiên thần đang đi lên và đi xuống với đôi cánh xòe ra.  Tất cả những gì đã từng xảy ra trên thế giới ở đây đều sống động và di chuyển trên những tấm kính. Đó là tác phẩm của thời gian, mà chỉ có thời gian mới có thể tạo ra những bức tranh như thế. Nàng tiên lúc này đã dẫn hoàng tử vào một căn phòng rộng lớn, cao cả với những bức tường trong suốt, xuyên qua đó có ánh sáng chiếu vào.  Đây là những bức chân dung, mỗi bức đều trông đẹp hơn bức còn lại — hàng triệu sinh linh hạnh phúc, tiếng cười và bài hát của họ hòa quyện trong một giai điệu ngọt ngào: một số trong số này ở vị trí cao đến nỗi chúng trông nhỏ hơn nụ hoa hồng nhỏ nhất, hoặc giống như những chấm bút chì  trên giấy.  Chính giữa đại sảnh là một cái cây, với những cành rũ xuống, trên đó treo những quả táo vàng, cả lớn lẫn nhỏ, trông giống như những quả cam giữa những tán lá xanh.  Đó là cây biết điều thiện và điều ác, mà từ đó A-đam và Ê-va đã hái và ăn trái cấm, và từ mỗi chiếc lá chảy ra một giọt sương đỏ tươi, như thể cây đang khóc đến rỉ máu vì tội lỗi của họ.  

“Bây giờ chúng ta hãy đi thuyền,” nàng tiên nói: “Một cánh buồm trên mặt nước mát mẻ sẽ làm chúng ta sảng khoái.  Nhưng chúng ta sẽ không di chuyển khỏi chỗ, mặc dù thuyền có thể lắc lư, tròng trành trên mặt nước đang dâng lên;  các quốc gia trên thế giới sẽ lần lượt lướt qua trước mắt chúng ta, nhưng chúng ta sẽ vẫn đứng yên".

 

Thật tuyệt vời biết bao khi được nhìn thấy. Đầu tiên là dãy núi Alps cao ngất, phủ đầy tuyết, mây bao phủ và những cây thông đen. Tiếng còi vang lên, và những người chăn cừu hát vui vẻ trong các thung lũng.  Những cây chuối uốn cành rũ xuống thuyền, những con thiên nga đen lững lờ trôi trên mặt nước, và những loài động vật và những bông hoa kỳ dị xuất hiện trên bờ xa. Tân Hà Lan, khu vực thứ năm của thế giới, hiện đang lướt qua, với những ngọn núi màu xanh lam ở phía xa. Họ nghe bài hát của các thầy tế lễ, và xem vũ điệu hoang dã của loài man rợ trong tiếng trống và tiếng kèn của xương;  các kim tự tháp của Ai Cập vươn lên tới tầng mây; các cột và tượng nhân sư, bị lật đổ và chôn vùi trong cát, lần lượt tiếp nối chúng; trong khi ánh sáng phát ra từ các ngọn núi lửa đã tắt ở phía bắc, dưới dạng pháo hoa không ai có thể bắt chước được.

Hoàng tử rất vui mừng, nhưng chàng còn thấy hàng trăm điều tuyệt vời khác không thể diễn tả hết.  

"Ta có thể ở đây mãi mãi không?"  Hoàng tử hỏi.

“Điều đó phụ thuộc vào chàng,” nàng tiên trả lời.  "Nếu chàng không bị cám dỗ giống như Adam, khao khát những gì bị cấm, chàng có thể ở lại đây suốt đời”.

Hoàng tử nói: “Tôi không nên chạm vào trái cây trên cây tri thức; ở đây còn khối quả đẹp hơn thế!” 

“Hãy kiểm tra trái tim của chính mình,” công chúa nói, “và nếu chàng không cảm thấy chắc chắn về sức mạnh của nó thì nên quay trở lại với Gió Đông, người đã mang chàng đến.  Hắn sắp bay trở về, một trăm năm nữa gió mới trở lại đây. Thời gian đó đối với chàng ở đây không quá một trăm giờ, nhưng cũng đủ cho chàng sa ngã vì sự cám dỗ và phản kháng.  Mỗi buổi tối, khi thiếp rời xa chàng, thiếp sẽ có nghĩa vụ nói, 'Hãy lại đây với em!”  và thiếp vẫy tay làm hiệu, nhưng chàng không được lắng nghe, cũng không được rời khỏi chỗ mình để theo thiếp; vì với mỗi bước chàng theo sau thiếp ý chí của chàng sẽ yếu đi, chàng sẽ thấy sức mạnh của mình để chống lại sẽ yếu dần. Nếu, một khi, chàng cố gắng theo thiếp, chàng sẽ sớm thấy mình đang ở trong một đại sảnh, nơi trồng cây Trí Tuệ, vì thiếp ngủ dưới những cành thơm ngát của nó.  Nếu chàng cúi xuống trước thiếp, thiếp sẽ buộc phải mỉm cười. Nếu sau đó chàng hôn môi thiếp, vườn địa đàng lập tức sẽ chìm sâu vào trong đất, và đối với chàng nó sẽ bị mất.  Một cơn gió mạnh từ sa mạc sẽ hú quanh chàng;  mưa lạnh rơi trên đầu, và đau khổ và phiền muộn sẽ là số phận tương lai của chàng".

“Ta sẽ ở lại,” hoàng tử nói với giọng cả quyết.

Vì vậy, Gió Đông hôn lên trán chàng và nói: “Hãy giữ vững ý chí ấy; trăm năm nữa chúng ta sẽ gặp lại nhau. Vĩnh biệt, vĩnh biệt”.  Nói rồi, Gió Đông tung đôi cánh sáng rực như ánh chớp trong mùa gặt, hoặc như những ngọn đèn phía bắc trong mùa đông lạnh giá.

“Vĩnh biệt, vĩnh biệt,” hoa lá, cỏ cây chúc Gió lên đường bình an.

Đàn cò và đàn bồ nông bay thành hàng dài tiễn đưa Gió đến tận địa giới Thiên Đường. 

“Bây giờ chúng ta sẽ bắt đầu khiêu vũ,” nàng tiên nói;  “Và khi mặt trời gần lặn, trong khi thiếp đang khiêu vũ với chàng, thiếp sẽ ra dấu và yêu cầu chàng đi theo thiếp; chàng nhớ là đừng vâng lời.  Thiếp sẽ có nghĩa vụ lặp lại điều tương tự trong một trăm năm; và mỗi lần, khi thử thách đã qua, nếu chàng kháng cự, chàng sẽ có thêm sức mạnh, cho đến khi sự kháng cự trở nên dễ dàng, và cuối cùng thì sự cám dỗ cũng sẽ bị khuất phục. Tối nay, vì đây sẽ là lần đầu tiên, thiếp phải cảnh báo chàng”.

Sau đó,  nàng tiên dẫn chàng vào một đại sảnh, đầy hoa loa kèn trong suốt. Màu vàng của mỗi nhuỵ hoa tạo thành một cây đàn hạc nhỏ bằng vàng, từ đó phát ra những bản nhạc như âm thanh hòa quyện của sáo và đàn lia.  Những thiếu nữ xinh đẹp, hình dáng mảnh mai và duyên dáng, xiêm y toàn bằng lụa trong suốt, bay bổng trong vũ điệu và hát về cuộc sống hạnh phúc trong vườn địa đàng, nơi cái chết không bao giờ bước vào, và nơi tất cả sẽ nở hoa vĩnh viễn trong tuổi trẻ bất tử.  

Mặt trời lặn, cả bầu trời trở nên đỏ rực và vàng, các đoá hoa loa kèn trong phòng rực sáng lên với sắc hoa hồng.  Sau đó các thiếu nữ xinh đẹp dâng lên hoàng tử rượu vang nổ;  và khi hoàng tử uống vào, chàng cảm thấy hạnh phúc lớn hơn chàng đã từng biết trước đây. 

Lúc này,  nền của hội trường mở ra và cây Trí Tuệ xuất hiện, xung quanh là vầng hào quang gần như làm chàng loá mắt.  Giọng nói, nhẹ nhàng và đáng yêu như tiếng mẹ chàng vang lên bên tai, như thể bà đang hát với chàng, “Con, đứa con yêu quý của mẹ”.  Sau đó, nàng tiên ra hiệu cho chàng, và nói với giọng ngọt ngào, "Lại đây với em, lại đây với em."  

Lập tức chàng quên lời hứa, quên ngay trong buổi tối đầu tiên, chàng lao về phía nàng, trong khi nàng tiếp tục vẫy tay chào chàng và mỉm cười duyên dáng.  Hương thơm xung quanh chế ngự mọi giác quan của chàng, tiếng nhạc từ đàn hạc nghe du dương trầm bỗng hơn, lôi cuốn hơn, trong khi xung quanh thân cây xuất hiện hàng triệu gương mặt đang cười, đang gật đầu hát.  “Con người nên biết mọi thứ;  con người là chúa tể của trái đất”.  Cây Trí Tuệ không còn khóc đến nhỏ từng giọt máu mà cho ra giọt sương mai lấp lánh như những ánh sao mai..

“Lại đây, lại đây với em!” giọng nói xúc động đó vẫn tiếp tục, và hoàng tử đi theo tiếng gọi.  Ở mỗi bước đi, má chàng nóng bừng lên, và máu chảy ào ạt trong huyết quản.  

“Nghe theo tiếng gọi trái tim, đâu phải là một tội lỗi,” chàng ta kêu lên;  “Say mê sắc đẹp và đi tìm thú vui cũng là chuyện thường tình của con người, huống chi ta chỉ muốn ngắm nhìn nàng đắm chìm trong giấc mộng, miễn là đừng có hôn vào môi nàng thì chẳng có chuyện gì có thể xảy ra cả, và điều đó ta sẽ không làm, vì ta có sức mạnh để chống lại và một ý chí kiên định”.

Nàng tiên cởi bỏ bộ y phục chói lọi của mình, bẻ cong các cành cây lại, và trong một khoảnh khắc khác đã ẩn mình trong đó.

“Ta chưa phạm tội,” hoàng tử nói, “và nhất định ta sẽ không sa ngã”. Và rồi, chàng gạt phăng những cành cây sang một bên để đi theo công chúa.  Nàng tiên đã nằm ngủ say, xinh đẹp như một nàng tiên trong vườn địa đàng.  Nàng mỉm cười khi chàng cúi xuống bên nàng, và chàng thấy những giọt nước mắt run rẩy trên đôi mi xinh đẹp của nàng.  "Có phải vì ta mà nàng khóc không?" chàng thì thầm.  “Ồ, đừng khóc nữa, nàng là người phụ nữ xinh đẹp và đáng yêu nhất của ta!  Chỉ đến giây phút này ta mới bắt đầu hiểu được thế nào là Thiên Đường, thế nào là Hạnh Phúc. Ta cảm nhận được điều đó trong thẩm sâu của tâm hồn, trong mọi nghĩ suy của tư tưởng.  Một cuộc sống mới được sinh ra trong ta.  Một khoảnh khắc hạnh phúc như giây phút này cũng thoả đời rồi. Cầu mong cho bóng đêm vĩnh cữu hãy ôm lấy ta!  Chàng khom người hôn lên những giọt nước mắt trên mắt của nàng, môi chàng ép vào môi nàng. 

Một tiếng sấm, lớn và khủng khiếp, vang lên trong không khí run rẩy.  Tất cả xung quanh chàng đều rơi vào cảnh hoang tàn. Nàng tiên đáng yêu, khu vườn xinh đẹp càng lúc càng chìm sâu.  Hoàng tử nhìn thấy nó chìm xuống trong đêm tối cho đến khi nó chỉ tỏa sáng như một ngôi sao ở phía xa bên dưới chàng.  Sau đó, chàng cảm thấy một cái lạnh, giống như cái chết, len lỏi khắp người chàng; mắt chàng nhắm nghiền lại, và chàng trở nên vô cảm.

Dần dà chàng hồi tỉnh, một cơn mưa lạnh buốt ập đến, và một cơn gió mạnh thổi qua đầu.  “Chao ôi!  tôi đã làm gì vậy? "  chàng thở dài;  "Ta đã phạm tội giống như A-đam, và vườn địa đàng đã chìm trong đất."  Chàng mở mắt ra và nhìn thấy ngôi sao ở đằng xa, nhưng đó là ngôi sao ban mai trên nền trời lấp lánh trong bóng tối.

Ngay lúc đó chàng đứng dậy và thấy mình đang ở sâu trong rừng, gần hang động của Gió, và mẹ của Gió đang ngồi bên cạnh chàng.  Bà trông có vẻ rất tức giận, và giơ cánh tay lên trời, nói.  "Ngay từ tối đầu tiên!"  bà nói.  “Ta đã tiên liệu điều đó!  Nếu chàng là con ta thì ta sẽ tống cổ vào bao tải ”.

“Và cuối cùng thì hắn cũng sẽ phải đi,” một ông già mạnh mẽ, với đôi cánh lớn màu đen và một chiếc lưỡi hái trên tay, tên là Thần Chết nói.  “Hắn sẽ được đặt vào quan tài của mình, nhưng vẫn chưa.  Giờ ta sẽ cho phép hắn ta đi lang thang trên thế giới một thời gian, để chuộc lỗi và cho hắn ta thời gian để trở nên tốt hơn. Lúc nào hắn ít nghĩ đến cái Chết nhất, ta sẽ trở lại và sẽ đặt hắn vào một chiếc quan tài đen, đặt  lên đầu và cùng hắn bay đi khắp các vì sao. Nơi ấy cũng có Vườn địa đàng đang nở hoa, và nếu hắn tốt và ngoan đạo, hắn sẽ được nhận vào đấy; trái lại, nếu tư tưởng hắn xấu, và trái tim hắn đầy tội lỗi, hắn sẽ cùng quan tài rơi xuống hố thẳm, chìm sâu hơn cả vườn địa đàng đã chìm.  Cứ mỗi nghìn năm một lần, ta sẽ đi tìm kiếm hắn, khi đó hắn ta sẽ bị kết án là chìm sâu hơn nữa, hoặc được nâng lên một cuộc sống hạnh phúc hơn trong thế giới bên ngoài các vì sao".

                                          Phan Thiện Trì dịch

                                                 June, 2022

 

 

 

 

 

 

THE GARDEN OF PARADISE

                                                                 by

                                                                 Hans Christian Andersen

 

HERE was once a king’s son who had a larger and more beautiful collection of books than any one else in the world, and full of splendid copper-plate engravings. He could read and obtain information respecting every people of every land; but not a word could he find to explain the situation of the garden of paradise, and this was just what he most wished to know. His grandmother had told him when he was quite a little boy, just old enough to go to school, that each flower in the garden of paradise was a sweet cake, that the pistils were full of rich wine, that on one flower history was written, on another geography or tables; so those who wished to learn their lessons had only to eat some of the cakes, and the more they ate, the more history, geography, or tables they knew. He believed it all then; but as he grew older, and learnt more and more, he became wise enough to understand that the splendor of the garden of paradise must be very different to all this. “Oh, why did Eve pluck the fruit from the tree of knowledge? why did Adam eat the forbidden fruit?” thought the king’s son: “if I had been there it would never have happened, and there would have been no sin in the world.” The garden of paradise occupied all his thoughts till he reached his seventeenth year.

One day he was walking alone in the wood, which was his greatest pleasure, when evening came on. The clouds gathered, and the rain poured down as if the sky had been a waterspout; and it was as dark as the bottom of a well at midnight; sometimes he slipped over the smooth grass, or fell over stones that projected out of the rocky ground. Every thing was dripping with moisture, and the poor prince had not a dry thread about him. He was obliged at last to climb over great blocks of stone, with water spurting from the thick moss. He began to feel quite faint, when he heard a most singular rushing noise, and saw before him a large cave, from which came a blaze of light. In the middle of the cave an immense fire was burning, and a noble stag, with its branching horns, was placed on a spit between the trunks of two pine-trees. It was turning slowly before the fire, and an elderly woman, as large and strong as if she had been a man in disguise, sat by, throwing one piece of wood after another into the flames.

“Come in,” she said to the prince; “sit down by the fire and dry yourself.”

“There is a great draught here,” said the prince, as he seated himself on the ground.

“It will be worse when my sons come home,” replied the woman; “you are now in the cavern of the Winds, and my sons are the four Winds of heaven: can you understand that?”

“Where are your sons?” asked the prince.

“It is difficult to answer stupid questions,” said the woman. “My sons have plenty of business on hand; they are playing at shuttlecock with the clouds up yonder in the king’s hall,” and she pointed upwards.

“Oh, indeed,” said the prince; “but you speak more roughly and harshly and are not so gentle as the women I am used to.”

“Yes, that is because they have nothing else to do; but I am obliged to be harsh, to keep my boys in order, and I can do it, although they are so head-strong. Do you see those four sacks hanging on the wall? Well, they are just as much afraid of those sacks, as you used to be of the rat behind the looking-glass. I can bend the boys together, and put them in the sacks without any resistance on their parts, I can tell you. There they stay, and dare not attempt to come out until I allow them to do so. And here comes one of them.”

It was the North Wind who came in, bringing with him a cold, piercing blast; large hailstones rattled on the floor, and snowflakes were scattered around in all directions. He wore a bearskin dress and cloak. His sealskin cap was drawn over his ears, long icicles hung from his beard, and one hailstone after another rolled from the collar of his jacket.

“Don’t go too near the fire,” said the prince, “or your hands and face will be frost-bitten.”

“Frost-bitten!” said the North Wind, with a loud laugh; “why frost is my greatest delight. What sort of a little snip are you, and how did you find your way to the cavern of the Winds?”

“He is my guest,” said the old woman, “and if you are not satisfied with that explanation you can go into the sack. Do you understand me?”

That settled the matter. So the North Wind began to relate his adventures, whence he came, and where he had been for a whole month. “I come from the polar seas,” he said; “I have been on the Bear’s Island with the Russian walrus-hunters. I sat and slept at the helm of their ship, as they sailed away from North Cape. Sometimes when I woke, the storm-birds would fly about my legs. They are curious birds; they give one flap with their wings, and then on their outstretched pinions soar far away.”

“Don’t make such a long story of it,” said the mother of the winds; “what sort of a place is Bear’s Island?”

“A very beautiful place, with a floor for dancing as smooth and flat as a plate. Half-melted snow, partly covered with moss, sharp stones, and skeletons of walruses and polar-bears, lie all about, their gigantic limbs in a state of green decay. It would seem as if the sun never shone there. I blew gently, to clear away the mist, and then I saw a little hut, which had been built from the wood of a wreck, and was covered with the skins of the walrus, the fleshy side outwards; it looked green and red, and on the roof sat a growling bear. Then I went to the sea shore, to look after birds’ nests, and saw the unfledged nestlings opening their mouths and screaming for food. I blew into the thousand little throats, and quickly stopped their screaming. Farther on were the walruses with pig’s heads, and teeth a yard long, rolling about like great worms.”

“You relate your adventures very well, my son,” said the mother, “it makes my mouth water to hear you.

“After that,” continued the North Wind, “the hunting commenced. The harpoon was flung into the breast of the walrus, so that a smoking stream of blood spurted forth like a fountain, and besprinkled the ice. Then I thought of my own game; I began to blow, and set my own ships, the great icebergs sailing, so that they might crush the boats. Oh, how the sailors howled and cried out! but I howled louder than they. They were obliged to unload their cargo, and throw their chests and the dead walruses on the ice. Then I sprinkled snow over them, and left them in their crushed boats to drift southward, and to taste salt water. They will never return to Bear’s Island.”

“So you have done mischief,” said the mother of the Winds.

“I shall leave others to tell the good I have done,” he replied. “But here comes my brother from the West; I like him best of all, for he has the smell of the sea about him, and brings in a cold, fresh air as he enters.”

“Is that the little Zephyr?” asked the prince.

“Yes, it is the little Zephyr,” said the old woman; “but he is not little now. In years gone by he was a beautiful boy; now that is all past.”

He came in, looking like a wild man, and he wore a slouched hat to protect his head from injury. In his hand he carried a club, cut from a mahogany tree in the American forests, not a trifle to carry.

“Whence do you come?” asked the mother.

“I come from the wilds of the forests, where the thorny brambles form thick hedges between the trees; where the water-snake lies in the wet grass, and mankind seem to be unknown.”

“What were you doing there?”

“I looked into the deep river, and saw it rushing down from the rocks. The water drops mounted to the clouds and glittered in the rainbow. I saw the wild buffalo swimming in the river, but the strong tide carried him away amidst a flock of wild ducks, which flew into the air as the waters dashed onwards, leaving the buffalo to be hurled over the waterfall. This pleased me; so I raised a storm, which rooted up old trees, and sent them floating down the river.”

“And what else have you done?” asked the old woman.

“I have rushed wildly across the savannahs; I have stroked the wild horses, and shaken the cocoa-nuts from the trees. Yes, I have many stories to relate; but I need not tell everything I know. You know it all very well, don’t you, old lady?” And he kissed his mother so roughly, that she nearly fell backwards. Oh, he was, indeed, a wild fellow.

Now in came the South Wind, with a turban and a flowing Bedouin cloak.

“How cold it is here!” said he, throwing more wood on the fire. “It is easy to feel that the North Wind has arrived here before me.”

“Why it is hot enough here to roast a bear,” said the North Wind.

“You are a bear yourself,” said the other.

“Do you want to be put in the sack, both of you?” said the old woman. “Sit down, now, on that stone, yonder, and tell me where you have been.”

“In Africa, mother. I went out with the Hottentots, who were lion-hunting in the Kaffir land, where the plains are covered with grass the color of a green olive; and here I ran races with the ostrich, but I soon outstripped him in swiftness. At last I came to the desert, in which lie the golden sands, looking like the bottom of the sea. Here I met a caravan, and the travellers had just killed their last camel, to obtain water; there was very little for them, and they continued their painful journey beneath the burning sun, and over the hot sands, which stretched before them a vast, boundless desert. Then I rolled myself in the loose sand, and whirled it in burning columns over their heads. The dromedarys stood still in terror, while the merchants drew their caftans over their heads, and threw themselves on the ground before me, as they do before Allah, their god. Then I buried them beneath a pyramid of sand, which covers them all. When I blow that away on my next visit, the sun will bleach their bones, and travellers will see that others have been there before them; otherwise, in such a wild desert, they might not believe it possible.”

“So you have done nothing but evil,” said the mother. “Into the sack with you;” and, before he was aware, she had seized the South Wind round the body, and popped him into the bag. He rolled about on the floor, till she sat herself upon him to keep him still.

“These boys of yours are very lively,” said the prince.

“Yes,” she replied, “but I know how to correct them, when necessary; and here comes the fourth.” In came the East Wind, dressed like a Chinese.

“Oh, you come from that quarter, do you?” said she; “I thought you had been to the garden of paradise.”

“I am going there to-morrow,” he replied; “I have not been there for a hundred years. I have just come from China, where I danced round the porcelain tower till all the bells jingled again. In the streets an official flogging was taking place, and bamboo canes were being broken on the shoulders of men of every high position, from the first to the ninth grade. They cried, ‘Many thanks, my fatherly benefactor;’ but I am sure the words did not come from their hearts, so I rang the bells till they sounded, ‘ding, ding-dong.’”

“You are a wild boy,” said the old woman; “it is well for you that you are going to-morrow to the garden of paradise; you always get improved in your education there. Drink deeply from the fountain of wisdom while you are there, and bring home a bottleful for me.”

“That I will,” said the East Wind; “but why have you put my brother South in a bag? Let him out; for I want him to tell me about the phoenix-bird. The princess always wants to hear of this bird when I pay her my visit every hundred years. If you will open the sack, sweetest mother, I will give you two pocketfuls of tea, green and fresh as when I gathered it from the spot where it grew.”

“Well, for the sake of the tea, and because you are my own boy, I will open the bag.”

She did so, and the South Wind crept out, looking quite cast down, because the prince had seen his disgrace.

“There is a palm-leaf for the princess,” he said. “The old phoenix, the only one in the world, gave it to me himself. He has scratched on it with his beak the whole of his history during the hundred years he has lived. She can there read how the old phoenix set fire to his own nest, and sat upon it while it was burning, like a Hindoo widow. The dry twigs around the nest crackled and smoked till the flames burst forth and consumed the phoenix to ashes. Amidst the fire lay an egg, red hot, which presently burst with a loud report, and out flew a young bird. He is the only phoenix in the world, and the king over all the other birds. He has bitten a hole in the leaf which I give you, and that is his greeting to the princess.”

“Now let us have something to eat,” said the mother of the Winds. So they all sat down to feast on the roasted stag; and as the prince sat by the side of the East Wind, they soon became good friends.

“Pray tell me,” said the prince, “who is that princess of whom you have been talking! and where lies the garden of paradise?”

“Ho! ho!” said the East Wind, “would you like to go there? Well, you can fly off with me to-morrow; but I must tell you one thing—no human being has been there since the time of Adam and Eve. I suppose you have read of them in your Bible.”

“Of course I have,” said the prince.

“Well,” continued the East Wind, “when they were driven out of the garden of paradise, it sunk into the earth; but it retained its warm sunshine, its balmy air, and all its splendor. The fairy queen lives there, in the island of happiness, where death never comes, and all is beautiful. I can manage to take you there to-morrow, if you will sit on my back. But now don’t talk any more, for I want to go to sleep;” and then they all slept.

When the prince awoke in the early morning, he was not a little surprised at finding himself high up above the clouds. He was seated on the back of the East Wind, who held him faithfully; and they were so high in the air that woods and fields, rivers and lakes, as they lay beneath them, looked like a painted map.

“Good morning,” said the East Wind. “You might have slept on a while; for there is very little to see in the flat country over which we are passing unless you like to count the churches; they look like spots of chalk on a green board.” The green board was the name he gave to the green fields and meadows.

“It was very rude of me not to say good-bye to your mother and your brothers,” said the prince.

“They will excuse you, as you were asleep,” said the East Wind; and then they flew on faster than ever.

The leaves and branches of the trees rustled as they passed. When they flew over seas and lakes, the waves rose higher, and the large ships dipped into the water like diving swans. As darkness came on, towards evening, the great towns looked charming; lights were sparkling, now seen now hidden, just as the sparks go out one after another on a piece of burnt paper. The prince clapped his hands with pleasure; but the East Wind advised him not to express his admiration in that manner, or he might fall down, and find himself hanging on a church steeple. The eagle in the dark forests flies swiftly; but faster than he flew the East Wind. The Cossack, on his small horse, rides lightly o’er the plains; but lighter still passed the prince on the winds of the wind.

“There are the Himalayas, the highest mountains in Asia,” said the East Wind. “We shall soon reach the garden of paradise now.”

Then, they turned southward, and the air became fragrant with the perfume of spices and flowers. Here figs and pomegranates grew wild, and the vines were covered with clusters of blue and purple grapes. Here they both descended to the earth, and stretched themselves on the soft grass, while the flowers bowed to the breath of the wind as if to welcome it. “Are we now in the garden of paradise?” asked the prince.

“No, indeed,” replied the East Wind; “but we shall be there very soon. Do you see that wall of rocks, and the cavern beneath it, over which the grape vines hang like a green curtain? Through that cavern we must pass. Wrap your cloak round you; for while the sun scorches you here, a few steps farther it will be icy cold. The bird flying past the entrance to the cavern feels as if one wing were in the region of summer, and the other in the depths of winter.”

“So this then is the way to the garden of paradise?” asked the prince, as they entered the cavern. It was indeed cold; but the cold soon passed, for the East Wind spread his wings, and they gleamed like the brightest fire. As they passed on through this wonderful cave, the prince could see great blocks of stone, from which water trickled, hanging over their heads in fantastic shapes. Sometimes it was so narrow that they had to creep on their hands and knees, while at other times it was lofty and wide, like the free air. It had the appearance of a chapel for the dead, with petrified organs and silent pipes. “We seem to be passing through the valley of death to the garden of paradise,” said the prince.

But the East Wind answered not a word, only pointed forwards to a lovely blue light which gleamed in the distance. The blocks of stone assumed a misty appearance, till at last they looked like white clouds in moonlight. The air was fresh and balmy, like a breeze from the mountains perfumed with flowers from a valley of roses. A river, clear as the air itself, sparkled at their feet, while in its clear depths could be seen gold and silver fish sporting in the bright water, and purple eels emitting sparks of fire at every moment, while the broad leaves of the water-lilies, that floated on its surface, flickered with all the colors of the rainbow. The flower in its color of flame seemed to receive its nourishment from the water, as a lamp is sustained by oil. A marble bridge, of such exquisite workmanship that it appeared as if formed of lace and pearls, led to the island of happiness, in which bloomed the garden of paradise. The East Wind took the prince in his arms, and carried him over, while the flowers and the leaves sang the sweet songs of his childhood in tones so full and soft that no human voice could venture to imitate. Within the garden grew large trees, full of sap; but whether they were palm-trees or gigantic water-plants, the prince knew not. The climbing plants hung in garlands of green and gold, like the illuminations on the margins of old missals or twined among the initial letters. Birds, flowers, and festoons appeared intermingled in seeming confusion. Close by, on the grass, stood a group of peacocks, with radiant tails outspread to the sun. The prince touched them, and found, to his surprise, that they were not really birds, but the leaves of the burdock tree, which shone with the colors of a peacock’s tail. The lion and the tiger, gentle and tame, were springing about like playful cats among the green bushes, whose perfume was like the fragrant blossom of the olive. The plumage of the wood-pigeon glistened like pearls as it struck the lion’s mane with its wings; while the antelope, usually so shy, stood near, nodding its head as if it wished to join in the frolic. The fairy of paradise next made her appearance. Her raiment shone like the sun, and her serene countenance beamed with happiness like that of a mother rejoicing over her child. She was young and beautiful, and a train of lovely maidens followed her, each wearing a bright star in her hair. The East Wind gave her the palm-leaf, on which was written the history of the phoenix; and her eyes sparkled with joy. She then took the prince by the hand, and led him into her palace, the walls of which were richly colored, like a tulip-leaf when it is turned to the sun. The roof had the appearance of an inverted flower, and the colors grew deeper and brighter to the gazer. The prince walked to a window, and saw what appeared to be the tree of knowledge of good and evil, with Adam and Eve standing by, and the serpent near them. “I thought they were banished from paradise,” he said.

The princess smiled, and told him that time had engraved each event on a window-pane in the form of a picture; but, unlike other pictures, all that it represented lived and moved,—the leaves rustled, and the persons went and came, as in a looking-glass. He looked through another pane, and saw the ladder in Jacob’s dream, on which the angels were ascending and descending with outspread wings. All that had ever happened in the world here lived and moved on the panes of glass, in pictures such as time alone could produce. The fairy now led the prince into a large, lofty room with transparent walls, through which the light shone. Here were portraits, each one appearing more beautiful than the other—millions of happy beings, whose laughter and song mingled in one sweet melody: some of these were in such an elevated position that they appeared smaller than the smallest rosebud, or like pencil dots on paper. In the centre of the hall stood a tree, with drooping branches, from which hung golden apples, both great and small, looking like oranges amid the green leaves. It was the tree of knowledge of good and evil, from which Adam and Eve had plucked and eaten the forbidden fruit, and from each leaf trickled a bright red dewdrop, as if the tree were weeping tears of blood for their sin. “Let us now take the boat,” said the fairy: “a sail on the cool waters will refresh us. But we shall not move from the spot, although the boat may rock on the swelling water; the countries of the world will glide before us, but we shall remain still.”

It was indeed wonderful to behold. First came the lofty Alps, snow-clad, and covered with clouds and dark pines. The horn resounded, and the shepherds sang merrily in the valleys. The banana-trees bent their drooping branches over the boat, black swans floated on the water, and singular animals and flowers appeared on the distant shore. New Holland, the fifth division of the world, now glided by, with mountains in the background, looking blue in the distance. They heard the song of the priests, and saw the wild dance of the savage to the sound of the drums and trumpets of bone; the pyramids of Egypt rising to the clouds; columns and sphinxes, overthrown and buried in the sand, followed in their turn; while the northern lights flashed out over the extinguished volcanoes of the north, in fireworks none could imitate.

The prince was delighted, and yet he saw hundreds of other wonderful things more than can be described. “Can I stay here forever?” asked he.

“That depends upon yourself,” replied the fairy. “If you do not, like Adam, long for what is forbidden, you can remain here always.”

“I should not touch the fruit on the tree of knowledge,” said the prince; there is abundance of fruit equally beautiful.”

“Examine your own heart,” said the princess, “and if you do not feel sure of its strength, return with the East Wind who brought you. He is about to fly back, and will not return here for a hundred years. The time will not seem to you more than a hundred hours, yet even that is a long time for temptation and resistance. Every evening, when I leave you, I shall be obliged to say, ‘Come with me,’ and to beckon to you with my hand. But you must not listen, nor move from your place to follow me; for with every step you will find your power to resist weaker. If once you attempted to follow me, you would soon find yourself in the hall, where grows the tree of knowledge, for I sleep beneath its perfumed branches. If you stooped over me, I should be forced to smile. If you then kissed my lips, the garden of paradise would sink into the earth, and to you it would be lost. A keen wind from the desert would howl around you; cold rain fall on your head, and sorrow and woe be your future lot.”

“I will remain,” said the prince.

So the East Wind kissed him on the forehead, and said, “Be firm; then shall we meet again when a hundred years have passed. Farewell, farewell.” Then the East Wind spread his broad pinions, which shone like the lightning in harvest, or as the northern lights in a cold winter.

“Farewell, farewell,” echoed the trees and the flowers.

Storks and pelicans flew after him in feathery bands, to accompany him to the boundaries of the garden.

“Now we will commence dancing,” said the fairy; “and when it is nearly over at sunset, while I am dancing with you, I shall make a sign, and ask you to follow me: but do not obey. I shall be obliged to repeat the same thing for a hundred years; and each time, when the trial is past, if you resist, you will gain strength, till resistance becomes easy, and at last the temptation will be quite overcome. This evening, as it will be the first time, I have warned you.”

After this the fairy led him into a large hall, filled with transparent lilies. The yellow stamina of each flower formed a tiny golden harp, from which came forth strains of music like the mingled tones of flute and lyre. Beautiful maidens, slender and graceful in form, and robed in transparent gauze, floated through the dance, and sang of the happy life in the garden of paradise, where death never entered, and where all would bloom forever in immortal youth. As the sun went down, the whole heavens became crimson and gold, and tinted the lilies with the hue of roses. Then the beautiful maidens offered to the prince sparkling wine; and when he had drank, he felt happiness greater than he had ever known before. Presently the background of the hall opened and the tree of knowledge appeared, surrounded by a halo of glory that almost blinded him. Voices, soft and lovely as his mother’s sounded in his ears, as if she were singing to him, “My child, my beloved child.” Then the fairy beckoned to him, and said in sweet accents, “Come with me, come with me.” Forgetting his promise, forgetting it even on the very first evening, he rushed towards her, while she continued to beckon to him and to smile. The fragrance around him overpowered his senses, the music from the harps sounded more entrancing, while around the tree appeared millions of smiling faces, nodding and singing. “Man should know everything; man is the lord of the earth.” The tree of knowledge no longer wept tears of blood, for the dewdrops shone like glittering stars.

“Come, come,” continued that thrilling voice, and the prince followed the call. At every step his cheeks glowed, and the blood rushed wildly through his veins. “I must follow,” he cried; “it is not a sin, it cannot be, to follow beauty and joy. I only want to see her sleep, and nothing will happen unless I kiss her, and that I will not do, for I have strength to resist, and a determined will.”

The fairy threw off her dazzling attire, bent back the boughs, and in another moment was hidden among them.

“I have not sinned yet,” said the prince, “and I will not;” and then he pushed aside the boughs to follow the princess. She was lying already asleep, beautiful as only a fairy in the garden of paradise could be. She smiled as he bent over her, and he saw tears trembling out of her beautiful eyelashes. “Do you weep for me?” he whispered. “Oh weep not, thou loveliest of women. Now do I begin to understand the happiness of paradise; I feel it to my inmost soul, in every thought. A new life is born within me. One moment of such happiness is worth an eternity of darkness and woe.” He stooped and kissed the tears from her eyes, and touched her lips with his.

A clap of thunder, loud and awful, resounded through the trembling air. All around him fell into ruin. The lovely fairy, the beautiful garden, sunk deeper and deeper. The prince saw it sinking down in the dark night till it shone only like a star in the distance beneath him. Then he felt a coldness, like death, creeping over him; his eyes closed, and he became insensible.

When he recovered, a chilling rain was beating upon him, and a sharp wind blew on his head. “Alas! what have I done?” he sighed; “I have sinned like Adam, and the garden of paradise has sunk into the earth.” He opened his eyes, and saw the star in the distance, but it was the morning star in heaven which glittered in the darkness.

Presently he stood up and found himself in the depths of the forest, close to the cavern of the Winds, and the mother of the Winds sat by his side. She looked angry, and raised her arm in the air as she spoke. “The very first evening!” she said. “Well, I expected it! If you were my son, you should go into the sack.”

“And there he will have to go at last,” said a strong old man, with large black wings, and a scythe in his hand, whose name was Death. “He shall be laid in his coffin, but not yet. I will allow him to wander about the world for a while, to atone for his sin, and to give him time to become better. But I shall return when he least expects me. I shall lay him in a black coffin, place it on my head, and fly away with it beyond the stars. There also blooms a garden of paradise, and if he is good and pious he will be admitted; but if his thoughts are bad, and his heart is full of sin, he will sink with his coffin deeper than the garden of paradise has sunk. Once in every thousand years I shall go and fetch him, when he will either be condemned to sink still deeper, or be raised to a happier life in the world beyond the stars.”

 

                              Translate into Vietnamese by Phan Thien Tri

                                                      June, 2022

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

MUA RAO  - Hwang sun Won (uo) https://gtvh51.blogspot.com/2024/10/rao-sun-won-han-quoc-ngay-khi-cau-be.html