Thứ Tư, 28 tháng 12, 2022

 Tại Sao Biển là Muối

Asbjørnsen & Moe 
Norwegian (Na Uy)

 

Xưa thật là xưa, có hai anh em, một giàu và một rất nghèo.  Khi đêm Noel đến, người em nghèo không có lấy một miếng thịt hay bánh mì trong nhà; vì vậy cậu ta đến gặp anh trai mình và cầu xin anh ấy, nhân danh Chúa, cho cậu một cái gì đó cho ngày Giáng sinh. Thật hoàn toàn không phải là lần đầu tiên mà người anh buộc phải đưa thứ gì đó cho đứa em, và người em không hài lòng hơn khi được hỏi lần này so với anh thường được hỏi trước đây.

“Nếu chú làm theo những gì tôi yêu cầu, chú sẽ có cả một cái giăm bông,” anh ta nói.  Người em nghèo khó ngay lập tức cảm ơn ông anh và hứa điều này.

“Được, đây là miếng thịt giăm bông, và ngay bây giờ chú phải đến thẳng Lâu Đài của Thần Chết,” anh nhà giàu nói và ném miếng giăm bông cho cậu em.

“Vâng, em sẽ làm những gì em đã hứa,” người kia nói, và cầm lấy miếng giăm bông và lên đường. Anh đi và tiếp tục đi suốt một ngày dài bằng cả cuộc đời, và khi màn đêm buông xuống, anh đến một nơi có ánh sáng rực rỡ.

“Ta không nghi ngờ gì nữa đây chính là nơi ở của Thần Chết,” người đàn ông với miếng thịt giăm bông nghĩ.

Một ông già với bộ râu dài trắng như tuyết đang đứng tại nhà ngoài, chặt khúc gỗ Yule.

“Chào buổi tối,” người đàn ông với miếng thịt đùi lợn hông khói nói.

"Chào buổi tối.  Ông bạn đi đâu vào giờ muộn thế này? ”  người đàn ông với bộ râu trắng dài nói.

“Tôi sẽ đến Lâu Đài của Thần Chết, giá mà tôi đi đúng hướng,” người đàn ông tội nghiệp trả lời.

"Ồ!  vâng, ông bạn đã đi đúng, vì nó ở đây,” ông già râu bạc nói.  “Khi ông bạn vào bên trong, tất cả họ sẽ muốn mua miếng thịt giăm bông của bạn, vì họ không có nhiều thịt để ăn ở đó; nhưng bạn không được bán nó trừ khi bạn có thể đổi nó để lấy được cái cối xay tay, đứng sau cánh cửa.  Khi bạn trở ra, ta sẽ dạy bạn cách làm thế nào để dừng cối xay khi nó đang xay, một chiếc cối xay rất hữu ích cho hầu hết mọi thứ. ”

Vì vậy, người đàn ông với miếng thịt giăm bông cảm ơn lời khuyên tốt của người kia, rồi bước lên bậc thềm và đập cửa.

Khi anh ta vào trong, mọi chuyện xảy ra đúng như lời ông già râu bạc đã nói: tất cả mọi người, lớn nhỏ, vây quanh anh ta như những con kiến ​​trên tổ kiến, và mỗi người cố gắng trả giá cao hơn người kia cho miếng thịt đùi lợn hông khói.

“Theo quyền, bà nhà tôi và tôi phải có nó cho bữa tiệc Giáng sinh của chúng tôi, nhưng, vì các bạn đã đặt cả tấm lòng của các bạn vào nó, tôi phải nhường nó cho các bạn,” người đàn ông nói.  "Nhưng, nếu tôi bán nó, tôi sẽ có một cái cối xay tay đang ở phía sau cánh cửa kia, được chứ?”

Lúc đầu, họ không nghe điều này, và đã thương lượng và mặc cả với người đàn ông, nhưng ông ta kiên định với những gì ông đã nói, và người ta buộc phải đưa cho anh ta cái cối xay tay.  Khi người đàn ông bước ra sân trở lại, ông ta hỏi người thợ chẻ gỗ già làm cách nào để dừng chiếc cối xay tay, và khi biết được điều đó, ông ta cảm ơn rối rít và lên đường về nhà với tất cả tốc độ có thể, nhưng mãi đến sau khi đồng hồ điểm mười hai tiếng trong đêm Giáng sinh ông ta mới về đến nhà.

“Ông đã ở đâu trên thế giới này? "  bà vợ già  hỏi.  “Ở đây, tôi đã ngồi đợi hết giờ này đến giờ khác, và thậm chí không có đến hai que củi đặt chéo  lên nhau bên dưới nồi cháo Giáng sinh.”

"Ồ!  Tôi không thể trở về sớm hơn được; tôi đã có một việc rất quan trọng để xem kỹ, và cả một chặng đường dài phía trước để đi; nhưng bây giờ bà sẽ chỉ xem đây! "  Người đàn ông nói, rồi đặt chiếc cối xay tay trên bàn, và ra lệnh nó trước tiên là xay ra ánh sáng, rồi đến khăn trải bàn, sau đó là thịt và bia, và mọi thứ khác tốt cho bữa tiệc tối đêm Giáng sinh; và chiếc cối xay đã xay tất cả những gì ông ta đặt hàng.  "Cầu Chúa Ban phước lành cho con!" bà vợ nói khi lần lượt hết thứ này đến thứ khác xuất hiện; và bà ấy muốn biết chồng bà có được cái cối xay tay này từ đâu, nhưng ông ta nhất quyết không nói cho bà ta biết điều đó.

“Đừng bận tâm về việc tôi đã lấy nó ở đâu; bà có thể thấy rằng nó là một thứ tốt, và nước mà nó biến ra sẽ không bao giờ đóng băng,” người chồng nói. Vì vậy, ông đã xay thịt và món uống, và tất cả các loại món ngon vật lạ khác, để kéo dài hết mùa Giáng sinh, và vào ngày thứ ba, ông ta mời tất cả bạn bè của mình đến dự một bữa tiệc Giáng sinh rất hoành tráng.

Lúc bấy giờ, khi người anh giàu có nhìn thấy tất cả những gì có trong bữa tiệc và trong nhà, hắn ta vừa bực mình vừa tức giận, vì hắn đố kỵ với tất cả những gì em mình có được.  “Vào đêm Giáng sinh, nó nghèo đến mức đến gặp ta và cầu xin một món đồ lặt vặt, vì Chúa, mà bây giờ nó tổ chức một bữa tiệc như thể nó vừa là một bá tước vừa là một ông vua!” hắn nghĩ  “Nhưng, vì Đấng tối cao, hãy cho ta biết chú mày lấy đâu ra sự giàu có này,” hắn nói với em trai mình.

“Từ phía sau cánh cửa,” người sở hữu chiếc cối xay tay nói, vì cậu ta đã không chọn để làm hài lòng anh trai mình về điểm đó; nhưng vào buổi tối sau đó, khi cậu ta đã uống say mèm, không còn biết trời trăng gì nữa nên không thể kiềm chế để kể lại việc mình đã có được chiếc cối xay tay như thế nào.  "Đến đó anh sẽ thấy điều gì đã mang lại cho em tất cả sự giàu có hiện giờ!"  cậu ta nói, và mang chiếc cối xay tay ra, và ra lệnh cho nó xay, trước hết thứ này rồi đến thứ khác.  Khi người anh trai thấy vậy, hắn ta nhất quyết đòi có được chiếc cối xay, và sau rất nhiều lần thuyết phục, cuối cùng hắn cũng có được nó; nhưng hắn ta phải trả ba trăm đô la cho nó, và với điều kiện người em nghèo phải giữ nó cho đến khi việc dỡ cỏ phơi khô kết thúc, vì cậu ta nghĩ: “Nếu mình giữ nó lâu như vậy, mình có thể bảo nó xay thịt và thức uống nhiều đủ dùng cho suốt cả một năm dài.” Trong thời gian đó, bạn có thể tưởng tượng rằng cối xay không bị gỉ sét, và khi vụ thu hoạch mùa màng đến, người anh giàu có sẽ lấy nó, nhưng người em đã cẩn thận không dạy anh ta cách làm thế nào để dừng máy lại khi nó đang xay. 

Chính vào buổi tối mà người anh giàu có đưa chiếc cối xay về nhà, và vào buổi sáng, anh ta bảo vợ đi ra đồng để rải cỏ phơi khô theo sau các thợ cắt, và anh ta sẽ tự mình trông nom công việc nhà vào ngày hôm đó, anh ta nói.

Vì vậy, khi giờ ăn tối đến gần, anh đặt chiếc cối xay trên bàn nhà bếp và nói: “Hãy xay cá trích và súp thịt hầm với sữa, làm việc đó vừa nhanh vừa thật tốt nhé.”

Vì vậy, chiếc máy xay bắt đầu xay cá trích và súp thịt hầm với sữa, đầu tiên là tất cả các đĩa và các bình đựng sữa đều đầy ắp, sau đó nó tràn ra khắp sàn nhà bếp.  Người đàn ông vặn và xoay nó, và làm tất cả những gì có thể để làm cho chiếc cối xay dừng lại, nhưng, dù anh ta xoay nó và vặn nó bằng cách nào, thì cối xay vẫn tiếp tục xay, và chỉ trong một thời gian ngắn, súp sữa dâng cao đến mức người đàn ông giống như sắp bị chết đuối.  Vì vậy, hắn ta mở tung cửa phòng khách, nhưng không lâu sau chiếc máy xay cũng đã châm đầy phòng khách, và thật vô cùng khó khăn và nguy hiểm người đàn ông mới có thể đi qua dòng chảy của cháo sữa và nắm chặt lấy chốt cửa.

Khi mở được cửa, anh ta không ở lại lâu trong phòng mà chạy ra ngoài, nhưng cá trích và nước súp sữa tràn theo anh ta, nó tuôn ra cả trang trại và cánh đồng.  Lúc này, bà vợ anh ở ngoài đồng, đang trải cỏ khô bắt đầu nghĩ bữa tối còn lâu mới đến, và nói với những người phụ nữ và những thợ cắt cỏ: “Mặc dù ông chủ không gọi chúng ta về nhà, chúng ta cũng có thể đi.  Có thể là ông ấy thấy mình không giỏi trong việc nấu súp sữa và tôi nên giúp ông ấy một tay ”.  Vì vậy, họ bắt đầu đi lộn xộn rời rạc về phía nhà, nhưng khi đi được một đoạn đường lên đồi, họ bắt gặp nào là cá trích, súp sữa và bánh mì, tất cả tuôn chảy quanh co và xô đẩy lên nhau, và chính người đàn ông chồng bà đang chạy trước cơn lũ. 

“Ước gì mỗi trong số các người có một trăm cái bụng!  Hãy cẩn thận để các người không bị chết chìm trong nước súp sữa! ”  anh đã hô to khi chạy bên cạnh họ như thể quỷ dữ đang bám theo sát gót chân anh, xuống nơi đứa em trai anh đang ở.  Sau đó, anh cầu xin chú ấy, vì Chúa nhân từ, hãy lấy lại chiếc cối xay tay, và ngay lập tức, anh ta đã nói: “Nếu nó xay thêm một giờ nữa thì cả quận này sẽ bị phá hủy bởi cá trích và nước cháo sữa.”  Nhưng người em trai sẽ không lấy nó cho đến khi ông anh cậu ta trả thêm cho cậu ta ba trăm đô la nữa, và thế là người anh bắt buộc phải làm điều này.  

Bây giờ người em nghèo lại có cả tiền và chiếc cối xay tay.  Vì vậy, không lâu trước khi chú ấy có một ngôi nhà kiểu trang trại đẹp hơn nhiều so với căn nhà anh trai cậu ta đã sống, nhưng chiếc máy xay đã xay cho cậu ta nhiều tiền đến nỗi cậu ta phủ lên nó bằng những phiến vàng ròng; và ngôi nhà trang trại nằm sát bờ biển nên nó tỏa sáng lấp lánh xa xa ra biển. Giờ đây, tất cả những người đi thuyền đến đó đều phải được đưa vào để thăm viếng người đàn ông giàu có trong trang trại vàng, và mọi người đều muốn xem chiếc cối xay tuyệt vời, vì sự tường thuật về nó đã lan rộng khắp nơi, và không ai mà không nghe kể về nó.

Sau một thời gian dài, một người thuyền trưởng cũng mong muốn được nhìn thấy chiếc máy xay.  Thuyền trưởng này hỏi liệu nó có thể xay ra muối không.  “Có chứ, nó có thể tạo ra muối đấy,” người chủ sở hữu chiếc máy xay nói, và khi người thuyền trưởng nghe điều đó, anh ta ước với tất cả khả năng và sự giàu có của mình phải có được chiếc máy xay, dù nó có giá cao đến mức nào, anh ta nghĩ, nếu anh ta có nó, anh sẽ thoát khỏi việc phải trương buồm ra khơi xa trên vùng biển đầy hiểm nguy để có được những chuyến hàng muối.  Lúc đầu, người đàn ông không muốn nghe nói tới việc phải chia tay nó, nhưng người thuyền trưởng đã cầu xin và ước nguyện, cuối cùng người đàn ông đã bán nó cho vị thuyền trưởng, và nhận được nhiều, rất nhiều ngàn đô la cho nó.  Khi người thuyền trưởng mang chiếc máy xay vào lưng, anh ta không muốn ở lại lâu, vì anh sợ người đàn ông đó sẽ đổi ý, và anh ta không có thời gian để hỏi làm thế nào để khiến nó ngừng xay, nhưng anh đã lên tàu càng nhanh càng tốt. 

Khi đã ra khơi được một quãng đường, anh ta mang chiếc máy xay lên boong tàu. “Hãy xay muối, và xay vừa nhanh vừa tốt,” người thuyền trưởng nói. Vì vậy, chiếc máy xay bắt đầu xay muối, cho đến khi nó tuôn ra như nước, và khi thuyền trưởng đã có một chuyến tàu đầy muối, ông muốn dừng máy xay lại, nhưng xoay nó theo cách nào đi nữa, và ông cố gắng bao nhiêu đi nữa, nó vẫn tiếp tục xay, và đống muối ngày càng cao, cho đến khi con tàu bị chìm.  Có chiếc máy xay nằm sâu dưới đáy biển, và hết ngày này đến ngày khác, nó vẫn cứ xay;  và đó là lý do tại sao biển là muối.

                          Phan Thiện Trì dịch

                               October, 2022

Why the Sea is Salt

Asbjørnsen & Moe 
Norwegian

 

Once upon a time, long, long ago, there were two brothers, the one rich and the other poor. When Christmas Eve came, the poor one had not a bite in the house, either of meat or bread; so he went to his brother, and begged him, in God’s name, to give him something for Christmas Day. It was by no means the first time that the brother had been forced to give something to him, and he was not better pleased at being asked now than he generally was.

“If you will do what I ask you, you shall have a whole ham,” said he. The poor one immediately thanked him, and promised this.

“Well, here is the ham, and now you must go straight to Dead Man’s Hall,” said the rich brother, throwing the ham to him.

“Well, I will do what I have promised,” said the other, and he took the ham and set off. He went on and on for the livelong day, and at nightfall he came to a place where there was a bright light.

“I have no doubt this is the place,” thought the man with the ham.

An old man with a long white beard was standing in the outhouse, chopping Yule logs.

“Good-evening,” said the man with the ham.

“Good-evening to you. Where are you going at this late hour?” said the man.

“I am going to Dead Man’s Hall, if only I am on the right track,” answered the poor man.

“Oh! yes, you are right enough, for it is here,” said the old man. “When you get inside they will all want to buy your ham, for they don’t get much meat to eat there; but you must not sell it unless you can get the hand-mill which stands behind the door for it. When you come out again I will teach you how to stop the hand-mill, which is useful for almost everything.”

So the man with the ham thanked the other for his good advice, and rapped at the door.

When he got in, everything happened just as the old man had said it would: all the people, great and small, came round him like ants on an ant-hill, and each tried to outbid the other for the ham.

“By rights my old woman and I ought to have it for our Christmas dinner, but, since you have set your hearts upon it, I must just give it up to you,” said the man. “But, if I sell it, I will have the hand-mill which is standing there behind the door.”

At first they would not hear to this, and haggled and bargained with the man, but he stuck to what he had said, and the people were forced to give him the hand-mill. When the man came out again into the yard, he asked the old wood-cutter how he was to stop the hand-mill, and when he had learned that, he thanked him and set off home with all the speed he could, but did not get there until after the clock had struck twelve on Christmas Eve.

“Where in the world have you been?” said the old woman. “Here I have sat waiting hour after hour, and have not even two sticks to lay across each other under the Christmas porridge-pot.”

“Oh! I could not come before; I had something of importance to see about, and a long way to go, too; but now you shall just see!” said the man, and then he set the hand-mill on the table, and bade it first grind light, then a table-cloth, and then meat, and beer, and everything else that was good for a Christmas Eve’s supper; and the mill ground all that he ordered. “Bless me!” said the old woman as one thing after another appeared; and she wanted to know where her husband had got the mill from, but he would not tell her that.

“Never mind where I got it; you can see that it is a good one, and the water that turns it will never freeze,” said the man. So he ground meat and drink, and all kinds of good things, to last all Christmas-tide, and on the third day he invited all his friends to come to a feast.

Now when the rich brother saw all that there was at the banquet and in the house, he was both vexed and angry, for he grudged everything his brother had. “On Christmas Eve he was so poor that he came to me and begged for a trifle, for God’s sake, and now he gives a feast as if he were both a count and a king!” thought he. “But, for heaven’s sake, tell me where you got your riches from,” said he to his brother.

“From behind the door,” said he who owned the mill, for he did not choose to satisfy his brother on that point; but later in the evening, when he had taken a drop too much, he could not refrain from telling how he had come by the hand-mill. “There you see what has brought me all my wealth!” said he, and brought out the mill, and made it grind first one thing and then another. When the brother saw that, he insisted on having the mill, and after a great deal of persuasion got it; but he had to give three hundred dollars for it, and the poor brother was to keep it till the haymaking was over, for he thought: “If I keep it as long as that, I can make it grind meat and drink that will last many a long year.” During that time you may imagine that the mill did not grow rusty, and when hay- harvest came the rich brother got it, but the other had taken good care not to teach him how to stop it. It was evening when the rich man got the mill home, and in the morning he bade the old woman go out and spread the hay after the mowers, and he would attend to the house himself that day, he said.

So, when dinner-time drew near, he set the mill on the kitchen-table, and said: “Grind herrings and milk pottage, and do it both quickly and well.”

So the mill began to grind herrings and milk pottage, and first all the dishes and tubs were filled, and then it came out all over the kitchen-floor. The man twisted and turned it, and did all he could to make the mill stop, but, howsoever he turned it and screwed it, the mill went on grinding, and in a short time the pottage rose so high that the man was like to be drowned. So he threw open the parlor door, but it was not long before the mill had ground the parlor full too, and it was with difficulty and danger that the man could go through the stream of pottage and get hold of the door-latch.

When he got the door open, he did not stay long in the room, but ran out, and the herrings and pottage came after him, and it streamed out over both farm and field. Now the old woman, who was out spreading the hay, began to think dinner was long in coming, and said to the women and the mowers: “Though the master does not call us home, we may as well go. It may be that he finds he is not good at making pottage and I should do well to help him.” So they began to straggle homeward, but when they had got a little way up the hill they met the herrings and pottage and bread, all pouring forth and winding about one over the other, and the man himself in front of the flood. “Would to heaven that each of you had a hundred stomachs! Take care that you are not drowned in the pottage!” he cried as he went by them as if Mischief were at his heels, down to where his brother dwelt. Then he begged him, for God’s sake, to take the mill back again, and that in an instant, for, said he: “If it grind one hour more the whole district will be destroyed by herrings and pottage.” But the brother would not take it until the other paid him three hundred dollars, and that he was obliged to do. Now the poor brother had both the money and the mill again. So it was not long before he had a farmhouse much finer than that in which his brother lived, but the mill ground him so much money that he covered it with plates of gold; and the farmhouse lay close by the sea-shore, so it shone and glittered far out to sea. Everyone who sailed by there now had to be put in to visit the rich man in the gold farmhouse, and everyone wanted to see the wonderful mill, for the report of it spread far and wide, and there was no one who had not heard tell of it.

After a long, long time came also a skipper who wished to see the mill. He asked if it could make salt. “Yes, it could make salt,” said he who owned it, and when the skipper heard that, he wished with all his might and main to have the mill, let it cost what it might, for, he thought, if he had it, he would get off having to sail far away over the perilous sea for freights of salt. At first the man would not hear of parting with it, but the skipper begged and prayed, and at last the man sold it to him, and got many, many thousand dollars for it. When the skipper had got the mill on his back he did not stay there long, for he was so afraid that the man would change his mind, and he had no time to ask how he was to stop it grinding, but got on board his ship as fast as he could.

When he had gone a little way out to sea he took the mill on deck. “Grind salt, and grind both quickly and well,” said the skipper. So the mill began to grind salt, till it spouted out like water, and when the skipper had got the ship filled he wanted to stop the mill, but whichsoever way he turned it, and how much soever he tried, it went on grinding, and the heap of salt grew higher and higher, until at last the ship sank. There lies the mill at the bottom of the sea, and still, day by day, it grinds on; and that is why the sea is salt.

Translated into Vietnamese by Phan Thien Tri

                              October, 2022

 

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

MUA RAO  - Hwang sun Won (uo) https://gtvh51.blogspot.com/2024/10/rao-sun-won-han-quoc-ngay-khi-cau-be.html