MẸ CÂY LÂU NĂM
Hans Christian Andersen
Phan Thiện Trì dịch
Thuở nọ, có một cậu bé bị cảm lạnh; cậu ấy đã đi ra ngoài và chân bị ướt. Không ai biết ít nhất nó đã xảy ra như thế nào; thời tiết khá khô ráo. Mẹ cậu cởi quần áo cho cậu, đặt cậu lên giường và ra lệnh mang ấm trà vào, để bà có thể pha cho cậu một tách trà ngon từ những bông cây già nhỏ đang còn rất ấm. Cùng lúc đó, ông lão tốt bụng sống một mình ở tầng trên của ngôi nhà bước vào; ông ấy sống một cuộc đời cô đơn, vì ông không có vợ và con cái; nhưng ông rất yêu trẻ con của những người khác, và ông có thể kể rất nhiều câu chuyện cổ tích và rất vui khi được nghe ông ấy kể.
“Bây giờ, hãy uống trà của con đi,” bà mẹ nói; "Có lẽ con sẽ nghe một câu chuyện."
“Vâng, nếu tôi chỉ biết một câu chuyện mới,” ông già nói và mỉm cười gật đầu. “Nhưng làm thế nào mà cậu bạn nhỏ lại bị làm ướt chân?” ông hỏi.
"Điều đó," người mẹ trả lời, "không ai có thể hiểu được."
"Ông sẽ kể cho cháu một câu chuyện chứ?" cậu bé hỏi.
“Vâng, nếu cậu bạn nhỏ có thể cho ông biết càng chi tiết càng tốt về cái rãnh nước sâu bao nhiêu trên con phố nhỏ nơi bạn đi đến trường.”
“Chỉ sâu bằng nửa đôi ủng của cháu,” cậu bé đáp; "Nhưng sau đó cháu phải đứng trong những hố sâu nhất."
“Đó, bây giờ chúng ta biết bạn đã bị ướt chân ở đâu,” ông già nói. "Ta sẽ kể cho bạn một câu chuyện, nhưng điều tồi tệ nhất của câu chuyện là, tôi không biết nữa."
“Ông có thể nghĩ ra một chuyện,” cậu bé nói. "Mẹ nói rằng ông có thể kể một câu chuyện cổ tích về bất cứ thứ gì ông nhìn hoặc chạm vào."
Đó là tất cả những chuyện rất hay, nhưng những câu chuyện kể về thần tiên hoặc câu chuyện thật như vậy không có giá trị gì! Không, những câu chuyện thật tự chúng đến và gõ vào trán ông và nói: "Tôi đây."
"Sẽ không có một cú gõ sao?" cậu bé hỏi; và người mẹ mỉm cười trong khi cho hoa cây lâu năm vào ấm trà và đổ nước sôi lên trên. "Xin ông, hãy kể cho cháu nghe một câu chuyện đi."
“Vâng, nếu những câu chuyện tự đến; chúng rất tự hào, chúng chỉ đến khi chúng vui lòng. - Nhưng khoan đã, ” ông ta đột ngột nói,“ Có rồi.. Nhìn vào ấm trà kìa; giờ thì đã có một câu chuyện trong đó. "
Và cậu bé nhìn vào ấm trà; nắp ấm nâng dần lên, cây lâu năm trổ ra từng bông một, tươi tắn và trắng ngần; những cành dài nẩy ra; thậm chí ra khỏi vòi, chúng mọc ra mọi hướng, và tạo thành một bụi cây lúp xúp — không, một cây cổ thụ lớn, vươn cành đến tận giường và đẩy rèm sang một bên; và có rất nhiều hoa và hương thơm ngào ngạc! Ở giữa cái cây, là một bà lão trông rất nhân từ với bộ y phục kỳ lạ; nó xanh như lá và được điểm xuyết bằng những bông hoa lớn màu trắng, đến nỗi khó có thể nói đó là vải thật, hay lá và hoa của cây đại thụ.
"Tên bà lão này là gì?" cậu bé hỏi.
“Chà, người La Mã và người Hy Lạp thường gọi bà ấy là Dryad,” ông lão nói; “Nhưng chúng tôi không hiểu điều đó. Họ đặt cho bà ấy một cái tên hay hơn; ở đó bà được gọi là Mẹ Cây Lâu Năm. Bây giờ, cháu phải chăm chú lắng nghe bà ấy nói và nhìn vào cây cổ thụ xanh tươi xinh đẹp.
“Chỉ một cái cây lớn như vậy, phủ đầy hoa, nổi bật ở đó; nó mọc ở góc sân nhỏ khiêm tốn; hai người lớn tuổi đang ngồi dưới gốc cây này, trong một buổi chiều nắng đẹp. Người đàn ông là một cựu thủy thủ già, và người đàn bà là vợ của ông ta; Họ đã có chắt, và sắp tổ chức kỷ niệm đám cưới vàng, nhưng họ không thể nhớ ngày tháng, và Mẹ cây lâu năm đang ngồi trên cây và trông hài lòng như bà này ở đây. “Ta biết rất rõ khi nào đám cưới vàng sẽ diễn ra,” bà lão mẹ cây lâu năm nói; nhưng họ không nghe thấy - họ đang say mê nói về những thời dĩ vãng xa xưa.
“Chà, bạn có nhớ không?” Người thủy thủ già nói, “khi chúng tôi còn khá nhỏ và thường chạy nhảy và nô đùa — nó ở chính cái sân nơi chúng tôi đang ở bây giờ — chúng tôi thường tỉa những cành cây nhỏ xuống đất và dọn dẹp vườn tược”.
“Vâng,” bà lão nói,“ Tôi nhớ rất rõ; chúng tôi đã từng tưới nước các cành cây, và một trong số chúng, một cành cây già, bén rễ, lớn lên và trở thành cây lâu năm mà chúng tôi đang ngồi như những người già.”
“Chắc chắn, bạn đúng,” ông lão nói; ‘Và trong góc đằng xa kia có một bồn nước lớn; ở đó tôi đã từng chèo chiếc thuyền, mà tôi đã tự cắt và làm ra – nó trương buồm đi rất tốt; nhưng chẳng bao lâu sau, tôi phải đi chèo thuyền ở xứ sở khác. "
“Nhưng trước tiên chúng tôi đến trường để học một thứ gì đó,” bà ấy nói, “và sau đó chúng tôi đã được xác nhận; cả hai chúng tôi đều khóc vào ngày hôm đó, nhưng vào buổi chiều chúng tôi tay trong tay đi ra ngoài, leo lên tháp tròn cao và nhìn ra thế giới rộng lớn ngay bên trên thành phố Copenhagen và biển cả; sau đó chúng tôi đi bộ đến Fredericksburg, nơi nhà vua và hoàng hậu đang chèo chiếc du thuyền lộng lẫy của họ trên những con kênh đào".
“Nhưng ngay sau đó tôi phải đi thuyền đến một nơi khác, và trong nhiều năm tôi đã đi du lịch xa nhà. ”
“Và tôi thường khóc về ông, vì tôi sợ ông sẽ bị chết chìm và nằm sâu dưới đáy biển. Lắm lần tôi thức dậy trong đêm và nhìn xem chiếc chong chóng chỉ hướng gió đã quay lại chưa; nó quay hướng lại thường xuyên, nhưng ông đã không trở lại. Tôi nhớ rõ một ngày: mưa như trút nước; người đàn ông dọn rác đã đến nhà nơi tôi đang phục vụ; Tôi đi xuống với thùng rác và đứng một lúc ở ngưỡng cửa, và nhìn vào thời tiết có mưa ướt át. Sau đó người đưa thư đưa cho tôi một lá thư; nó là từ ông. Trời đất! bức thư đó đã đi như thế nào. Tôi xé nó ra và đọc; Tôi đã khóc và cười cùng một lúc, và rất hạnh phúc! Trong đó có viết rằng ông đã ở trong những xứ sở nhiệt đới, nơi cà phê phát triển rất nổi tiếng. Đây phải là những xứ sở kỳ diệu. Ông đã nói rất nhiều về những quốc gia đó, và tôi đã đọc tất cả trong khi mưa như trút nước và tôi đứng đó với thùng rác. Rồi đột nhiên có người quàng tay qua eo tôi— '
“Vâng, và bà đã tặng cho gã ta một cái vỗ nồng nhiệt lên má gã,” ông già nói.
“Tôi không biết đó là ông — ông đã đến nhanh như bức thư của ông; và ông trông rất đẹp trai, và vì ông vẫn như vậy. Ông có một chiếc khăn tay lụa màu vàng lớn trong túi và đội một chiếc mũ sáng chói. Ông trông thật tuyệt vời, và thời tiết trên đường phố lúc ấy thật kinh khủng! "
“Sau đó chúng tôi kết hôn,” ông ấy nói. "Bà có nhớ làm thế nào chúng ta có được cậu con trai đầu lòng, và sau đó là Mary, Niels, Peter, John và Christian không?"
“Ồ, có; và bây giờ chúng đều đã trưởng thành và trở thành những thành viên hữu ích của xã hội, những người mà mọi người đều quan tâm”.
“Và con cái của chúng đã có con nữa, ”người thủy thủ già nói. "Đúng, đây là những đứa con của các con, chúng rất cường tráng và khỏe mạnh. Nếu tôi không nhầm thì đám cưới của chúng ta diễn ra vào đúng mùa này trong năm.”
“Vâng, ngày hôm nay là ngày kỷ niệm đám cưới vàng của hai bạn,” bà mẹ cây lâu năm nói, cúi đầu chào hai người già, mà họ nghĩ rằng bà là hàng xóm của họ đang gật đầu với họ; họ nhìn nhau và nắm chặt tay nhau. Chẳng bao lâu sau, các con, và các cháu đến, vì chúng biết rất rõ đó là ngày cưới vàng; chúng đã chúc họ vui vẻ và hạnh phúc trong buổi sáng, nhưng ông bà già đã quên điều đó, mặc dù họ nhớ rất rõ những điều đã qua nhiều, rất nhiều năm về trước. Cây đại thụ tỏa mùi thơm nồng nàn, mặt trời lặn soi sáng gương mặt của hai người già khiến họ trông khá hồng hào; đứa trẻ nhất trong số các cháu nhảy múa xung quanh họ, và vui mừng reo lên rằng sẽ có một bữa tiệc vào buổi tối, vì họ đã có chuẩn bị khoai tây nóng; và người mẹ cây cao tuổi gật đầu từ trên cây và kêu lên "Hoan hô" với những người khác. "
Nhưng đó không phải là câu chuyện cổ tích, ”cậu bé đã lắng nghe nó và nói.
“Ngay bây giờ bạn sẽ hiểu nó,” ông già kể chuyện nói. "Chúng ta hãy hỏi Mẹ cây lâu năm về điều đó."
“Đó không phải là câu chuyện cổ tích,” bà Mẹ cây lâu năm nói; “Nhưng, kìa, bây giờ nó đến rồi! Cuộc sống thực cung cấp cho chúng ta những chủ đề cho những câu chuyện cổ tích tuyệt vời nhất; vì nếu không thì bụi cây già rậm rạp xinh đẹp của tôi đã không thể mọc ra khỏi ấm trà”.
Và sau đó bà đưa cậu bé ra khỏi giường và đặt cậu lên ngực bà; những cành già, đầy hoa, khép lại trên chúng; cứ như thể họ ngồi trong một cái cây có lá dày bay cùng họ trong không khí; nó đẹp vượt ngoài sự miêu tả. Bà mẹ cây lâu năm nhỏ bé bỗng trở thành một thiếu nữ duyên dáng, nhưng y phục của bà vẫn bằng chất liệu xanh, phủ đầy hoa trắng, như bà mẹ cây lâu năm đã mặc; bà ấy có một bông hoa già thật trên ngực, và một vòng hoa kết bằng những bông hoa giống hoa đó quấn quanh mái tóc vàng xoắn của cô ấy; đôi mắt của cô rất to và xanh đến mức thật tuyệt vời khi nhìn vào chúng. Cô và cậu đã hôn nhau, rồi họ bằng tuổi nhau và cùng cảm nhận những niềm vui. Họ dắt tay nhau bước ra khỏi bụi cây, và bây giờ đang đứng ở ngôi nhà trong một vườn hoa xinh đẹp. Gần bãi cỏ xanh, chiếc gậy chống của người cha được buộc vào cột. Có sự sống trong chiếc gậy này dành cho cặp tình nhân nhỏ, vì ngay khi chúng ngồi lên nó, cái núm bóng loáng đã biến thành đầu một con ngựa đang ngoe nguẩy, một chiếc bờm đen dài tung bay trong gió và bốn chiếc chân thon dài chắc khỏe mọc ra. Con vật bốc lửa và tràn đầy khí thế; họ phi nước đại quanh bãi cỏ. "Hoan hô! bây giờ chúng ta sẽ đi xa, nhiều dặm! " cậu bé nói; "Chúng ta sẽ cỡi đến điền trang của nhà quý tộc nơi chúng ta đã ở hồi năm ngoái." Và họ lại đi vòng quanh bãi cỏ, và đứa bé gái, như chúng ta biết, không ai khác hơn là bà Mẹ của cây lâu năm già nhỏ, liên tục kêu lên, “Bây giờ chúng ta đang ở trong một xứ sở! Bạn có thấy ngôi nhà trang trại ở đó, với cái lò nướng lớn, nhô ra khỏi bức tường như một quả trứng khổng lồ ra đường không? Cây cổ thụ vươn cành trên đó, gà trống cựa quậy và cào đất cho gà mái. Nhìn cậu bé ấy tự hào làm sao! Bây giờ chúng ta đang ở gần nhà thờ; nó đứng trên một ngọn đồi cao, dưới những tán cây sồi; một trong số chúng đã chết một nửa! Bây giờ chúng ta đang ở lò rèn, nơi lửa gầm thét và những người đàn ông ở trần nửa thân đập bằng búa của họ để các tia lửa bay ra tứ phía. Chúng ta hãy đi đến trang trại xinh đẹp! ” Và họ đi ngang qua mọi thứ mà cô bé ngồi sau trên cây gậy mô tả, và cậu bé đã nhìn thấy, nhưng họ chỉ đi một vòng quanh bãi cỏ. Sau đó, họ đi dạo bên lề đường, và phát hiện một khu vườn nhỏ trên mặt đất; cô bé lấy những bông hoa già ra khỏi tóc của mình và trồng chúng, và chúng phát triển giống hệt như những người già đã trồng khi họ còn nhỏ, như chúng ta đã nghe trước đây. Họ tay trong tay đi dạo, giống như cặp vợ chồng già đã làm khi họ còn nhỏ, nhưng họ không đi đến ngôi tháp tròn cao vút, cũng không đến khu vườn Fredericksburg. Không; cô gái nhỏ ôm lấy chàng trai vòng qua eo, và bay sâu vào trong đất nước. Bây giờ là mùa xuân và trở thành mùa hạ, bây giờ là mùa thu và trở sang mùa đông, hàng ngàn bức tranh phản chiếu trong đôi mắt và trái tim của cậu bé, và cô bé luôn hát lại, “Con sẽ không bao giờ quên điều đó!” Và trong suốt chuyến bay của họ, cây cổ thụ có mùi thơm ngào ngạt; cậu bé để ý đến những bông hồng và những bông cây sồi tươi, nhưng cây đại thụ có mùi nồng hơn nhiều, vì những bông hoa này được đính trên ngực của cô bé, nơi mà cậu bé thường tựa đầu trong suốt chuyến bay.
“Ở đây rất đẹp vào mùa xuân,” cô bé nói, và họ lại ở trong rừng sồi xanh, nơi cỏ xạ hương tỏa hương thơm ngào ngạt dưới chân họ, và những bông hải quỳ hồng trông thật đáng yêu trong đám rêu xanh. "Ồ! mùa xuân luôn ở trong rừng sồi xanh ngan ngát hương thơm! "
Ở đây mùa hè thật lộng lẫy! ” cô ấy nói, và họ đi ngang qua những lâu đài cổ kính của thời đại hiệp sĩ. Những bức tường cao và những chiến lũy lõm xuống phản chiếu trong mặt nước của những con mương, trên đó những con thiên nga đang bơi và ngó vào những lối đi có cây rợp bóng mát ngày xưa. Cánh đồng ngô gợn sóng như biển vàng. Những bông hoa màu vàng và đỏ mọc trong ven mương, hoa bia dại và hoa bìm bìm nở rộ trong các bờ dậu. Vào buổi tối, mặt trăng mọc lên, to tròn và những đống cỏ khô trên đồng cỏ tỏa mùi thơm ngào ngạt. "Người ta không bao giờ có thể quên nó!"
"Ở đây mùa thu thật đẹp!" cô bé nói, và bầu không khí bên trên dường như cao gấp đôi và có màu xanh lam, trong khi khu rừng ánh lên màu đỏ thẫm, xanh lục và vàng. Những con chó săn đang rượt đuổi những đàn gà rừng bay vút lên vừa la hoảng trên những bãi đất trống, trong khi những bụi cây mâm xôi quấn lại xoay tròn quanh những phiến đá cũ. Mặt biển xanh thẫm chen chúc bởi những chiếc thuyền buồm màu trắng, và trong các nhà kho là những bà già, cô gái và trẻ em đang nhặt hoa bia bỏ vào một cái bồn lớn; những người trẻ tuổi hát những bài hát, và những người già kể những câu chuyện cổ tích về yêu tinh và phù thủy. Thật không thể dễ chịu hơn ở bất cứ đâu.
"Ở đây, vào mùa đông tiết trời thật dễ chịu!" cô bé nói, và tất cả cây cối đều bị sương muối bao phủ, trông chúng giống như san hô trắng. Tuyết rơi lộp độp dưới chân, như thể ta đang đi một đôi ủng mới. Hết ngôi sao băng này đến ngôi sao khác bay ngang qua bầu trời. Trong phòng, cây thông Noel được thắp sáng, và có thánh ca và có không khí giáng sinh vui vẻ. Trong ngôi nhà tranh của người nông dân, tiếng vĩ cầm vang lên và các trò chơi dành cho khu táo; ngay cả đứa trẻ nghèo nhất cũng nói, "Trời đẹp làm sao vào mùa đông!"
Và thực vậy, thật là tuyệt đẹp! Và cô gái nhỏ chỉ cho chàng trai xem mọi thứ, và cây lâu năm tiếp tục thở ra mùi thơm ngào ngạt, trong khi lá cờ đỏ với thánh giá trắng đang tung bay trong gió; đó là lá cờ mà dưới nó, người thủy thủ già đã phục vụ. Cậu bé đã trở thành một thanh niên; cậu ta đã đi ra thế giới rộng lớn, xa đến những quốc gia trồng cà phê.
Nhưng khi chia tay, cô gái nhỏ đã lấy một bông hoa già trên ngực mình và đưa cho cậu ta như một vật kỷ niệm. Cậu ta đặt nó vào cuốn sách cầu nguyện của mình, và mỗi khi cậu ta mở nó ở những vùng đất xa xôi, nó luôn nằm ở nơi có bông hoa tưởng nhớ; và cậu càng nhìn vào nó, nó càng tươi, đến nỗi cậu ta gần như có thể ngửi thấy mùi thơm của rừng ngay ở tại nhà. Cậu nhìn thấy rõ ràng cô gái nhỏ, với đôi mắt xanh sáng của cô, đang ló ra sau những cánh hoa, và nghe cô thì thầm: “Ở đây đẹp vào mùa xuân, mùa hè, mùa thu và mùa đông,” và hàng trăm bức ảnh lướt qua tâm trí của mình.
Như thế đã nhiều năm trôi qua. Bây giờ cậu bé đã trở thành một ông già, và đang ngồi cùng với người vợ già của mình dưới một cây cổ thụ đang nở hoa rực rỡ. Họ nắm tay nhau đúng như những gì ông cố và bà cố của họ đã làm bên ngoài, và cũng giống như họ, họ kể về những ngày đã qua và về đám cưới vàng của mình. Cô gái nhỏ với đôi mắt xanh và mái tóc đính những bông hoa cũ, đang ngồi cao trên cây, gật đầu với họ, và nói: "Ngày hôm nay là đám cưới vàng!" Và sau đó cô ấy lấy hai bông hoa ra khỏi vòng hoa của mình và hôn chúng. Lúc đầu chúng lấp lánh như bạc, sau đó như vàng, và khi cô đặt chúng lên đầu những người già, mỗi bông hoa trở thành một chiếc vương miện bằng vàng. Ở đó, cả hai đều ngồi như vua và hoàng hậu dưới gốc cây thơm dịu, trông giống hệt mẹ cây già, và anh kể cho vợ nghe câu chuyện về người mẹ của cây già như người ta đã kể khi anh còn nhỏ. Cả hai đều cho rằng câu chuyện có nhiều điểm giống như chuyện của họ, và họ thích nhất là những điểm tương đồng này.
“Đúng vậy,” cô bé trên cây nói. “Một số người gọi tôi là Mẹ Cây Lâu Năm nhỏ bé; những người khác gọi tôi là Dryad; nhưng tên thật của tôi là ‘Hoài Niệm.’ Chính tôi là người ngồi trong cây, lớn lên và phát triển. Tôi có thể nhớ mọi thứ và kể những câu chuyện! Nhưng hãy xem liệu bạn còn có được bông hoa của mình không”.
Và ông già mở cuốn sách cầu nguyện của mình; Bông hoa già vẫn còn trong đó, và tươi như thể nó vừa mới được đặt vào. Hoài Niệm gật đầu, và hai người già, đội vương miện vàng trên đầu, ngồi trong ánh nắng chiều rực rỡ. Họ nhắm mắt lại và — và—
Chà, bây giờ câu chuyện đã kết thúc! Cậu bé trên giường không biết đã mơ hay đã nghe kể về nó; ấm trà đặt trên bàn, nhưng không có cây cổ thụ nào mọc ra khỏi nó, và người đàn ông già đã kể câu chuyện đang chuẩn bị rời khỏi phòng, và ông đã đi ra ngoài.
"Câu chuyện kể đẹp làm sao!" cậu bé nói. "Mẹ, con đã đến những xứ sở ấm áp!"
“Mẹ tin con,” bà mẹ nói; "Nếu một người uống hai tách trà nóng thì việc người ta vào đất nước ấm là điều hoàn toàn tự nhiên!" Và bà đã đắp cho cậu ấy rất kỹ để không bị lạnh.
“Con đã ngủ say ngon lành, trong khi mẹ tranh luận với ông già xem liệu đó là câu chuyện thật hay truyện cổ tích kể về thần tiên”.
"Và Mẹ của Cây Lâu Năm nhỏ đã trở thành cái gì?" cậu bé hỏi.
“Bà ấy đang ở trong ấm trà,” bà mẹ nói; "Và bà ấy có thể vẫn ở đó”.
Phan Thiện Trì dịch
April, 2022
THE LITTLE ELDER - TREE MOTHER
by Hans Christian Andersen
translated by Phan Thien Tri
THERE was once a little boy who had caught cold; he had gone out and got wet feet. Nobody had the least idea how it had happened; the weather was quite dry. His mother undressed him, put him to bed, and ordered the teapot to be brought in, that she might make him a good cup of tea from the elder-tree blossoms, which is so warming. At the same time, the kind-hearted old man who lived by himself in the upper storey of the house came in; he led a lonely life, for he had no wife and children; but he loved the children of others very much, and he could tell so many fairy tales and stories, that it was a pleasure to hear him.
“Now, drink your tea,” said the mother; “perhaps you will hear a story.”
“Yes, if I only knew a fresh one,” said the old man, and nodded smilingly. “But how did the little fellow get his wet feet?” he then asked.
“That,” replied the mother, “nobody can understand.”
“Will you tell me a story?” asked the boy.
“Yes, if you can tell me as nearly as possible how deep is the gutter in the little street where you go to school.”
“Just half as high as my top-boots,” replied the boy; “but then I must stand in the deepest holes.”
“There, now we know where you got your wet feet,” said the old man. “I ought to tell you a story, but the worst of it is, I do not know any more.”
“You can make one up,” said the little boy. “Mother says you can tell a fairy tale about anything you look at or touch.”
“That is all very well, but such tales or stories are worth nothing! No, the right ones come by themselves and knock at my forehead saying: ‘Here I am.’”
“Will not one knock soon?” asked the boy; and the mother smiled while she put elder-tree blossoms into the teapot and poured boiling water over them. “Pray, tell me a story.”
“Yes, if stories came by themselves; they are so proud, they only come when they please.—But wait,” he said suddenly, “there is one. Look at the teapot; there is a story in it now.”
And the little boy looked at the teapot; the lid rose up gradually, the elder-tree blossoms sprang forth one by one, fresh and white; long boughs came forth; even out of the spout they grew up in all directions, and formed a bush—nay, a large elder tree, which stretched its branches up to the bed and pushed the curtains aside; and there were so many blossoms and such a sweet fragrance! In the midst of the tree sat a kindly-looking old woman with a strange dress; it was as green as the leaves, and trimmed with large white blossoms, so that it was difficult to say whether it was real cloth, or the leaves and blossoms of the elder-tree.
“What is this woman’s name?” asked the little boy.
“Well, the Romans and Greeks used to call her a Dryad,” said the old man; “but we do not understand that. Out in the sailors’ quarter they give her a better name; there she is called elder-tree mother. Now, you must attentively listen to her and look at the beautiful elder-tree.
“Just such a large tree, covered with flowers, stands out there; it grew in the corner of an humble little yard; under this tree sat two old people one afternoon in the beautiful sunshine. He was an old, old sailor, and she his old wife; they had already great-grandchildren, and were soon to celebrate their golden wedding, but they could not remember the date, and the elder-tree mother was sitting in the tree and looked as pleased as this one here. ‘I know very well when the golden wedding is to take place,’ she said; but they did not hear it—they were talking of bygone days.
“‘Well, do you remember?’ said the old sailor, ‘when we were quite small and used to run about and play—it was in the very same yard where we now are—we used to put little branches into the ground and make a garden.’
“‘Yes,’ said the old woman, ‘I remember it very well; we used to water the branches, and one of them, an elder-tree branch, took root, and grew and became the large tree under which we are now sitting as old people.’
“‘Certainly, you are right,’ he said; ‘and in yonder corner stood a large water-tub; there I used to sail my boat, which I had cut out myself—it sailed so well; but soon I had to sail somewhere else.’
“‘But first we went to school to learn something,’ she said, ‘and then we were confirmed; we both wept on that day, but in the afternoon we went out hand in hand, and ascended the high round tower and looked out into the wide world right over Copenhagen and the sea; then we walked to Fredericksburg, where the king and the queen were sailing about in their magnificent boat on the canals.’
“‘But soon I had to sail about somewhere else, and for many years I was travelling about far away from home.’
“‘And I often cried about you, for I was afraid lest you were drowned and lying at the bottom of the sea. Many a time I got up in the night and looked if the weathercock had turned; it turned often, but you did not return. I remember one day distinctly: the rain was pouring down in torrents; the dust-man had come to the house where I was in service; I went down with the dust-bin and stood for a moment in the doorway, and looked at the dreadful weather. Then the postman gave me a letter; it was from you. Heavens! how that letter had travelled about. I tore it open and read it; I cried and laughed at the same time, and was so happy! Therein was written that you were staying in the hot countries, where the coffee grows. These must be marvellous countries. You said a great deal about them, and I read all while the rain was pouring down and I was standing there with the dust-bin. Then suddenly some one put his arm round my waist—’
“‘Yes, and you gave him a hearty smack on the cheek,’ said the old man.
“‘I did not know that it was you—you had come as quickly as your letter; and you looked so handsome, and so you do still. You had a large yellow silk handkerchief in your pocket and a shining hat on. You looked so well, and the weather in the street was horrible!’
“‘Then we married,’ he said. ‘Do you remember how we got our first boy, and then Mary, Niels, Peter, John, and Christian?’
‘Oh yes; and now they have all grown up, and have become useful members of society, whom everybody cares for.’
“‘And their children have had children again,’ said the old sailor. ‘Yes, these are children’s children, and they are strong and healthy. If I am not mistaken, our wedding took place at this season of the year.’
“‘Yes, to-day is your golden wedding-day,’ said the little elder-tree mother, stretching her head down between the two old people, who thought that she was their neighbour who was nodding to them; they looked at each other and clasped hands. Soon afterwards the children and grandchildren came, for they knew very well that it was the golden wedding-day; they had already wished them joy and happiness in the morning, but the old people had forgotten it, although they remembered things so well that had passed many, many years ago. The elder-tree smelt strongly, and the setting sun illuminated the faces of the two old people, so that they looked quite rosy; the youngest of the grandchildren danced round them, and cried merrily that there would be a feast in the evening, for they were to have hot potatoes; and the elder mother nodded in the tree and cried ‘Hooray’ with the others.”
“But that was no fairy tale,” said the little boy who had listened to it.
“You will presently understand it,” said the old man who told the story. “Let us ask little elder-tree mother about it.”
“That was no fairy tale,” said the little elder-tree mother; “but now it comes! Real life furnishes us with subjects for the most wonderful fairy tales; for otherwise my beautiful elder-bush could not have grown forth out of the teapot.”
And then she took the little boy out of bed and placed him on her bosom; the elder branches, full of blossoms, closed over them; it was as if they sat in a thick leafy bower which flew with them through the air; it was beautiful beyond all description. The little elder-tree mother had suddenly become a charming young girl, but her dress was still of the same green material, covered with white blossoms, as the elder-tree mother had worn; she had a real elder blossom on her bosom, and a wreath of the same flowers was wound round her curly golden hair; her eyes were so large and so blue that it was wonderful to look at them. She and the boy kissed each other, and then they were of the same age and felt the same joys. They walked hand in hand out of the bower, and now stood at home in a beautiful flower garden. Near the green lawn the father’s walking-stick was tied to a post. There was life in this stick for the little ones, for as soon as they seated themselves upon it the polished knob turned into a neighing horse’s head, a long black mane was fluttering in the wind, and four strong slender legs grew out. The animal was fiery and spirited; they galloped round the lawn. “Hooray! now we shall ride far away, many miles!” said the boy; “we shall ride to the nobleman’s estate where we were last year.” And they rode round the lawn again, and the little girl, who, as we know, was no other than the little elder-tree mother, continually cried, “Now we are in the country! Do you see the farmhouse there, with the large baking stove, which projects like a gigantic egg out of the wall into the road? The elder-tree spreads its branches over it, and the cock struts about and scratches for the hens. Look how proud he is! Now we are near the church; it stands on a high hill, under the spreading oak trees; one of them is half dead! Now we are at the smithy, where the fire roars and the half-naked men beat with their hammers so that the sparks fly far and wide. Let’s be off to the beautiful farm!” And they passed by everything the little girl, who was sitting behind on the stick, described, and the boy saw it, and yet they only went round the lawn. Then they played in a side-walk, and marked out a little garden on the ground; she took elder-blossoms out of her hair and planted them, and they grew exactly like those the old people planted when they were children, as we have heard before. They walked about hand in hand, just as the old couple had done when they were little, but they did not go to the round tower nor to the Fredericksburg garden. No; the little girl seized the boy round the waist, and then they flew far into the country. It was spring and it became summer, it was autumn and it became winter, and thousands of pictures reflected themselves in the boy’s eyes and heart, and the little girl always sang again, “You will never forget that!” And during their whole flight the elder-tree smelt so sweetly; he noticed the roses and the fresh beeches, but the elder-tree smelt much stronger, for the flowers were fixed on the little girl’s bosom, against which the boy often rested his head during the flight.
“It is beautiful here in spring,” said the little girl, and they were again in the green beechwood, where the thyme breathed forth sweet fragrance at their feet, and the pink anemones looked lovely in the green moss. “Oh! that it were always spring in the fragrant beechwood!”
“Here it is splendid in summer!” she said, and they passed by old castles of the age of chivalry. The high walls and indented battlements were reflected in the water of the ditches, on which swans were swimming and peering into the old shady avenues. The corn waved in the field like a yellow sea. Red and yellow flowers grew in the ditches, wild hops and convolvuli in full bloom in the hedges. In the evening the moon rose, large and round, and the hayricks in the meadows smelt sweetly. “One can never forget it!”
“Here it is beautiful in autumn!” said the little girl, and the atmosphere seemed twice as high and blue, while the wood shone with crimson, green, and gold. The hounds were running off, flocks of wild fowl flew screaming over the barrows, while the bramble bushes twined round the old stones. The dark-blue sea was covered with white-sailed ships, and in the barns sat old women, girls, and children picking hops into a large tub; the young ones sang songs, and the old people told fairy tales about goblins and sorcerers. It could not be more pleasant anywhere.
“Here it’s agreeable in winter!” said the little girl, and all the trees were covered with hoar-frost, so that they looked like white coral. The snow creaked under one’s feet, as if one had new boots on. One shooting star after another traversed the sky. In the room the Christmas tree was lit, and there were song and merriment. In the peasant’s cottage the violin sounded, and games were played for apple quarters; even the poorest child said, “It is beautiful in winter!”
And indeed it was beautiful! And the little girl showed everything to the boy, and the elder-tree continued to breathe forth sweet perfume, while the red flag with the white cross was streaming in the wind; it was the flag under which the old sailor had served. The boy became a youth; he was to go out into the wide world, far away to the countries where the coffee grows. But at parting the little girl took an elder-blossom from her breast and gave it to him as a keepsake. He placed it in his prayer-book, and when he opened it in distant lands it was always at the place where the flower of remembrance was lying; and the more he looked at it the fresher it became, so that he could almost smell the fragrance of the woods at home. He distinctly saw the little girl, with her bright blue eyes, peeping out from behind the petals, and heard her whispering, “Here it is beautiful in spring, in summer, in autumn, and in winter,” and hundreds of pictures passed through his mind.
Thus many years rolled by. He had now become an old man, and was sitting, with his old wife, under an elder-tree in full bloom. They held each other by the hand exactly as the great-grandfather and the great-grandmother had done outside, and, like them, they talked about bygone days and of their golden wedding. The little girl with the blue eyes and elder-blossoms in her hair was sitting high up in the tree, and nodded to them, saying, “To-day is the golden wedding!” And then she took two flowers out of her wreath and kissed them. They glittered at first like silver, then like gold, and when she placed them on the heads of the old people each flower became a golden crown. There they both sat like a king and queen under the sweet-smelling tree, which looked exactly like an elder-tree, and he told his wife the story of the elder-tree mother as it had been told him when he was a little boy. They were both of opinion that the story contained many points like their own, and these similarities they liked best.
“Yes, so it is,” said the little girl in the tree. “Some call me Little Elder-tree Mother; others a Dryad; but my real name is ‘Remembrance.’ It is I who sit in the tree which grows and grows. I can remember things and tell stories! But let’s see if you have still got your flower.”
And the old man opened his prayer-book; the elder-blossom was still in it, and as fresh as if it had only just been put in. Remembrance nodded, and the two old people, with the golden crowns on their heads, sat in the glowing evening sun. They closed their eyes and—and—
Well, now the story is ended! The little boy in bed did not know whether he had dreamt it or heard it told; the teapot stood on the table, but no elder-tree was growing out of it, and the old man who had told the story was on the point of leaving the room, and he did go out.
“How beautiful it was!” said the little boy. “Mother, I have been to warm countries!”
“I believe you,” said the mother; “if one takes two cups of hot elder-tea it is quite natural that one gets into warm countries!” And she covered him up well, so that he might not take cold. “You have slept soundly while I was arguing with the old man whether it was a story or a fairy tale!”
“And what has become of the little elder-tree mother?” asked the boy.
“She is in the teapot,” said the mother; “and there she may remain.”
Translated into Vietnamese by Phan Thien Tri
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét