MỌI THỨ Ở ĐÚNG CHỖ
Hans Christian Andersen
Phan Thiện Trì dịch
Cách đây hơn một trăm năm! Phía sau khu rừng, gần một cái hồ lớn, là một lâu đài cổ, có hào sâu bao quanh, trong hào mọc nhiều lau sậy và cây cối. Sát cầu treo, gần cổng vào, có một cây liễu già uốn mình bên trên lau sậy.
Từ con đường đèo hẹp vang lên kèn săn và tiếng vó ngựa. do đó, cô bé chăn ngỗng đã vội đuổi chúng khỏi cây cầu, trước khi cả đoàn săn bắn phi nước đại lên; Tuy nhiên, họ chạy nhanh đến nỗi cô gái phải nhảy vội xuống trên một trong những viên đá góc cao bên thành cầu để tránh bị đạp qua. Cô ấy vẫn còn là một đứa trẻ xinh xắn, mảnh dẻ, nét mặt dịu hiền, đôi mắt xanh sáng, và một biểu cảm dịu dàng, ngọt ngào. Nhưng những điều như vậy nam tước đã không nhận thấy; trong khi phóng ngựa hắn quay tít chiếc roi ngựa cầm trong tay, và trong một hành động tàn bạo hắn cảm thấy khoái chí quất cô bé một roi mạnh đến mức cô ta ngã ngửa xuống mương.
"Người nào chỗ nấy!" hắn quát lên. "Xuống mương với bạn."
Sau đó hắn phá lên cười, rất khoái trá về hành động của mình, những người khác cũng cười theo — cả nhóm reo lên và la ó ầm ĩ, trong khi những con chó săn sủa vang, và người ta nghe loáng thoáng câu hát cổ: - Đàn chim đẹp theo gió bay về … .
Trong khi cô bé tội nghiệp đang rơi xuống, cô may mắn túm được một trong những cành của cây liễu rũ, nhờ sự trợ giúp của nó mà cô giữ mình treo lơ lửng trên mặt nước, và ngay sau khi vị nam tước cùng đồng đội và những con chó biến mất qua cổng, cô mới vùng vẫy để thoát thân, nhưng cành liễu gãy, và cô bé sắp ngã lộn nhào xuống giữa dòng nước chảy xiết, nếu không có một bàn tay mạnh mẽ nào từ phía trên tóm lấy cô vào lúc này. Đó là bàn tay của anh chàng bán giày rong đã chứng kiến những gì xảy ra từ một khoảng cách ngắn, và vội chạy tới cứu cô.
“Người nào chỗ nấy,” anh vừa mỉa mai, bắt chước lời tên nam tước quý tộc, và kéo cô lên rồi đặt cô bên lề đường. Anh ta muốn đặt cành cây trở lại nơi nó đã bị gãy ra, nhưng không thể đặt mọi thứ vào đúng vị trí; do đó anh ta cắm cành cây vào nền đất mềm và nói:
“Nếu mọc được thì hãy mọc tốt lên, và tạo ra một cây sáo hay cho cái bọn trên cao kia, ở trong lâu đài,” nó sẽ mang lại cho anh ta niềm vui lớn khi thấy nam tước quý tộc và những người bạn đồng hành của hắn bị đánh bại một cách tơi tả. Sau đó, anh ta bước vào lâu đài - nhưng không phải vào phòng yến tiệc; anh đã quá thấp hèn cho điều đó. Không; anh ta đi đến sảnh của những người hầu. Những người hầu nam và người hầu gái xem qua đống hàng hoá của anh và mặc cả với anh ta. Tiếng la lớn và tiếng thét vang lên từ chiếc bàn của chủ nhân phía trên: họ gọi đó là tiếng hát — thực sự, họ đã cố gắng hết sức. Tiếng cười và tiếng chó tru nghe thấy qua cửa sổ mở: ở đó họ đang ăn uống và vui đùa; rượu vang và rượu bia mạnh sủi bọt trong ly và trong bình; những chú chó được yêu thích đã ăn cùng chủ nhân của chúng; thỉnh thoảng, một gã trẻ tuổi hôn một trong những con vật này, sau khi đã lau miệng nó bằng khăn trải bàn. Họ ra lệnh cho người bán giày rong đến, nhưng chỉ để trêu đùa anh mà thôi. Rượu đã ngấm vào đầu họ, và lý trí đã rời bỏ họ. Họ rót bia vào một chiếc bít tất mà anh ta có thể uống cùng với họ, nhưng phải uống nhanh. Đó là những gì họ gọi là trò vui và nó khiến họ cười. Sau đó, họ xoay ra cờ bạc. Hàng đàn súc vật, những đồng cỏ, nông gia và nông trại được đem ra đặt cược với nhau trên một canh bạc và bị thua mất.
"Người nào chỗ nấy!" Người bán hàng rong kêu lên khi cuối cùng anh đã thoát khỏi nơi ăn chơi truỵ lạc và rượu chè cờ bạc một cách an toàn, như cách anh ta gọi. “Con đường rộng mở là nơi thích hợp của anh ta chứ không phải nơi nhà cao cửa rộng kia, anh không cảm thấy thanh thản chút nào ”.
Cô bé chăn ngỗng từ con đường nhỏ cũng ra hiệu, gật đầu tỏ vẻ đồng tình với anh ta khi anh đi qua cánh cổng.
Nhiều ngày và nhiều tháng trôi qua, người ta thấy cành liễu bị gãy mà người bán hàng giày rong cắm xuống đất gần bờ hào vẫn xanh tươi - nay, nó thậm chí còn trổ ra những cành non tươi tốt; cô bé chăn ngỗng thấy cành đã bén rễ, rất vui mừng; nên cô ấy nói, bây giờ cây liễu ấy hình như là của riêng mình. Trong khi liễu càng tươi tốt lên thị ngược lại, mọi thứ khác trong toà lâu đài càng lụn bại thông qua tiệc tùng và cờ bạc, vì đây là hai con tàu mà trên đó không ai đứng an toàn.
Chưa đầy sáu năm sau, nam tước đã phải đi ra khỏi cổng lâu đài của mình, vác bị gậy đi ăn xin, trong khi chiếc ghế nam tước đã được một ông hàng giày giàu có mua lại. Anh ta chính là người bán hàng giày rong mà trước kia họ đã chế giễu và rót bia vào một cái bít tất cho ông ta uống; nhưng tính siêng năng, lòng trung thực và kỹ nghệ đã đưa một người về phía trước, và bây giờ người bán hàng rong đã là người sở hữu bất động sản của nam tước. Kể từ thời điểm đó trở đi không còn nạn cờ bạc trong lâu đài đó nữa.
“Đó là một trò tiêu khiển tồi tệ,” anh nói; "Khi ma quỷ nhìn thấy Kinh thánh lần đầu tiên, nó muốn tạo ra một bức tranh biếm họa đối lập với nó, và phát minh ra trò chơi bài."
Chủ sở hữu mới của điền trang đã lấy một người vợ, và ông ta đã lấy ai? —Cô gái chăn ngỗng, người từ trước đến nay luôn ngoan hiền và tốt bụng, và người trông xinh đẹp trong bộ quần áo mới lộng lẫy như thể cô là một quý bà thượng lưu vậy. Và tất cả những điều này xảy ra như thế nào? Đó sẽ là một câu chuyện quá dài để kể trong thời đại bận rộn của chúng ta, nhưng nó đã thực sự xảy ra, và những sự kiện quan trọng nhất vẫn chưa được kể.
Bây giờ thật thoải mái và vui vẻ khi sống trong lâu đài cổ kính; mẹ trông coi việc nhà, cha trông coi mọi việc bên ngoài, và họ quả thực là có phúc lắm thay!
Nơi mà sự trung thực dẫn đường, sự thịnh vượng chắc chắn sẽ theo sau. Ngôi biệt thự cũ được sơn sửa lại, phát quang đường hào và trồng cây ăn quả; phong cảnh trở nên hữu tình, mọi thứ đều giản dị và dễ chịu, sàn nhà cũng bóng nhoáng như đồng được đánh bóng. Vào những đêm đông dài, nữ chủ nhân và những người hầu gái của bà ngồi bên guồng quay tơ, se gai kéo sợi trong sảnh lớn; vào mỗi Chủ nhật, ông hội thẩm — chức danh này mà người bán hàng rong đã có được, mặc dù chỉ ngày xưa — cất cao giọng đọc một đoạn Kinh thánh. Ông hội thẩm chẳng ai xa lạ mà chính là anh bán hàng giày rong khi về già đã được cử vào chức vụ ấy. Lũ trẻ con trong nhà (vì họ đã có con) lớn lên. Tất cả chúng nó đều không có sự thông minh thiên bẩm phi thường như người ta thường thấy trong mỗi gia đình, nhưng ít nhất chúng đều nhận được sự giáo dục tốt nhất.
Trong khi đó, cây liễu gần cầu treo đã lớn lên thành một cái cây lộng lẫy, và đứng đó, mọc tự nhiên, và không hề bị tỉa xén gì cả. “Đó là cây phả hệ của họ nhà chúng ta,” những người già nói với con cháu của họ, “và do đó nó phải được tôn vinh.”
Một trăm năm đã trôi qua. Đến thời của chúng ta; hồ nước đã biến thành đầm lầy; toàn bộ ghế nam tước, như nó vốn là, đã biến mất. Một ao nước gần một số bức tường đổ nát là phần còn lại duy nhất của những con mương sâu; và ở đây có một cây cổ thụ nguy nga với những cành vươn cao — đó là cây phả hệ. Nó đứng ở đây, và cho thấy một cây liễu có thể trông đẹp như thế nào nếu người ta không can thiệp vào nó. Đúng là thân cây bị khoét ở giữa từ gốc đến ngọn; những cơn bão đã làm cong nó một chút, nhưng nó vẫn đứng đó, và từ mọi kẽ hở và khe hở, trong đó gió và thời tiết đã mang theo nấm mốc, những ngọn cỏ và hoa vươn ra. Đặc biệt phía trên, nơi những tán cây lớn hé mở, có một khu vườn treo khá rộng, trong đó những cây mâm xôi dại và dương xỉ lưỡi hươu đực đâm chồi nảy lộc, thậm chí một ít cây tầm gửi đã bén rễ và mọc duyên dáng trên những cành liễu già, được phản chiếu trong nước sẫm màu bên dưới khi gió thổi ngọn bèo tây vào góc bể. Một lối đi bộ dẫn ra cánh đồng chạy ngang qua gần cây cổ thụ. Trên cao, trên sườn đồi cây cối rậm rạp, là ngôi biệt thự mới. Nó có một quang cảnh lộng lẫy, rộng lớn và tráng lệ; các ô cửa sổ của nó trong vắt đến nỗi người ta có thể nghĩ rằng không có cái nào ở đó cả. Những bậc thang lớn dẫn đến lối vào trông giống như một ngôi nhà nghỉ mát phủ đầy hoa hồng và cây lá to. Bãi cỏ xanh như thể từng ngọn cỏ được dọn riêng vào buổi sáng và buổi tối. Bên trong, trong sảnh, những bức tranh sơn dầu có giá trị được treo trên tường. Ở đây có những chiếc ghế dựa và ghế sô pha được phủ bằng lụa và vải nhung, có thể dễ dàng lăn đi trên bánh xe; có những chiếc bàn với mặt đá cẩm thạch bóng loáng, và những cuốn sách đóng gáy với viền mạ vàng bằng tiếng Ma-rốc. Thật vậy, những người khá giả và xuất sắc đã sống ở đây; đó là nơi ở của nam tước và gia đình ông ta. Mỗi món đồ đều phù hợp với môi trường xung quanh nó.
“Mọi thứ ở đúng vị trí” là phương châm mà theo đó họ đã hành xử ở đây, và do đó tất cả những bức tranh từng là danh dự và vinh quang của dinh thự cổ giờ đây đã được treo lên ở lối đi dẫn đến phòng của những người hầu. Tất cả đều là gỗ cũ, đặc biệt là hai bức chân dung — một bức tượng trưng cho một người đàn ông mặc áo choàng màu đỏ, với bộ tóc giả, và bức còn lại là một phụ nữ với mái tóc uốn xoăn bồng bềnh cầm một bông hồng trên tay, mỗi bức đều được bao quanh bởi một vòng hoa lớn kết bằng những cành liễu. Cả hai bức chân dung đều có nhiều lỗ hổng, vì con trai của nam tước đã sử dụng hai người già làm mục tiêu cho chiếc nỏ của chúng. Họ đại diện cho nhà hội thẩm và vợ ông ta, những người mà cả gia đình là con cháu họ. “Nhưng họ không thuộc về gia đình của chúng tôi,” một trong những cậu bé nói; “Ông ấy là một người bán hàng rong và cô ấy là người chăn ngỗng. Họ không giống như bố và mẹ. " Các bức chân dung là gỗ cũ và "mọi thứ ở đúng vị trí của nó." Đó là lý do tại sao ông bà cố đã được treo lên ở lối đi dẫn đến phòng của những người hầu.
Con trai của mục sư làng làm gia sư tại dinh thự. Một ngày nọ, ông ta đi dạo trên cánh đồng cùng với các học trò nhỏ của mình và chị gái của chúng, người gần đây đã được xác nhận. Họ đi dọc con đường ngang qua cây liễu già, và khi đi trên đường, cô hái một bó hoa đồng nội. “Mọi thứ đều ở đúng vị trí,” và quả thực bó hoa trông rất đẹp. Đồng thời, cô ấy lắng nghe tất cả những gì được nói và cô ấy rất thích nghe con trai của mục sư nói về các yếu tố và về những người đàn ông và phụ nữ vĩ đại trong lịch sử. Cô có một tâm hồn lành mạnh, cao cả trong suy nghĩ và đứng đắn trong hành động, và một trái tim tràn đầy tình yêu đối với mọi thứ mà Thượng đế đã tạo ra. Họ dừng lại ở cây liễu già, vì đứa con trai út của nam tước rất ước ao có được một cây sáo từ nó, chẳng hạn như đã được chặt cho cậu ta từ những cây liễu khác; con trai của mục sư bẻ một cành liễu. "Ồ, xin đừng làm điều đó!" cô gái trẻ nói; nhưng nó đã được thực hiện. “Đó là cây cổ thụ nổi tiếng của chúng tôi. Tôi rất yêu nó. Họ thường cười nhạo tôi ở nhà về điều đó, nhưng điều đó không quan trọng. Có một câu chuyện gắn liền với cái cây này ”. Và bây giờ cô kể với anh tất cả những gì chúng ta đã biết về cái cây — ngôi biệt thự cổ, người bán hàng giày rong và cô gái chăn ngỗng gặp nhau ở đó lần đầu tiên, và đã trở thành tổ tiên của gia đình quý tộc mà cô gái trẻ thuộc về.
“Họ không thích được phong tước hiệp sĩ, những người già tốt,” cô nói; “Phương châm của họ là“ mọi thứ đều ở đúng vị trí, ”và họ nghĩ, sẽ không đúng nếu mua một tước hiệu chỉ vì tiền. Ông nội tôi, nam tước đầu tiên, là con trai của họ. Người ta nói rằng ông là một người rất uyên bác, được các hoàng tử và công chúa yêu thích và được mời tham dự tất cả các lễ hội của triều đình. Những người khác ở nhà đều yêu ông ấy nhất; nhưng, tôi không biết tại sao, dường như có điều gì đó ở đôi vợ chồng già đã thu hút trái tim tôi! Thật giản dị, thật gia trưởng biết bao, hẳn là trong căn biệt thự cổ kính, nơi nữ chủ nhân ngồi trước guồng quay tơ cùng với những người hầu, trong khi đức ông chồng ngồi đọc to Kinh thánh! ”
“Họ phải là những người xuất sắc, những người rất biết điều” con trai của mục sư nói. Và với điều này, cuộc trò chuyện tự nhiên chuyển sang các nhà quý tộc và thường dân; từ cách mà người gia sư nói về tầm quan trọng của việc trở nên cao quý, dường như anh ta không thuộc gia đình thường dân.
“Thật là may mắn khi được sống trong một gia đình danh giá cao quý, và sở hữu nó như một động lực thúc đẩy bản thân tiến tới tất cả những gì tốt đẹp. Thật là một điều tuyệt vời khi thuộc về một gia đình quý tộc, tên tuổi của nó phục vụ như một tấm thẻ chấp nhận vào những giới cao sang nhất. Quý tộc là một sự phân biệt; nó là một đồng tiền vàng mang dấu ấn của giá trị riêng của nó. Đó là sự ngụy biện của thời bấy giờ, và nhiều nhà thơ đã bày tỏ điều đó, khi nói rằng tất cả những gì cao quý đều là xấu và ngu ngốc, và ngược lại, kẻ thấp kém đi giữa những người nghèo khổ, thì người ta càng tìm thấy những đức tính rực rỡ hơn. Tôi không chia sẻ ý kiến này, vì nó là sai. Ở các tầng lớp trên, người ta nhìn thấy nhiều nét đẹp rất đáng cảm động; mẹ của tôi đã nói với tôi về điều đó, và tôi có thể đề cập đến một số. Một ngày nọ, bà đến thăm nhà một quý tộc trong thị trấn; Tôi tin rằng bà tôi đã từng là y tá của quý bà này khi bà còn nhỏ. Mẹ tôi và nhà quý tộc đang ở một mình trong phòng, thì ông ta bỗng chú ý thấy một bà già chống nạng đi khập khiễng bước vào sân; Chủ nhật nào bà ấy cũng đến để mang một món quà đi với bà.
“Có một bà lão tội nghiệp,” nhà quý tộc nói; "Bà ấy đi lại rất khó khăn."
“Vừa khi mẹ tôi hiểu những gì ông ta nói thì ông đã biến mất khỏi phòng, và đi xuống cầu thang, để giúp bà đỡ phiền hà cho món quà mà bà đến lấy. Tất nhiên đây chỉ là một sự cố nhỏ, nhưng nó có âm vang tốt như hai chút lòng thảo của một goá phụ nghèo trong Kinh thánh, âm thanh vang vọng trong sâu thẳm trái tim mỗi con người; và đây là điều mà nhà thơ phải thể hiện và chỉ ra — đặc biệt hơn là trong thời đại của chúng ta, nhà thơ phải hát về điều này; nó làm cho tốt, nó làm dịu bớt và làm cho hòa hợp! Nhưng khi một người, đơn giản chỉ vì xuất thân cao quý và có phả hệ, đứng bằng hai chân sau và nghênh ngang trên đường phố như một con ngựa Ả Rập, và nói khi một người dân thường ở trong phòng: 'Một số người từ đường phố đã ở đây, 'ở đó sự cao quý đang suy tàn; nó đã trở thành một loại mặt nạ mà các diễn viên kịch tạo ra, và thật thú vị khi một người như vậy được phơi bày trong sự châm biếm".
Đó là bài phát biểu của gia sư; Nó hơi dài, nhưng trong khi phát biểu, ông ta đã đẽo xong cây sáo.
Có một bữa tiệc lớn tại dinh thự; nhiều khách từ khu vực lân cận và từ thủ đô đã đến. Có các quý bà với những bộ váy trang nhã lẫn khiếm nhã; hội trường lớn khá đông người. Các giáo sĩ đứng cùng nhau một cách khiêm tốn trong một góc, và trông như thể họ đang chuẩn bị cho một đám tang, nhưng đó là một lễ hội - chỉ là trò vui chưa bắt đầu thôi. Một buổi hòa nhạc tuyệt vời đã diễn ra, và đó là lý do tại sao cậu con trai nhỏ của nam tước đã mang theo cây sáo dương liễu của mình; nhưng cậu ta không thể phát ra âm thanh, và cha cậu cũng không thể, và do đó cây sáo chẳng có ích lợi gì.
Có âm nhạc và các bài hát thuộc thể loại làm hài lòng hầu hết những người biểu diễn chúng; nếu không nói là khá quyến rũ!
"Bạn có phải là một nghệ sĩ?" một kỵ sĩ, con trai của cha cậu nói; “Bạn chơi sáo, bạn đã tự tạo ra; chính là một thiên tài mới có thể lập ra các quy luật — vị trí được vinh danh là do bạn. ”
"Chắc chắn là không rồi! Tôi chỉ thăng tiến theo thời gian, và điều đó dĩ nhiên không ai có thể giúp được. "
“Tôi hy vọng bạn sẽ làm hài lòng tất cả chúng ta với nhạc cụ nhỏ này – có phải không?” Vì vậy, nói rằng anh ta đưa cho vị gia sư cây sáo đã được đẽo từ cây liễu bên hồ; và sau đó lớn tiếng thông báo rằng gia sư muốn biểu diễn độc tấu sáo. Họ muốn trêu chọc anh ta - điều đó là hiển nhiên, và do đó người gia sư từ chối chơi, mặc dù ông ta có thể làm như vậy rất tốt. Tuy nhiên, họ thúc giục và yêu cầu ông ta, khá lâu đến nỗi, cuối cùng ông ta đã cầm cây sáo lên và đặt nó lên môi.
Đó là một cây sáo kỳ diệu! Âm thanh của nó rộn ràng như tiếng còi của một động cơ chạy bằng hơi nước; thật ra nó còn mạnh hơn nhiều, vì nó đã vang lên và đã được nghe thấy trong sân, trong vườn, trong rừng, và xa hàng nhiều dặm trong khắp xứ sở; cùng lúc đó một cơn bão nổi lên và tạo âm vang ầm ầm; "Mọi thứ ở đúng nơi." Và với điều này, nam tước, như thể bị gió cuốn đi, bay ra khỏi sảnh vào thẳng ngôi nhà tranh của người chăn cừu, và người chăn cừu cũng bay đi – không phải vào sảnh, theo hướng đó thì anh ta đã không thể đến - mà vào sảnh của những người hầu, giữa những người hầu nhanh lẹ. đang sải bước trong đôi bít tất lụa; những con người kiêu kỳ này lấy làm lạ khi thấy một người như vậy mạo hiểm ngồi cùng bàn với họ. Nhưng trong hội trường, con gái của nam tước bay đến vị trí danh dự ở cuối bàn — cô ấy xứng đáng được ngồi ở đó; con trai của mục sư có chỗ ngồi bên cạnh cô ấy; hai người ngồi đó như thể họ là một cặp cô dâu chú rể. Một bá tước già, thuộc một trong những gia tộc lâu đời nhất của đất nước, vẫn còn giữ nguyên vẹn ở vị trí danh dự của ông; cây sáo rất công bằng, và chính nhiệm vụ của nó là phải như vậy. Chàng kỵ sĩ có chất giọng sắc bén, người đã gây ra cái trò thổi sáo này là đứa con của cha mẹ hắn ta, đã bị đẩy thẳng ra chuồng gà, nhưng không phải một mình hắn ta.
Tiếng sáo đã được nghe ở khoảng cách xa một dặm, và những sự kiện kỳ lạ đã xảy ra. Một gia đình chủ ngân hàng giàu có, những người đang đi trên một chiếc xe khách, và bốn người đã bị thổi bay khỏi xe, và thậm chí không thể tìm thấy chỗ trống phía sau xe cùng với những người hầu của họ. Hai nông dân giàu có vào thời chúng ta đã vọt lên cao hơn từ ruộng bắp nương khoai của chính họ, đã bị ném xuống mương; thật là một cây sáo cực kỳ nguy hiểm. May mắn thay, nó đã nổ ngay từ âm thanh đầu tiên và đó là một điều tốt, vì sau đó nó đã được đưa trở lại túi của chủ nhân— “đúng vị trí của nó”.
Ngày hôm sau, không ai nói một lời nào về những gì đã xảy ra đêm trước nữa; chỉ còn lại câu ngạn ngữ: “Thu sáo về túi”. Mọi thứ lại diễn ra theo trật tự bình thường, ngoại trừ hai bức chân dung cũ của người bán hàng rong và cô gái chăn ngỗng được treo trong sảnh yến tiệc. Ở đó, chúng ở trên tường như thể đêm qua bị gió thổi bay vào đó. và theo như một chuyên gia thực sự nói rằng chúng được vẽ bởi bàn tay của một hoạ sĩ bậc thầy, và chúng là hai bức tranh quý giá và đã được phục hồi. “Người nào, vật nào, chỗ nấy!” Mọi thứ ở đúng nơi,” và điều này sẽ luôn được nhắc đến. Tính vĩnh cữu của nó, thực sự dài hơn nhiều so với câu chuyện này.
Phan Thiện Trì dịch
June, 2022
EVERYTHING IN THE RIGHT PLACE
by
Hans Christian Andersen
IT is more than a hundred years ago! At the border of the wood, near a large lake, stood the old mansion: deep ditches surrounded it on every side, in which reeds and bulrushes grew. Close by the drawbridge, near the gate, there was an old willow tree, which bent over the reeds.
From the narrow pass came the sound of bugles and the trampling of horses’ feet; therefore a little girl who was watching the geese hastened to drive them away from the bridge, before the whole hunting party came galloping up; they came, however, so quickly, that the girl, in order to avoid being run over, placed herself on one of the high corner-stones of the bridge. She was still half a child and very delicately built; she had bright blue eyes, and a gentle, sweet expression. But such things the baron did not notice; while he was riding past the little goose-girl, he reversed his hunting crop, and in rough play gave her such a push with it that she fell backward into the ditch.
“Everything in the right place!” he cried. “Into the ditch with you.”
Then he burst out laughing, for that he called fun; the others joined in—the whole party shouted and cried, while the hounds barked.
While the poor girl was falling she happily caught one of the branches of the willow tree, by the help of which she held herself over the water, and as soon as the baron with his company and the dogs had disappeared through the gate, the girl endeavoured to scramble up, but the branch broke off, and she would have fallen backward among the rushes, had not a strong hand from above seized her at this moment. It was the hand of a pedlar; he had witnessed what had happened from a short distance, and now hastened to assist her.
“Everything in the right place,” he said, imitating the noble baron, and pulling the little maid up to the dry ground. He wished to put the branch back in the place it had been broken off, but it is not possible to put everything in the right place; therefore he stuck the branch into the soft ground.
“Grow and thrive if you can, and produce a good flute for them yonder at the mansion,” he said; it would have given him great pleasure to see the noble baron and his companions well thrashed. Then he entered the castle—but not the banqueting hall; he was too humble for that. No; he went to the servants’ hall. The men-servants and maids looked over his stock of articles and bargained with him; loud crying and screaming were heard from the master’s table above: they called it singing—indeed, they did their best. Laughter and the howls of dogs were heard through the open windows: there they were feasting and revelling; wine and strong old ale were foaming in the glasses and jugs; the favourite dogs ate with their masters; now and then the squires kissed one of these animals, after having wiped its mouth first with the tablecloth. They ordered the pedlar to come up, but only to make fun of him. The wine had got into their heads, and reason had left them. They poured beer into a stocking that he could drink with them, but quick. That’s what they called fun, and it made them laugh. Then meadows, peasants, and farmyards were staked on one card and lost.
“Everything in the right place!” the pedlar said when he had at last safely got out of Sodom and Gomorrah, as he called it. “The open high road is my right place; up there I did not feel at ease.”
The little maid, who was still watching the geese, nodded kindly to him as he passed through the gate.
Days and weeks passed, and it was seen that the broken willow-branch which the peddlar had stuck into the ground near the ditch remained fresh and green—nay, it even put forth fresh twigs; the little goose-girl saw that the branch had taken root, and was very pleased; the tree, so she said, was now her tree. While the tree was advancing, everything else at the castle was going backward, through feasting and gambling, for these are two rollers upon which nobody stands safely. Less than six years afterwards the baron passed out of his castle-gate a poor beggar, while the baronial seat had been bought by a rich tradesman. He was the very pedlar they had made fun of and poured beer into a stocking for him to drink; but honesty and industry bring one forward, and now the pedlar was the possessor of the baronial estate. From that time forward no card-playing was permitted there.
“That’s a bad pastime,” he said; “when the devil saw the Bible for the first time he wanted to produce a caricature in opposition to it, and invented card-playing.”
The new proprietor of the estate took a wife, and whom did he take?—The little goose-girl, who had always remained good and kind, and who looked as beautiful in her new clothes as if she had been a lady of high birth. And how did all this come about? That would be too long a tale to tell in our busy time, but it really happened, and the most important events have yet to be told.
It was pleasant and cheerful to live in the old place now: the mother superintended the household, and the father looked after things out-of-doors, and they were indeed very prosperous.
Where honesty leads the way, prosperity is sure to follow. The old mansion was repaired and painted, the ditches were cleaned and fruit-trees planted; all was homely and pleasant, and the floors were as white and shining as a pasteboard. In the long winter evenings the mistress and her maids sat at the spinning-wheel in the large hall; every Sunday the counsellor—this title the pedlar had obtained, although only in his old days—read aloud a portion from the Bible. The children (for they had children) all received the best education, but they were not all equally clever, as is the case in all families.
In the meantime the willow tree near the drawbridge had grown up into a splendid tree, and stood there, free, and was never clipped. “It is our genealogical tree,” said the old people to their children, “and therefore it must be honoured.”
A hundred years had elapsed. It was in our own days; the lake had been transformed into marsh land; the whole baronial seat had, as it were, disappeared. A pool of water near some ruined walls was the only remainder of the deep ditches; and here stood a magnificent old tree with overhanging branches—that was the genealogical tree. Here it stood, and showed how beautiful a willow can look if one does not interfere with it. The trunk, it is true, was cleft in the middle from the root to the crown; the storms had bent it a little, but it still stood there, and out of every crevice and cleft, in which wind and weather had carried mould, blades of grass and flowers sprang forth. Especially above, where the large boughs parted, there was quite a hanging garden, in which wild raspberries and hart’s-tongue ferns throve, and even a little mistletoe had taken root, and grew gracefully in the old willow branches, which were reflected in the dark water beneath when the wind blew the chickweed into the corner of the pool. A footpath which led across the fields passed close by the old tree. High up, on the woody hillside, stood the new mansion. It had a splendid view, and was large and magnificent; its window panes were so clear that one might have thought there were none there at all. The large flight of steps which led to the entrance looked like a bower covered with roses and broad-leaved plants. The lawn was as green as if each blade of grass was cleaned separately morning and evening. Inside, in the hall, valuable oil paintings were hanging on the walls. Here stood chairs and sofas covered with silk and velvet, which could be easily rolled about on castors; there were tables with polished marble tops, and books bound in morocco with gilt edges. Indeed, well-to-do and distinguished people lived here; it was the dwelling of the baron and his family. Each article was in keeping with its surroundings. “Everything in the right place” was the motto according to which they also acted here, and therefore all the paintings which had once been the honour and glory of the old mansion were now hung up in the passage which led to the servants’ rooms. It was all old lumber, especially two portraits—one representing a man in a scarlet coat with a wig, and the other a lady with powdered and curled hair holding a rose in her hand, each of them being surrounded by a large wreath of willow branches. Both portraits had many holes in them, because the baron’s sons used the two old people as targets for their crossbows. They represented the counsellor and his wife, from whom the whole family descended. “But they did not properly belong to our family,” said one of the boys; “he was a pedlar and she kept the geese. They were not like papa and mamma.” The portraits were old lumber, and “everything in its right place.” That was why the great-grandparents had been hung up in the passage leading to the servants’ rooms.
The son of the village pastor was tutor at the mansion. One day he went for a walk across the fields with his young pupils and their elder sister, who had lately been confirmed. They walked along the road which passed by the old willow tree, and while they were on the road she picked a bunch of field-flowers. “Everything in the right place,” and indeed the bunch looked very beautiful. At the same time she listened to all that was said, and she very much liked to hear the pastor’s son speak about the elements and of the great men and women in history. She had a healthy mind, noble in thought and deed, and with a heart full of love for everything that God had created. They stopped at the old willow tree, as the youngest of the baron’s sons wished very much to have a flute from it, such as had been cut for him from other willow trees; the pastor’s son broke a branch off. “Oh, pray do not do it!” said the young lady; but it was already done. “That is our famous old tree. I love it very much. They often laugh at me at home about it, but that does not matter. There is a story attached to this tree.” And now she told him all that we already know about the tree—the old mansion, the pedlar and the goose-girl who had met there for the first time, and had become the ancestors of the noble family to which the young lady belonged.
“They did not like to be knighted, the good old people,” she said; “their motto was ‘everything in the right place,’ and it would not be right, they thought, to purchase a title for money. My grandfather, the first baron, was their son. They say he was a very learned man, a great favourite with the princes and princesses, and was invited to all court festivities. The others at home love him best; but, I do not know why, there seemed to me to be something about the old couple that attracts my heart! How homely, how patriarchal, it must have been in the old mansion, where the mistress sat at the spinning-wheel with her maids, while her husband read aloud out of the Bible!”
“They must have been excellent, sensible people,” said the pastor’s son. And with this the conversation turned naturally to noblemen and commoners; from the manner in which the tutor spoke about the significance of being noble, it seemed almost as if he did not belong to a commoner’s family.
“It is good fortune to be of a family who have distinguished themselves, and to possess as it were a spur in oneself to advance to all that is good. It is a splendid thing to belong to a noble family, whose name serves as a card of admission to the highest circles. Nobility is a distinction; it is a gold coin that bears the stamp of its own value. It is the fallacy of the time, and many poets express it, to say that all that is noble is bad and stupid, and that, on the contrary, the lower one goes among the poor, the more brilliant virtues one finds. I do not share this opinion, for it is wrong. In the upper classes one sees many touchingly beautiful traits; my own mother has told me of such, and I could mention several. One day she was visiting a nobleman’s house in town; my grandmother, I believe, had been the lady’s nurse when she was a child. My mother and the nobleman were alone in the room, when he suddenly noticed an old woman on crutches come limping into the courtyard; she came every Sunday to carry a gift away with her.
“‘There is the poor old woman,’ said the nobleman; ‘it is so difficult for her to walk.’
“My mother had hardly understood what he said before he disappeared from the room, and went downstairs, in order to save her the troublesome walk for the gift she came to fetch. Of course this is only a little incident, but it has its good sound like the poor widow’s two mites in the Bible, the sound which echoes in the depth of every human heart; and this is what the poet ought to show and point out—more especially in our own time he ought to sing of this; it does good, it mitigates and reconciles! But when a man, simply because he is of noble birth and possesses a genealogy, stands on his hind legs and neighs in the street like an Arabian horse, and says when a commoner has been in a room: ‘Some people from the street have been here,’ there nobility is decaying; it has become a mask of the kind that Thespis created, and it is amusing when such a person is exposed in satire.”
Such was the tutor’s speech; it was a little long, but while he delivered it he had finished cutting the flute.
There was a large party at the mansion; many guests from the neighbourhood and from the capital had arrived. There were ladies with tasteful and with tasteless dresses; the big hall was quite crowded with people. The clergymen stood humbly together in a corner, and looked as if they were preparing for a funeral, but it was a festival—only the amusement had not yet begun. A great concert was to take place, and that is why the baron’s young son had brought his willow flute with him; but he could not make it sound, nor could his father, and therefore the flute was good for nothing.
There was music and songs of the kind which delight most those that perform them; otherwise quite charming!
“Are you an artist?” said a cavalier, the son of his father; “you play on the flute, you have made it yourself; it is genius that rules—the place of honour is due to you.”
“Certainly not! I only advance with the time, and that of course one can’t help.”
“I hope you will delight us all with the little instrument—will you not?” Thus saying he handed to the tutor the flute which had been cut from the willow tree by the pool; and then announced in a loud voice that the tutor wished to perform a solo on the flute. They wished to tease him—that was evident, and therefore the tutor declined to play, although he could do so very well. They urged and requested him, however, so long, that at last he took up the flute and placed it to his lips.
That was a marvellous flute! Its sound was as thrilling as the whistle of a steam engine; in fact it was much stronger, for it sounded and was heard in the yard, in the garden, in the wood, and many miles round in the country; at the same time a storm rose and roared; “Everything in the right place.” And with this the baron, as if carried by the wind, flew out of the hall straight into the shepherd’s cottage, and the shepherd flew—not into the hall, thither he could not come—but into the servants’ hall, among the smart footmen who were striding about in silk stockings; these haughty menials looked horror-struck that such a person ventured to sit at table with them. But in the hall the baron’s daughter flew to the place of honour at the end of the table—she was worthy to sit there; the pastor’s son had the seat next to her; the two sat there as if they were a bridal pair. An old Count, belonging to one of the oldest families of the country, remained untouched in his place of honour; the flute was just, and it is one’s duty to be so. The sharp-tongued cavalier who had caused the flute to be played, and who was the child of his parents, flew headlong into the fowl-house, but not he alone.
The flute was heard at the distance of a mile, and strange events took place. A rich banker’s family, who were driving in a coach and four, were blown out of it, and could not even find room behind it with their footmen. Two rich farmers who had in our days shot up higher than their own corn-fields, were flung into the ditch; it was a dangerous flute. Fortunately it burst at the first sound, and that was a good thing, for then it was put back into its owner’s pocket—“its right place.”
The next day, nobody spoke a word about what had taken place; thus originated the phrase, “to pocket the flute.” Everything was again in its usual order, except that the two old pictures of the peddlar and the goose-girl were hanging in the banqueting-hall. There they were on the wall as if blown up there; and as a real expert said that they were painted by a master’s hand, they remained there and were restored. “Everything in the right place,” and to this it will come. Eternity is long, much longer indeed than this story.
Translated into Vietnamese by Phan Thien Tri
June, 2022
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét