Chủ Nhật, 25 tháng 12, 2022

 HUYỀN THOẠI PHỔ BIẾN CỦA ĐAN MẠCH

 

                                                     Hans Christian Andersen

                                                     Phan Thiện Trì dịch

 

ĐAN MẠCH rất giàu truyền thuyết cổ về các nhân vật lịch sử, nhà thờ và trang viên, về những ngọn đồi, những cánh đồng và những đồng hoang sâu thẳm; những câu nói từ những ngày đại dịch, từ thời chiến tranh và trong hòa bình. Những lời nói ấy sống mãi trong sách vở và truyền miệng bằng ngôn ngữ dân gian; chúng bay xa giống như một đàn chim, nhưng vẫn khác với nhau như chim hét khác với chim cú, như chim bồ câu ức trắng với chim hải âu. Hãy lắng nghe tôi, và tôi sẽ kể cho bạn nghe một vài trong số chúng.

 

Chuyện xảy ra vào một buổi tối trong những ngày xa xưa, khi kẻ thù đang cướp phá đất nước Đan Mạch, rằng một trận chiến đã xảy ra và chiến thắng bởi người Đan Mạch, và nhiều người chết và bị thương nằm la liệt trên chiến trường.  Một trong số này, một kẻ thù, đã bị bắn mất cả hai chân của mình.  Một binh sĩ Đan Mạch đứng gần vừa lấy ra một chai bia, định đưa lên miệng thì tên lính bị thương nặng kia yêu cầu cho anh uống với. Vừa khi anh dừng lại để đưa cho tên lính kia chai rượu thì kẻ thù đã xả súng vào anh, nhưng bắn trượt. Người lính rút chai bia lại, uống một nửa rồi đưa nửa còn lại cho kẻ thù của mình, chỉ nói.  "Bạn thật tồi tệ, bây giờ bạn sẽ chỉ nhận được một nửa của nó."

Sau đó, nhà vua nghe được điều này, đã ban cho người lính và con cháu của anh ta một chiếc áo giáp mang phong cách quý tộc, trên đó có vẽ một nửa chai rượu, để tưởng nhớ hành động của anh ta.

 

*  *

 

Có một truyền thống đẹp đáng được kể về chiếc chuông nhà thờ Farum. Nhà của Cha xứ ở gần nhà thờ.  Đó là một đêm tối trời vào cuối mùa thu, và vị mục sư đang thức quá khuya để chuẩn bị bài giảng trong ngày sa-bát của mình, thì ông nghe thấy một âm thanh yếu ớt, lạ lùng từ chiếc chuông lớn của nhà thờ.  Không có gió thổi, và âm thanh đó không thể giải thích được đối với ông ta;  ông đứng dậy, lấy chìa khóa và đi vào nhà thờ.  Khi ông bước vào nhà thờ, âm thanh đột ngột dừng lại, nhưng ông nghe thấy một tiếng thở dài yếu ớt từ trên cao.  "Ai ở đó, đang quấy nhiễu sự bình yên của nhà thờ?"  ông hỏi, với một giọng lớn.  Tiếng bước chân vang lên từ tòa tháp, và ông nhìn thấy trên lối đi có một cậu bé đang tiến về phía ông.

"Xin đừng tức giận!"  đứa trẻ nói.  “Con đã lẻn vào đây khi Buổi lễ Vesper bắt đầu hoạt động; mẹ con ốm nặng lắm! ” và rồi cậu bé không thể nói nhiều hơn vì những giọt nước mắt làm cậu nghẹn ngào.  Vị Mục sư vỗ về cậu ta trên đôi má, và khuyến khích cậu ta thẳng thắn, và nói rõ cho ông ta biết tất cả về điều đó.

Người ta nói rằng mẹ con - người mẹ dịu hiền, tốt bụng của con - sắp chết; nhưng con biết rằng khi một người bị bệnh cho đến chết, người đó có thể bình phục và sống lại, nếu nửa đêm người ta dám vào nhà thờ, cạo một chút rỉ sét trên chiếc chuông lớn của nhà thờ;  đó là một biện pháp bảo vệ chống lại cái chết.  Vì vậy, con đến đây và ẩn mình cho đến khi nghe thấy đồng hồ điểm 12 giờ.  Con đã rất sợ! Con nghĩ về tất cả những người đã chết, và về việc linh hồn họ đến nhà thờ. Con không dám nhìn ra ngoài;  Con đã đọc Lời cầu nguyện của Chúa và cạo rỉ sét khỏi chuông. "

“Hãy đến đây, đứa con ngoan của ta," vị mục sư nói;  "Chúa của chúng tôi sẽ không từ bỏ mẹ của con và con đâu."  Thế là họ cùng nhau đến ngôi nhà tranh nghèo, nơi người đàn bà ốm yếu đang nằm.  Bà ấy ngủ yên và ngon giấc.  Chúa của chúng tôi đã ban cuộc sống cho bà ấy, và mọi phúc lành của Người chiếu trên bà và con trai bà. 

 

* * *

 

Có một truyền thuyết kể về một chàng trai nghèo, Paul Vendelbo, người đã trở thành một người đàn ông vĩ đại và được tôn vinh. Anh sinh ra ở Jutland, đã nỗ lực phấn đấu và học tập tốt đến mức vượt qua kỳ kiểm tra với tư cách là sinh viên, nhưng vẫn còn có một sự khát khao to lớn hơn là trở thành một người lính và đi chinh chiến ở nước ngoài hơn.  Một ngày nọ, anh đi dạo với hai đồng đội trẻ, những người khá giả, dọc theo các thành lũy của thủ đô Copenhagen, và nói chuyện với họ về ước muốn của anh. Anh đột ngột dừng lại và nhìn lên cửa sổ của ngôi nhà của vị Giáo sư, nơi một cô gái trẻ đang ngồi, có vẻ đẹp khiến anh và hai người bạn kinh ngạc. Nhận thấy anh ta đỏ mặt như thế nào, họ nói đùa rằng, “Hãy vào chỗ cô ấy, Paul;  và nếu bạn có thể nhận được nụ hôn tự nguyện từ cô ta ở cửa sổ để chúng tôi có thể nhìn thấy, chúng tôi sẽ cho bạn tiền để đi du lịch, để bạn có thể ra nước ngoài và xem vận may ở đó có thuận lợi với bạn hơn ở quê nhà không”.

Paul Vendelbo vào nhà và gõ cửa phòng khách.

“Cha tôi không có ở nhà,” cô gái trẻ nói.

"Đừng nổi cáu với tôi!" anh ta trả lời, và máu  dồn lên đôi má của anh, "không phải chính cha cô là người mà tôi muốn gặp!"  Và bây giờ anh nói với cô ấy một cách thẳng thắn và chân thành mong muốn của anh là thử sức với thế giới và có được một danh tánh đáng tôn kính;  anh kể cho cô nghe về hai người bạn của anh đang đứng ngoài đường phố, và đã hứa cho anh tiền để đi du lịch với điều kiện rằng cô phải tự nguyện trao cho tôi một nụ hôn trên khuôn mặt cởi mở, trung thực và thẳng thắn, và rằng cơn giận của cô phải biến mất.

“Bạn nói những lời như vậy với một cô thục nữ tiết hạnh là không đúng,” cô ấy nói;  "Nhưng trông bạn rất trung thực, tôi sẽ không cản trở vận may của bạn!"  Và cô dẫn anh đến bên cửa sổ, và hôn anh.  Bạn bè của anh ta đã giữ lời hứa của họ, và cung cấp cho anh ta tiền bạc.  Anh ta đã phục vụ cho Sa hoàng, chiến đấu trong trận chiến Pultowa, và giành được tên tuổi và danh dự.  Sau đó, khi Đan Mạch cần anh ta, anh ta trở về quê nhà và trở thành một người hùng mạnh của quân đội và của hội đồng nhà vua.  Một ngày nọ, anh bước vào căn phòng đơn giản của Giáo sư, và đó không chỉ là Giáo sư mà anh muốn gặp lần này;  mà chính là con gái của giáo sư, Ingeborg Vinding, người đã trao cho anh nụ hôn - lễ khánh thành tài sản của anh.  Hai tuần sau, Paul Vendelbo Loevenoern (Lioneagle) tổ chức đám cưới của mình.

 

                                          ****

 

Kẻ thù đã từng thực hiện một cuộc tấn công lớn vào đảo Funen của Đan Mạch.  Một làng duy nhất được tha; nhưng chẳng bao lâu sau cũng bị cướp phá và bị thiêu rụi.  Hai người nghèo sống trong một ngôi nhà tồi tàn, ở ngoại ô thị trấn.  Vào một buổi tối mùa đông trời tối đen như mực;  kẻ thù đã được mong đợi; và trong lòng lo lắng, họ lấy Sách Thánh Thi và mở ra để xem liệu bài Thánh ca mà họ gặp lần đầu có thể mang lại cho họ sự trợ giúp hay sự an ủi nào không.  Họ mở cuốn sách ra và lật sang Thánh Thi, "Một pháo đài hùng mạnh là Đức Chúa Trời của chúng ta."  Đầy tự tin, họ đã hát nó; và, được củng cố trong đức tin, họ đi ngủ và ngủ ngon, —dưới sự bảo vệ của Chúa.  Khi họ thức dậy vào buổi sáng, trong phòng khá tối và ánh sáng ban ngày không thể xuyên qua; họ đi đến cửa, nhưng không thể mở được.  Sau đó, họ trèo lên gác xép, đẩy cánh cửa sập mở ra, và thấy rằng ánh sáng ban ngày đã toả khắp; nhưng tuyết rơi dày đặc trong đêm đã rơi xuống toàn bộ ngôi nhà và che giấu nó khỏi kẻ thù, những kẻ vào ban đêm đã cướp phá và đốt cháy thị trấn. Và rồi, họ chắp tay cảm tạ và lặp lại bài thánh ca, "Một pháo đài hùng mạnh là Đức Chúa Trời của chúng ta!"  Chúa đã canh chừng giấc ngủ họ bằng cách đắp một lớp tuyết dày xung quanh họ.

 

                                            *****

 

Từ North Seeland, một sự cố đầy thảm não xảy đến khiến suy nghĩ của ông bị xáo trộn.  Nhà thờ Roervig nằm xa về phía đồi cát bên cạnh bến cảng Kattegat đầy giông bão.  Một buổi tối, một con tàu lớn thả neo ở đó, và được cho là chiếc chiến hạm của người Nga.  Trong đêm, người ta nghe thấy tiếng gõ cửa ở cổng nhà của cha xứ, và một số người có vũ trang và đeo mặt nạ đã ra lệnh cho vị mục sư mặc áo choàng giáo sĩ vào và đi cùng với họ ra nhà thờ.  Họ hứa trả cho ông ta một khoản tiền hậu hĩnh, nhưng sẽ sử dụng vũ lực nếu ông ta từ chối. Mục sư đã đi cùng với họ.  Nhà thờ đã lên đèn, những người vô danh đã tập trung, và tất cả chìm trong im lặng.  Trước bàn thờ, cô dâu và chú rể đã chờ sẵn, mặc quần áo lộng lẫy, như thể họ xuất thân từ giới quyền cao chức trọng, nhưng cô dâu tái mét như một cái xác không hồn. Hôn lễ xong, một tiếng súng vang lên, cô dâu nằm chết trước bàn thờ.  Họ đã mang xác chết, và tất cả đều bỏ đi cùng với nó.  Sáng hôm sau tàu đã nhổ neo.  Cho đến ngày nay không ai có thể đưa ra bất kỳ lời giải thích nào về sự kiện này.

Vị Mục sư đã tham gia vào việc này đã viết lại toàn bộ sự kiện trong Kinh thánh của mình, được lưu truyền trong gia đình ông. Nhà thờ cổ vẫn sừng sững giữa những đồi cát ở bến cảng Kattegat đầy sóng vỗ, và câu chuyện sống mãi trong sách vở và trong ký ức.

 

                                             ******

 

Tôi phải kể cho bạn nghe một huyền thoại nữa về nhà thờ. Sống ở Đan Mạch, trên hòn đảo Falster, một phụ nữ giàu có thuộc giai cấp cao sang, không có con cái và gia đình bà ấy sắp lụi dần theo tuổi xế chiều. Vì vậy, bà quyết định sử dụng một phần của cải của mình để xây dựng một ngôi nhà thờ nguy nga.  Khi nó được hoàn thành và trên bàn thờ, đèn nến sáng choang, bà ấy bước đến trước bàn thờ và quỳ gối cầu nguyện với Chúa của chúng ta, rằng Ngài sẽ ban cho bà ấy món quà ngoan đạo, một cuộc sống trên trần gian này bao lâu mà nhà thờ của bà vẫn còn đứng vững.  Nhiều năm trôi qua.  Các mối quan hệ của bà ấy đã chết, những người bạn và người quen cũ của bà, và tất cả những người hầu trước đây của trang viên đều được yên nằm trong nấm mồ của họ;  nhưng bà ấy, người đã lập một điều ước độc ác như vậy, đã không chết.  Thế hệ này qua thế hệ khác trở nên xa lạ với bà ấy, bà không tiếp cận với bất kỳ ai, và không ai tiếp cận với bà ấy. Bà đã lãng phí trong một khoảng thời gian dài trong sự lẩm cẩm, ngồi một mình, bị bỏ rơi trong đơn độc; các giác quan của bà như nhũn ra, bà giống như người đang ngủ, nhưng không giống như người chết.  Mỗi đêm Giáng sinh, sự sống trong bà chợt lóe lên trong chốc lát, và bà lại có được tiếng nói của mình. Thế là, bà ra lệnh cho người của mình đặt bà vào một chiếc quan tài bằng gỗ sồi, và đặt nó ở nơi chôn cất lộ thiên của nhà thờ.  Sau đó, Mục sư sẽ đến gặp bà ấy vào đêm Giáng sinh, để tiếp nhận những mệnh lệnh của bà. Bà được đặt trong quan tài, và nó được đưa đến nhà thờ.  Như đã ra lệnh, mỗi đêm Giáng sinh, vị mục sư đến chỗ quan tài, qua đội hợp xướng đến chỗ quan tài, nâng khăn che cho bà cụ già yếu, tiều tuỵ, đang nằm đó không chút thảnh thơi.

"Nhà thờ của tôi có còn đứng vững không?" bà hỏi, với giọng run rẩy;  và khi vị mục sư trả lời, "Nó vẫn còn đứng yên!"  bà thở dài một cách sâu lắng và buồn bã, rồi lại ngã xuống trở lại.  Vị Mục sư phủ tấm khăn che lại, và lại đến vào đêm Giáng sinh tiếp theo, và lần sau nữa, và vẫn tiếp tục nhiều lần sau nữa.  Ngày nay, không có đá của nhà thờ để lại trên những bia đá khác, không có dấu vết của những người chết được chôn cất.  Ở đây có một cây táo gai lớn mọc trên cánh đồng, với những bông hoa tuyệt đẹp vào mỗi mùa xuân, như thể đó là dấu hiệu của sự sống lại.  Người ta nói rằng nó mọc ở chính nơi chiếc quan tài của người đàn bà quý tộc đã đứng, nơi cát bụi của bà đã trở thành cát bụi của trái đất.

 

                                          * * * * * * *

 

Có một câu nói cổ xưa khá phổ biến rằng Chúa của chúng ta, khi trục xuất các thiên thần sa ngã, hãy để một vài trong số họ thả xuống những ngọn đồi, nơi họ vẫn sinh sống và được gọi là “Bjergfolk” (yêu tinh trên núi), hoặc “Trolde” (imps/ các tiểu yêu). Họ luôn sợ hãi và chạy trốn khi trời nổi giông bão, sấm sét, đó là tiếng nói từ thiên đàng. Số khác rơi xuống trong những đồng hoang;  họ được gọi là “Elverfolk” (dân tộc thiểu số), và trong số họ có những người phụ nữ rất xinh đẹp để ngắm nhìn, nhưng không đáng tin cậy;  lưng của chúng cũng rỗng, giống như một cái máng bột.  Những người khác rơi xuống trong những trang trại cũ và những ngôi nhà bỏ hoang;  họ trở thành người lùn và "Nisser" (yêu tinh).  Đôi khi họ có ý muốn giao hợp với đàn ông, và rất nhiều câu chuyện về họ được kể lại nghe rất kỳ lạ.

Một con yêu tinh núi như thế sống trong một ngọn đồi rộng lớn trên vùng cao Jutland, cùng với nhiều tiểu yêu khác. 

Một trong những cô con gái của ông ta đã kết hôn với người thợ rèn trong làng.  Người thợ rèn là một người đàn ông tồi, và đã đánh đập vợ mình.  Cuối cùng thì cô cũng cảm thấy mệt mỏi với cuộc sống đó, và một ngày nọ khi hắn ta định đánh cô một lần nữa, cô đã lấy một chiếc móng ngựa và đánh gãy nó trên người hắn ta.  Cô sở hữu một sức mạnh ghê gớm, đến nỗi cô cũng có thể dễ dàng bẻ gãy hắn ta thành từng mảnh. Hắn ta nghĩ về điều đó, và không đánh cô nữa.  Tuy nhiên, điều đó đã được đồn đại ở khắp nơi, và sự tôn trọng của cô ấy giữa những người dân trong nước đã bị mất đi, và cô ta được biết đến như một "chuồng ngựa thành Trold" (một đứa trẻ tiểu yêu).  Không ai trong giáo xứ có thể giao cấu với cô ấy.  Con yêu tinh trên núi có một gợi ý về điều này; và vào một ngày chủ nhật nọ, khi người thợ rèn và vợ cùng với những giáo dân khác, đang đứng trong sân nhà thờ, chờ đợi mục sư, cô ấy nhìn ra vịnh, nơi một màn sương mù đang bay lên.

"Bây giờ cha xứ đến," cô nói, "và kìa ông ấy đang tức giận!"  Ông ấy đã đến, và ông ấy đã rất tức giận.

"Bạn sẽ ném chúng cho tôi, hay bạn sẽ thực hiện bắt chúng?"  ông hỏi, và nhìn những người trong nhà thờ với ánh mắt thèm thuồng.

"Bắt!"  cô ấy nói;  vì cô biết rõ rằng ông ta sẽ không nhẹ nhàng như vậy khi chúng rơi vào tay ông ta.  Và thế là con yêu tinh trên núi lần lượt tóm lấy từng đứa trong số chúng, ném chúng lên nóc nhà thờ, trong khi cô con gái đứng ở phía bên kia, nhẹ nhàng đỡ lấy chúng. Từ đó cô rất hòa đồng với giáo dân; tất cả họ đều sợ yêu tinh trên núi, và nhiều người trong số loài đó đã được phân tán ra khắp đất nước.  Điều tốt nhất họ có thể làm là tránh cãi vã với ông ta, và thay vào đó biến sự quen biết của ông ta thành lợi ích của họ.  Họ biết rõ rằng những tiểu yêu có những chiếc ấm lớn chứa đầy tiền vàng, và chắc chắn sẽ rất xứng đáng để có được một nhúm tiền đó; nhưng để có được điều đó, họ phải tinh ranh và khéo léo, giống như người nông dân mà tôi sắp nói với các bạn; cũng như cậu con trai của ông ta, cậu ấy vẫn còn tinh ranh hơn cha nhiều.

Người nông dân có một ngọn đồi trên đồng ruộng của mình, mà ông ta sẽ không bỏ hoang;  ông ta cày nó, nhưng yêu tinh núi, sống trên đồi, bước ra và hỏi, - "Sao ngươi dám cày trên mái nhà của ta?"

"Tôi không biết rằng nó là nhà của bạn!" bác nông dân nói;  “Nhưng thật chẳng có lợi lộc gì đối với bất cứ ai trong chúng tôi khi để cho một mảnh đất như vậy nằm hoang phí. Hãy để tôi cày và gieo hạt! và năm đầu tiên bạn gặt hái những gì mọc bên trên mặt đất, và tôi những gì mọc trong lòng đất.  Năm sau chúng ta sẽ thay đổi ngược lại ”.  Họ đã đồng ý; và bác nông dân gieo cà rốt năm thứ nhất, và bắp năm thứ hai. Yêu tinh núi lấy phần trên cùng của cà rốt và rễ của cây bắp.  Bằng cách này, họ đã sống hòa thuận với nhau.

Nhưng bây giờ trong nhà của người nông dân đang diễn ra lễ rửa tội.  Người nông dân rất khó xử, vì ông ta không thể bỏ qua việc mời yêu tinh núi, người mà ông ta sống hòa thuận với nhau; nhưng nếu vị tiểu yêu này chấp nhận lời mời của ông ta, người nông dân sẽ mang tiếng xấu với vị mục sư và những người dân khác trong giáo xứ.

Mặc dù thường ngày người nông dân này rất tinh ranh, nhưng lần này ông ta không thể nghĩ ra cách hành xử. Ông đã nói về điều đó với cậu con trai chăn lợn của mình, người xảo quyệt còn hơn cả cha mình.

"Con sẽ giúp bố!"  cậu bé chăn lợn nói; và lấy một cái túi lớn, cậu ta đi ra ngọn đồi của yêu tinh trên núi; cậu gõ cửa, và được cho vào. Sau đó cậu ta nói rằng cậu đến để mời vị yêu tinh đến để làm lễ rửa tội.  Yêu tinh núi nhận lời, và hứa sẽ đến.

“Tôi phải tặng một món quà làm lễ rửa tội, tôi cho là vậy; có phải không? ”

“Người ta thường làm vậy,” cậu bé nói, và mở túi ra. Yêu tinh núi đã đổ tiền vàng vào đó.

"Bao nhiêu đó đã đủ chưa?"  Cậu bé nâng chiếc túi lên.

"Hầu hết người ta cho càng nhiều càng tốt!"  Và thế là toàn bộ số tiền trong chiếc ấm lớn đựng tiền vàng đều được đổ vào túi.

“Không ai cho nhiều hơn — hầu hết là ít hơn.”

"Hãy cho tôi biết, bây giờ," yêu tinh núi nói, "những vị khách tuyệt vời mà bạn đang mong đợi."

 “Ba linh mục và một giám mục,” cậu bé nói.

 “Điều đó ổn;  nhưng những quý ông như vậy chỉ tìm kiếm việc ăn và uống thôi, —họ không quan tâm mấy đến tôi.  Còn ai đến nữa!” -  “Đức Mẹ được mong đợi!” – “ Hm, hm!  nhưng tôi nghĩ sẽ luôn có một chỗ nhỏ dành cho tôi phía sau bếp lò!  Chà, và sau đó? ”

“Chà, rồi đến Đức Chúa của chúng ta”.  - “Hm, hm, hm!  thật là vĩ đại! nhưng những vị khách quý như vậy thường đến muộn và rời đi sớm.  Do đó, khi họ ở bên trong, tôi sẽ lẻn đi ra xa một chút.  Bạn sẽ có loại nhạc nào? "  "Nhạc trống!" cậu bé nói;  “Cha của chúng tôi đã rước một ban nhạc sấm sét lớn, sau đó chúng ta sẽ nhảy múa! và nó sẽ là nhạc trống. ”

“Ồ,  thật không phải đáng sợ lắm sao!"  Yêu tinh núi kêu lên.  “Cảm ơn chủ nhân vì lời mời, nhưng tôi thà ở nhà còn hơn.  Vậy chứ anh bạn không biết rằng tiếng sấm và tiếng trống đó đối với tôi, và cả chủng tộc của chúng tôi, là cả một nỗi kinh hoàng sao?  Một lần, khi tôi còn nhỏ, khi đi dạo ra ngoài, sấm sét bắt đầu đánh trống, và tôi bị một chiếc dùi trống đè lên xương đùi khiến nó bị nứt.  Tôi sẽ không có nhiều loại nhạc như vậy!  Xin gửi lời cảm ơn và lời chào của tôi. ”

Cậu bé đeo chiếc túi trên lưng và mang về cho chủ nhân khối của cải lớn lao và những lời chào thân thiện của vị yêu tinh núi.

 

Chúng ta có rất nhiều huyền thoại thuộc loại này, nhưng những truyền thuyết chúng ta vừa kể vẫn đủ cho ngày hôm nay rồi!

 

                                             Phan Thiện Trì dịch

                                                     May, 2022

 

DANISH POPULAR LEGENDS

 

                                                            by

 

                                                            Hans Christian Andersen

        

                                                            Translated by Phan Thien Tri 

 

DENMARK is rich in old legends of historical persons, churches, and manors, of hills, of fields, and bottomless moors; sayings from the days of the great plague, from the times of war and peace. The sayings live in books, and on the tongues of the people; they fly far about like a flock of birds, but still are as different from one another as the thrush is from the owl, as the wood-pigeon from the gull. Listen to me, and I will tell you some of them.

 

It happened one evening in days of yore, when the enemy were pillaging the Danish country, that a battle had been fought and won by the Danes, and many killed and wounded lay on the field of battle. One of these, an enemy, had lost both his legs by a shot. A Danish soldier, standing near by, had just taken out a bottle filled with beer, and was about to put it to his mouth, when the badly wounded man asked him for a drink. As he stopped to hand him the bottle, the enemy discharged his pistol at him, but the shot missed. The soldier drew his bottle back again, drank half of it, and gave the remaining half to his enemy, only saying. “You rascal, now you will only get half of it.”

The king afterward hearing of this, granted the soldier and his descendants an armorial bearing of nobility, on which was painted a half-filled bottle, in memory of his deed.

 

There is a beautiful tradition worth telling about the churchbell of Farum. The parsonage stood close by the church. It was a dark night late in the fall, and the minister was sitting up at a late hour preparing his sabbath sermon, when he heard a slight, strange sound from the large church-bell. No wind was blowing, and the sound was inexplicable to him; he got up, took the keys and went into the church. As he entered the church the sound stopped suddenly, but he heard a faint sigh from above. “Who is there, disturbing the peace of the church?” he asked, in a loud voice. Footsteps were heard from the tower, and he saw in the passage-way a little boy advancing toward him.

“Be not angry!” said the child. “I slipped in here when the Vesper Service was rung; my mother is very sick!” and now the little boy could not say more for the tears that choked him. The minister patted him on the check, and encouraged him to be frank, and to tell him all about it.

“They say that my mother—my sweet, good mother—is going to die; but I knew that when one is sick unto death he may recover again and live, if in the middle of the night one dares enter the church, and scrape off a little rust from the large church-bell; that is a safeguard against death. Therefore I came here and hid myself until I heard the clock strike twelve. I was so afraid! I thought of all the dead ones, and of their coming into the church. I dared not look out; I read my Lord’s Prayer, and scraped the rust off the bell.”

“Come, my good child,” said the minister; “our Lord will forsake neither thy mother nor thee.” So they went together to the poor cottage, where the sick woman was lying. She slept quietly and soundly. Our Lord granted her life, and his blessings shone over her and her son.

 

There is a legend about a poor young fellow, Paul Vendelbo, who became a great and honored man. He was born in Jutland, and had striven and studied so well that he got through the examination as student, but felt a still greater desire to become a soldier and stroll about in foreign countries. One day he walked with two young comrades, who were well off, along the ramparts of Copenhagen, and talked to them of his desire. He stopped suddenly, and looked up at the window of the Professor’s house, where a young girl was seated, whose beauty had astonished him and the two others. Perceiving how he blushed, they said in joke, “Go in to her, Paul; and if you can get a voluntary kiss from her at the window, so that we can see it, we will give you money for travelling, that you may go abroad and see if fortune is more favorable for you there than at home.”

Paul Vendelbo entered into the house, and knocked at the parlor door.

“My father is not at home,” said the young girl.

“Do not be angry with me!” he answered, and the blood rushed up into his checks, “it is not your father I want!” And now he told her frankly and heartily his wish to try the world and acquire an honorable name; he told her of his two friends who were standing in the street, and had promised him money for travelling on the condition that she should voluntarily give him a kiss at the open, honest, and frank face, that her anger disappeared.

“It is not right for you to speak such words to a chaste maid,” said she; “but you look so honest, I will not hinder your fortune!” An she led him to the window, and gave him a kiss. His friends kept their promise, and furnished him with money. He went into the service of the Czar, fought in the battle of Pultowa, and acquired nam and honor. Afterward, when Denmark needed him, he returned home, and became a mighty man of the army and of the king’s council. One day he entered the Professor’s plain room, and it was not just the Professor he wished to see this time either; it was again his daughter, Ingeborg Vinding, who gave him the kiss,—the inauguration of his fortune. A fortnight after, Paul Vendelbo Loevenoern (Lioneagle) celebrated his wedding.

 

The enemy made once a great attack on the Danish island of Funen. One village only was spared; but this was also soon to be sacked and burnt. Two poor people lived in a low-studded house, in the outskirts of the town. It was a dark winter evening; the enemy was expected; and in their anxiety they took the Book of Psalms, and opened it to see if the psalm which they first met with could render them any aid or comfort. They opened the book, and turned to the psalm, “A mighty fortress is our God.” Full of confidence, they sang it; and, strengthened in faith, they went to bed and slept well,—kept by the Lord’s guardianship. When they awoke in the morning it was quite dark in the room, and the daylight could not penetrate; they went to the door, but could not open it. Then they mounted the loft, got the trap-door open, and saw that it was broad daylight; but a heavy drift of snow had in the night fallen upon the whole house and hidden it from the enemies, who in the night-time had pillaged and burnt the town. Then they clasped their hands in thankfulness, and repeated the psalm, “A mighty fortress is our God!” The Lord had guarded them, and raised an intrenchment of snow around them.

From North Seeland there comes a gloomy incident that stirs the thoughts. The church of Roervig is situated far out toward the sand hills by the stormy Kattegat. One evening a large ship dropped anchor out there, and was presumed to be a Russian man-of-war. In the night a knocking was heard at the gate of the parsonage, and several armed and masked persons ordered the minister to put on his ecclesiastical gown and accompany them out to the church. They promised him good pay, but used menaces if he declined to go. He went with them. The church was lighted, unknown people were gathered, and all was in deep silence. Before the altar the bride and bridegroom were waiting, dressed in magnificent clothes, as if they were of high rank, but the bride was pale as a corpse. When the marriage ceremony was finished, a shot was heard, and the bride lay dead before the altar. They took the corpse, and all went away with it. The next morning the ship had weighed anchor. To this day nobody has been able to give any explanation of the event.

The minister who took part in it wrote down the whole event in his Bible, which is handed down in his family. The old church is still standing between the sand hills at the tossing Kattegat, and the story lives in writing and in memory.

 

I must tell you one more church legend. There lived in Denmark, on the island of Falster, a rich lady of rank, who had no children, and her family was about to die out. So she took a part of her riches, and built a magnificent church. When it was finished, and the altar-candles lighted, she stepped up to the altar-table and prayed on her knees to our Lord, that He would grant her, for her pious gift, a life upon the earth as long as her church was standing. Years went by. Her relations died, her old friends and acquaintances, and all the former servants of the manor were laid in their graves; but she, who made such an evil wish, did not die. Generation upon generation became strange to her, she did not approach anybody, and nobody approached her. She wasted away in a long dotage, and sat abandoned and alone; her senses were blunted, she was like a sleeping, but not like a dead person. Every Christmas Eve the life in her flashed up for a moment, and she got her voice again. Then she would order her people to put her in an oak coffin, and place it in the open burying-place of the church. The minister then would come on the Christmas night to her, in order to recceive her commands. She was laid in the coffin, and it was brought to the church. The minister came, as ordered, every Christmas night, through the choir up to the coffin, raised the cover for the old, wearied lady, who was lying there without rest.

“Is my church still standing?” she asked, with shivering voice; and upon the minister’s answer, “It stands still!” she sighed profoundly and sorrowfully, and fell back again. The minister let the cover down, and came again the next Christmas night, and the next again, and still again the following. Now there is no stone of the church left upon another, no traces of the buried dead ones. A large whitethorn grows here on the field, with beautiful flowers every spring, as if it were the sign of the resurrection of life. It is said that it grows on the very spot where the coffin with the noble lady stood, where her dust became dust of earth.

 

There is an old popular saying that our Lord, when he expelled the fallen angels, let some of them drop down upon the hills, where they live still, and are called “Bjergfolk” (mountain goblins), or “Trolde” (imps). They are always afraid, and flee away when it thunders, which is for them a voice from heaven. Others fell down in the alder moors; they are called “Elverfolk” (alder folks), and among them the women are very handsome to look at, but not to trust; their backs are also hollow, like a dough-trough. Others fell down in old farms and houses; they became dwarfs and “Nisser” (elves). Sometimes they are wont to have intercourse with men, and a great many stories about them are related which are very strange.

Up in Jutland lived in a large hill such a mountain goblin, together with a great many other imps. One of his daughters was married to the smith of the village. The smith was a bad man, and beat his wife. At last she got tired of it, and one day as he was going again to beat her, she took a horse-shoe and broke it over him. She possessed such an immense strength, that she easily could have broken him in pieces too. He thought about it, and did not beat her any more. Yet it was rumored abroad, and her respect among the country-people was lost, and she was known as a “Trold barn” (an imp child). No one in the parish would have any intercourse with her. The mountain goblin got a hint of this; and one Sunday, when the smith and his wife, together with other parishioners, were standing in the church-yard, waiting for the minister, she looked out over the bay, where a fog was rising.

“Now comes father,” she said, “and he is angry!” He came, and angry he was.

“Will you throw them to me, or will you rather do the catching?” he asked, and looked with greedy eyes upon the churchpeople.

“The catching!” she said; for she knew well that he would not be so gentle when they fell into his hands. And so the mountain goblin seized one after another, and flung them over the roof of the church, while the daughter, standing on the other side, caught them gently. From that time she got along very well with the parishioners; they were all afraid of the mountain goblin, and many of that kind were scattered about the country. The best they could do was to avoid quarreling with him, and rather turn his acquaintance to their profit. They knew well that the imps had big kettles filled with gold money, and it was certainly worth while to get a handful of it; but for that they had to be cunning and ingenious, like the peasant of whom I am going to tell you; as also of his boy, who was still more cunning.

The peasant had a hill on his field, which he would not leave uncultivated; he ploughed it, but the mountain goblin, who lived in the hill, came out and asked,—

“How dare you plough upon my roof?”

“I did not know that it was yours!” said the peasant; “but it is not advantageous for any of us to let such a piece of Land lie uncultivated. Let me plough and sow! and then you reap the first year what is growing over the earth, and I what grows in the earth. Next year we will change.” They agreed; and the peasant sowed the first year carrots, and the second corn. The mountain goblin got the top part of the carrots, and the roots of the corn. In this way they lived in harmony together.

But now it happened that there was to be a christening in the house of the peasant. The peasant was much embarrassed, as he could not well omit inviting the mountain goblin, with whom he lived in good accord; but if the imp accepted his invitation, the peasant would fall into bad repute with the minister and the other folk of the parish. Cunning as the peasant ordinarily was, this time he could not find out how to act. He spoke about it to his pig-boy, who was the more cunning of the two.

“I will help you!” said the boy; and taking a large bag, he went out to the hill of the mountain goblin; he knocked, and was let in. Then he said that he came to invite him to the christening. The mountain goblin accepted the invitation, and promised to come.

“I must give a christening-present, I suppose; mustn’t I?”

“They usually do,” said the boy, and opened the bag. The imp poured money into it.

“Is that sufficient?” The boy lifted the bag.

“Most people give as much!” Then all the money in the large money kettle was poured into the bag.

“Nobody gives more—most less.”

“Let me know, now,” said the mountain goblin, “the great guests you are expecting.”

“Three priests and one bishop,” said the boy.

“That is fine; but such gentlemen look only for eating and drinking,—they don’t care about me. Who else comes!”—“Mother Mary is expected!”—“Hm, hm! but I think there will always be a little place for me behind the stove! Well, and then?”

“Well, then comes ‘our Lord.’”—“Hm, hm, hm! that was mighty! but such highly distinguished guests usually come late and go away early. I shall therefore, while they are in, slink away a little. What sort of music shall you have?” “Drum-music!” said the boy; “our Father has ordered heavy thundering, after which we shall dance! drum-music it shall be.”

“O, is it not dreadul!” cried the mountain goblin. “Thank your master for the invitation, but I would rather stay at home. Did he not know, then, that thundering and drum are to me, and my whole race, a horror? Once, in my younger days, going out to take a walk, the thunder began to drum, and I got one of the drumsticks over my thigh-bone so that it cracked. I will not have more of that kind of music! Give my thanks and my greetings.”

And the boy took the bag on his back, and brought his master the great riches, and the imp’s friendly greetings.

We have many legends of this sort, but those we have told ought to be enough for to-day!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

MUA RAO  - Hwang sun Won (uo) https://gtvh51.blogspot.com/2024/10/rao-sun-won-han-quoc-ngay-khi-cau-be.html