CÁI CỔ CHAI
Hans Christian Andersen
Phan Thiện Trì dịch
MẤT hút ở góc phố, giữa những nơi nghèo khó khác, là một ngôi nhà chật hẹp nhưng cực kỳ cao, đã bị suy sập theo thời gian đến mức dường như không khớp theo mọi hướng. Ngôi nhà này là nơi sinh sống của những người nghèo, nhưng sự nghèo đói sâu sắc nhất hiện rõ trong căn gác xép trên căn nhà trọ ở đầu hồi. Trước khung cửa sổ nhỏ, một chiếc lồng chim cũ kỹ bị uốn cong treo trong ánh nắng, thậm chí không có một ly nước thích hợp, mà thay vào đó là chiếc cổ chai bị vỡ, lộn ngược và một chiếc nút chai được cắm vào để làm cho nó giữ nước đã được đổ đầy. Một thiếu phụ già đứng ở cửa sổ; bà ấy đã treo bông hoa đậu biếc lên trên lồng, và con chim hồng tước nhỏ trong đó nhảy từ chỗ đậu này sang chỗ đậu khác và hát và nhún nhảy một cách vui vẻ.
Cổ chai nói: “Vâng, thật tuyệt vời, cậu hót hay lắm!” nghĩa là, cổ chai không thực sự nói được những lời như chúng ta nói, vì cổ chai không thể nói được; nhưng nó tự nghĩ những lời này ngay trong tâm trí nó, cũng như đôi khi người ta nói chuyện nhỏ nhẹ với chính mình.
“Đúng vậy, bạn có thể hát rất hay, bạn có đầy đủ tứ chi, không bị thương tổn; bạn sẽ cảm thấy như thế nào khi mất đi cơ thể của mình, chỉ còn lại cổ và miệng, với một cái nút chai được gắn vào để giữ nước đã được đổ đầy trong đó, như tôi đây: khi đó bạn sẽ không hát, tôi biết. Rốt cuộc, thật cũng tốt như một số người có thể rất hạnh phúc. Tôi không có lý do gì để hát, và tôi cũng không thể hát bây giờ nếu tôi đã từng rất hạnh phúc; nhưng khi tôi còn là một cái chai nguyên vẹn, và họ đã dùng nút chai chà xát tôi, vậy tôi đã không hát tốt sao? Tôi từng được gọi là một con chim sơn ca hoàn chỉnh. Tôi nhớ khi tôi đi dã ngoại với gia đình người thợ thuộc da lông thú, vào ngày con gái ông ta được hứa hôn, — như thể nó vừa mới xảy ra ngày hôm qua. Tôi đã trải qua rất nhiều điều trong thời gian của mình, khi tôi nhớ lại: Tôi đã ở trong lửa và dưới nước, tôi đã ở sâu trong lòng đất, và đã vút lên cao hơn trên không trung hơn hầu hết những người khác, và bây giờ Tôi đang đong đưa ở đây, bên ngoài lồng chim, trong không khí và ánh nắng. Ồ, thực sự, sẽ rất đáng để nghe lịch sử của tôi; nhưng tôi không to tiếng lớn họng về nó, vì một lý do chính đáng — bởi vì tôi không thể”.
Sau đó, cổ chai kể lại lịch sử của nó, một lịch sử rất đáng chú ý; thực ra, nó kể cho chính nó, hoặc, ít nhất, nghĩ về lịch sử của mình trong đầu của chính nó. Chú chim nhỏ vui vẻ hát bài hát của chính mình; ở con phố bên dưới có xe cộ lại qua tấp nập, mỗi người đều nghĩ về việc riêng của mình, hoặc có lẽ chẳng nghĩ gì cả; nhưng cổ chai đã suy nghĩ một cách sâu sắc. Nó nghĩ về cái lò nung rực lửa trong nhà máy, nơi nó đã được thổi vào sự sống; nó nhớ lại cảm giác nóng như thế nào khi nó được đặt trong lò nung, ngôi nhà mà từ đó nó hình thành, và có một khuynh hướng mạnh mẽ để trực tiếp nhảy ra ngoài; nhưng một lúc sau thì trở nên mát hơn, và nó thấy mình rất thoải mái. Nó đã được xếp vào hàng, với cả một trung đoàn anh chị em của nó đều đã được cho ra lò cùng một lò nung; một số trong chúng chắc chắn đã được thổi vào chai sâm panh, và số khác vào chai bia, điều này tạo ra một chút khác biệt giữa chúng. Trên thế giới thường xảy ra trường hợp một chai bia có thể chứa rượu quý nhất, và một chai sâm panh chứa đầy xi-ra đen, nhưng ngay cả khi đã phân hủy, người ta vẫn có thể biết được một loại chai đã được sinh ra tốt hay chưa. Quý tộc vẫn cao quý, vì một chai rượu sâm banh vẫn giữ nguyên giá trị, ngay cả khi bên trong nó vẫn còn chất xi-ra đen. Khi các chai được đóng gói, chai của chúng tôi đã được đóng gói trong số đó; nó ít ai ngờ sau đó sẽ kết thúc sự nghiệp của mình như một cái cổ chai, hoặc được sử dụng như một cái ly đựng nước trong lồng chim, xét cho cùng, đó là một nơi vinh dự, vì nó sẽ có ích trên thế giới. Chai rượu không còn nhìn thấy ánh sáng ban ngày nữa, cho đến khi nó được mở ra cùng với phần còn lại trong hầm rượu của nhà buôn rượu, và lần đầu tiên được rửa sạch bằng nước, điều này gây ra một số cảm giác rất là lạ. Ở đó, nó trống rỗng, không có nút chai, và nó có một cảm giác kỳ lạ, như thể nó muốn một thứ gì đó mà nó không biết là gì. Cuối cùng, nó chứa đầy rượu đắt tiền và quý giá, một nút chai được đóng vào miệng chai và niêm phong lại. Sau đó, nó được dán nhãn "chất lượng hàng đầu", như thể nó đã đạt giải nhất trong một cuộc kiểm tra; ngoài ra, rượu và chai cả hai đều ngon và đẹp, và trong khi chúng tôi còn trẻ là thời kỳ thơ mộng nhất. Có những âm thanh của bài hát trong chai, của những điều nó không thể hiểu được, của những ngọn núi xanh đầy ánh nắng, nơi có những giàn nho leo đầy ắp, và nơi những người trồng nho vui vẻ cười, hát và hạnh phúc. “Ôi, cuộc sống tươi đẹp làm sao!” Tất cả những giai điệu của niềm vui và bài hát trong chai giống như hoạt động của bộ não của một nhà thơ trẻ, người thường không biết ý nghĩa của âm điệu đang phát ra bên trong mình. Một buổi sáng nọ, cái chai thấy một người mua từ xưởng thợ người buôn da thục lông thú, người này yêu cầu mang đến một trong những chai rượu ngon nhất. Chai được đặt trong giỏ thực phẩm, cùng với giăm bông, pho mát và xúc xích. Bơ tươi ngọt nhất và bánh mì nóng ngon nhất đã được chính con gái của người buôn da thục lông thú cho vào giỏ để cô đóng gói. Cô còn trẻ và xinh xắn; đôi mắt nâu của cô cười, và nụ cười đọng lại quanh miệng cô cũng ngọt ngào như nụ cười trong mắt cô ấy. Cô có đôi bàn tay thanh tú, xinh đẹp, trắng ngần, và chiếc cổ của cô còn trắng hơn. Có thể dễ dàng nhận thấy rằng cô ấy là một cô gái rất đáng yêu, và cô vẫn chưa đính hôn. Chiếc giỏ đựng thức ăn nằm trong lòng cô gái trẻ khi cả gia đình lái xe vào rừng, và chiếc cổ chai ló ra từ giữa những nếp gấp của chiếc khăn ăn trắng. Có lớp sáp màu đỏ trên nút chai, và cái chai nhìn thẳng vào mặt cô gái trẻ, và cả vào mặt của anh chàng thủy thủ trẻ ngồi gần cô ấy. Anh là một người bạn trẻ, con trai của một họa sĩ vẽ chân dung. Gần đây, anh ấy đã đỗ kỳ thi với hạng ưu, như là một người bạn đời, và sáng hôm sau anh ta sẽ ra đi trên con tàu của mình đến một bờ biển xa xôi. Đã có rất nhiều cuộc nói chuyện về chủ đề này trong khi giỏ hàng đang được đóng gói, và trong cuộc trò chuyện này, mắt và miệng của cô con gái của người thợ da thục lông thú không có biểu hiện vui vẻ cho lắm. Những người trẻ tuổi lang thang vào rừng cây xanh, và cùng nhau trò chuyện. Họ nói về cái gì vậy? Cái chai không thể nói, vì nó đang ở trong giỏ thức ăn. Nó vẫn ở đó một thời gian dài; nhưng cuối cùng khi nó được đưa ra, nó có vẻ như có điều gì đó vui vẻ đã xảy ra, vì mọi người đang cười; con gái của người thợ buôn bán da thục cũng cười, nhưng cô nói rất ít, và má cô giống như hai bông hồng. Sau đó, cha cô cầm cái chai và cái nút chai trong tay. Thật là một cảm giác là lạ khi lần đầu tiên được khui nút chai! Cái chai không bao giờ có thể quên được màn trình diễn của khoảnh khắc đó; thực sự có một cơn chấn động trong nó khi nút chai bay ra, và một âm thanh ục ục khi rượu được rót ra ly.
"Cuộc sống cho người đã hứa hôn muôn năm,” người cha hô lớn lên, và mỗi ly rượu đều được nốc cạn đến đáy, trong khi chàng thủy thủ trẻ hôn cô dâu xinh đẹp của mình.
“Hạnh phúc và phúc lành đến với cả hai con,” người cha và người mẹ già nói, và chàng trai trẻ tuổi lại nâng ly.
“Trở về an toàn, và một đám cưới sẽ diễn ra vào ngày này năm sau,” anh hô to lên; và khi các ly đều đã cạn, anh cầm lấy cái chai, nâng nó lên cao và nói: “Ngươi đã có mặt ở đây vào ngày vui nhất trong đời ta; ngươi sẽ không bao giờ được sử dụng bởi người khác!” Nói như vậy xong, anh ta ném tung nó lên cao trong không trung.
Con gái của ông chủ buôn bán da thục nghĩ rằng cô sẽ không bao giờ nhìn thấy nó nữa, nhưng cô đã nhầm. Nó rơi xuống giữa dòng chảy xô vào bờ của một cái hồ nhỏ trong rừng. Cái cổ chai nhớ rõ nó đã nằm đó bao lâu mà không được ai thấy. “Tôi đã cho họ rượu, và họ cho tôi nước bùn,” cổ chai tự nhủ, “nhưng tôi cho rằng tất cả đều có ý tốt.” Cổ chai không còn nhìn thấy đôi trai gái đã hứa hôn, cũng không còn gặp lại những người xưa vui vẻ; nhưng trong một thời gian dài, nó có thể nghe thấy họ vui mừng và ca hát. Lúc đó, có hai cậu bé con nhà nông dân, chúng nhìn nhanh vào đám lau sậy và phát hiện cái chai. Rồi chúng lấy nó lên và mang nó về nhà, để một lần nữa nó được châm đầy trở lại. Tại nhà, trong ngôi nhà gỗ của họ, những cậu bé này có một người anh trai, là một thủy thủ, người sắp bắt đầu một một chuyến hải hành dài. Anh ấy đã ở đó vào ngày hôm trước để nói lời từ biệt, và mẹ anh lúc ấy đang rất bận rộn thu xếp nhiều thứ khác nhau để anh mang theo trong chuyến đi của mình. Vào buổi tối, cha anh sẽ mang gói hành lý đến thị trấn để gặp con một lần nữa và gửi cho anh lời chào tạm biệt từ mẹ anh. Một chai nhỏ đã chứa đầy trà thảo mộc, pha với rượu mạnh, và được gói trong một cái bọc; nhưng khi hai cậu bé bước vào, chúng mang theo một cái chai lớn hơn và dày hơn, mà chúng đã tìm thấy. Chai này sẽ chứa được nhiều hơn chai nhỏ, và tất cả họ đều nói rằng rượu mạnh sẽ rất tốt cho những sự phàn nàn của dạ dày, đặc biệt là khi nó được trộn với các vị thảo dược. Chất lỏng mà bây giờ chúng đổ vào chai không giống như rượu vang trước đó đã được châm đầy; đây là những giọt đắng, nhưng đôi khi chúng có công dụng tuyệt vời đối với dạ dày. Cái chai lớn mới sẽ được mang đi, chứ không phải chiếc chai nhỏ: vì vậy cái chai một lần nữa lại bắt đầu hành trình của mình. Nó đã được đưa lên tàu (vì Peter Jensen là một trong số các thủy thủ đoàn), chính con tàu mà người bạn đời trẻ tuổi sẽ trương buồm ra khơi. Nhưng người bạn đời không nhìn thấy cái chai: quả thật, nếu nhìn thấy anh ta cũng sẽ không biết, hoặc cho rằng đó là cái chai mà vì nó mà họ đã say khướt vì hạnh phúc của người đã hứa hôn và trước viễn cảnh một cuộc hôn nhân hạnh phúc của riêng mình lúc trở về. Chắc chắn cái chai không còn rót ra rượu nữa, nhưng nó chứa một thứ gì đó khá ngon; và do đó, bất cứ khi nào Peter Jensen mang nó ra, những người bạn ăn cùng bàn trên tàu của anh đặt cho nó cái tên là “thuốc bào chế”, vì nó chứa loại thuốc tốt nhất để chữa bệnh dạ dày, và anh ta đã đưa nó ra một cách khá sẵn lòng miễn là vẫn còn lại một giọt. Đó là những ngày hạnh phúc, và cái chai sẽ hát khi cọ xát với một nút chai, và nó được gọi là “chim sơn ca tuyệt vời”, “chim sơn ca của Peter Jensen”.
Những ngày tháng dài trôi qua, trong suốt thời gian đó cái chai trống rỗng đứng trong một góc, khi một cơn bão nổi lên - dù trên đường đi hay đã về nhà, nó không thể biết được, vì nó chưa bao giờ được lên bờ. Đó là một cơn bão khủng khiếp, những con sóng cao như núi nổi lên, cuồn cuộn tối tăm và ném tung con tàu về phía trước ra phía sau. Cột buồm chính bị tách ra, con tàu lộ ra một lỗ thủng và các máy bơm trở nên vô dụng, trong khi xung quanh trời tối đen như giữa đêm. Vào giây phút cuối cùng, khi con tàu đang chìm, người bạn đời trẻ tuổi đã viết trên một mảnh giấy, "Chúng tôi sắp bị chìm: Ý của Chúa sẽ được thực hiện." Sau đó, anh ấy viết tên của người đã hứa hôn, tên riêng của anh, và tên của con tàu. Rồi anh ta cho tờ giấy ấy vào một cái chai rỗng mà tình cờ anh có trong tay, đậy chặt nút lại, và ném nó xuống biển đang sủi bọt. Anh không biết rằng đó chính là cái chai mà từ đó chiếc cốc của niềm vui và hy vọng đã từng được rót đầy cho anh, và giờ nó đang tung tăng trên sóng với lời chào cuối cùng của anh, và một thông điệp từ cõi chết. Con tàu bị chìm, và thủy thủ đoàn cũng chìm theo con tàu; nhưng cái chai vẫn bay như một con chim, vì nó mang trong mình một lá thư yêu thương từ một trái tim yêu thương. Và khi mặt trời mọc và lặn, cái chai có cảm giác như ở thời điểm tồn tại đầu tiên của nó, lúc ở trong bếp lò rực sáng, nó có một khao khát được bay đi. Nó sống sót qua những cơn bão nổi và những lúc sóng yên biển lặng, nó không va đập vào đá, không bị cá mập nuốt chửng, nhưng trôi dạt trên biển hơn một năm, đôi khi hướng về phía bắc, đôi khi hướng về phía nam, xuôi theo dòng nước đã mang nó. Theo mọi cách khác, nó là chủ nhân của chính nó, nhưng ngay cả cách đó nó cũng có thể trở nên mệt mỏi. Mảnh giấy được viết đôi dòng, lời vĩnh biệt cuối cùng của chàng rể đối với cô dâu của mình, sẽ chỉ mang lại nỗi buồn khi nó đến tay nàng; Nhưng đôi bàn tay ấy, rất mềm mại và thanh tú, đã từng trải khăn trải bàn trên thảm cỏ tươi trong rừng xanh, vào ngày hứa hôn của nàng giờ ở đâu? À, vâng! con gái của nhà buôn da thục đã ở đâu? và đâu là vùng đất có thể nằm gần nhà cô ấy nhất?
Cái chai không biết, nó cứ trôi đi trôi đi mãi mãi, và cuối cùng thì việc lang thang này cũng trở nên mệt mỏi; tại tất cả các sự kiện nó không phải là nghề nghiệp thông thường của nó. Nhưng nó phải đi, cho đến khi nó đến đất liền - một đất nước xa lạ. Không một từ nào được nói ở đất nước này mà cái chai có thể hiểu được; đó là một ngôn ngữ mà nó chưa bao giờ được nghe trước đây, và thật là một mất mát lớn khi không thể hiểu một ngôn ngữ. Cái chai được vớt lên khỏi mặt nước và được xem xét trên tất cả các mặt. Bức thư nhỏ chứa bên trong nó được khám phá, lấy ra, và xoay và xoắn theo mọi hướng; nhưng mọi người không thể hiểu những gì được viết trên đó. Họ có thể chắc chắn rằng cái chai đã được ném xuống khỏi boong tàu từ một chiếc tàu thuỷ, và một điều gì đó về con tàu đã được viết trên tờ giấy này: nhưng cái gì đã được viết? đó là câu hỏi, —vì vậy, tờ giấy được đóng lại vào trong chai, và sau đó cả hai được cất vào một cái tủ lớn tại một trong những ngôi nhà lớn của thị trấn. Bất cứ khi nào có người xứ lạ đến, tờ giấy được lấy ra và được lật đi lật lại, vì vậy địa chỉ, vốn chỉ viết bằng bút chì, trở nên gần như không thể đọc được, và cuối cùng không ai có thể phân biệt được bất kỳ chữ cái nào trên đó. Cả năm trời, cái chai vẫn nằm trong tủ, và sau đó nó được đưa lên gác xép, nơi nó nhanh chóng bị bao phủ bởi bụi và mạng nhện. Ôi! Từ đó nó thường nghĩ về những ngày tốt đẹp không biết bao lần — về những lần trong khu rừng xanh tươi, nó rót ra một thứ rượu nồng; hoặc, trong khi nó tròng trành bởi những con sóng nhồi, nó đã mang trong lòng một bí mật, một bức thư, một tiếng thở dài chia tay cuối cùng. Trong suốt hai mươi năm nó đã đứng trên gác xép, và có thể nó đã ở đó lâu hơn nữa nếu ngôi nhà không được xây dựng lại. Cái chai được phát hiện khi mái nhà đã được dỡ xuống; họ đã nói về nó, nhưng cái chai không hiểu họ nói gì — một ngôn ngữ không thể học được khi sống trong gác xép, thậm chí trong suốt hai mươi năm. “Nếu tôi đã đi xuống cầu thang trong phòng,” cái chai nghĩ, “Tôi đã có thể học được điều đó.” Bây giờ nó đã được rửa và lau sạch, quá trình này thực sự khá cần thiết, và sau đó nó trông sạch sẽ và trong suốt, và cảm thấy trẻ lại ở tuổi già; nhưng tờ giấy mà nó đã trung thành mang theo đã bị phá hủy trong quá trình giặt. Người ta cho vào chai đầy hạt giống, mặc dù thật khó mà biết được trước đó nó được đựng thứ gì. Sau đó, họ đậy nút thật chặt và gói nó lại một cách cẩn thận. Thậm chí ánh sáng của ngọn đuốc hoặc đèn lồng cũng không thể chiếu tới được, ít hơn nhiều so với độ sáng của mặt trời hoặc mặt trăng. “Tuy nhiên,” cái chai nghĩ, “con người đi trên một cuộc hành trình mà họ có thể nhìn thấy nhiều nhất có thể, còn tôi không thể thấy gì.” Tuy nhiên, nó đã làm một việc khá quan trọng; nó đã đi đến nơi sở định của nó và được giải mã.
Họ đã gặp rắc rối gì với cái chai đó từ lâu rồi! " một người nói, "và có lẽ nó đã bị hỏng rồi." Nhưng cái chai không bị vỡ, và tốt hơn nữa, nó hiểu mọi lời được nói ra: thứ ngôn ngữ này nó đã nghe ở các lò nung và ở các tiệm của người buôn bán rượu; ở trong rừng và trên tàu, —đó là thứ ngôn ngữ cổ hay duy nhất mà nó có thể hiểu được. Nó đã trở về nhà, và ngôn ngữ đó như một lời chào mừng. Vì rất vui mừng, nó cảm thấy sẵn sàng nhảy ra khỏi tay mọi người và hầu như không nhận thấy rằng nút chai của nó đã được khui ra, và những thứ bên trong nó đã được lấy ra, cho đến khi nó thấy chính mình được đưa đến một căn hầm, bị bỏ lại đó và bị lãng quên. "Không đâu bằng ở tại quê nhà, chỗ quê hương đẹp hơn cả; dù rằng đó là một căn hầm." Nó chưa bao giờ nghĩ rằng mình có thể nằm đó nhiều năm, nó cảm thấy thật thoải mái. Trong nhiều năm dài, nó ở trong hầm, cho đến cuối cùng một số người đến để mang các chai đi, trong số đó có chúng tôi.
Ngoài vườn lúc này đang có một lễ hội lớn. Những ngọn đèn rực rỡ được treo trên các đường dây hoa, từ cây này sang cây khác; và những chiếc đèn lồng bằng giấy, qua đó ánh sáng chiếu vào cho đến khi chúng trông giống như những bông hoa tuy-líp trong suốt. Đó là một buổi tối đẹp trời, thời tiết ôn hòa và bầu trời trong xanh. Những vì sao lấp lánh; còn mặt trăng non, dưới dạng lưỡi liềm, được bao quanh bởi đĩa bóng râm của mặt trăng, và trông giống như một quả địa cầu màu xám có viền vàng: đó là một cảnh đẹp cho những ai có đôi mắt tinh tường. Sự chiếu sáng lan rộng đến cả những nơi hẻo lánh nhất trong các lối đi trong vườn, ít nhất là không quá hẻo lánh đến nỗi không ai bị lạc lối trong đó. Tại các đường viền được đặt những cái chai, mỗi cái chứa một ánh sáng, và trong số đó có cái chai mà chúng ta quen biết, và số phận của chúng, một ngày nào đó, nó sẽ chỉ là cái cổ chai, và trở thành cái cốc đựng nước trong một lồng chim. Mọi thứ ở đây trông thật đáng yêu đối với cái chai của chúng tôi, vì nó lại ở trong rừng cây xanh, giữa niềm vui và yến tiệc; nó lại nghe thấy âm nhạc và bài hát, và tiếng ồn ào và tiếng rầm rì của một đám đông, đặc biệt là trong khu vườn nơi những ngọn đèn rực sáng, và những chiếc đèn lồng bằng giấy có màu sắc rực rỡ. Nó chắc chắn đứng ở một nơi xa, nhưng là một nơi dễ chịu để chiêm ngưỡng; và nó mang theo một thứ ánh sáng; và ngay lập tức nó trở nên hữu ích và mang tính chất trang trí. Trong một giờ như vậy, thật dễ dàng để quên rằng nó đã trải qua hai mươi năm trong gác xép, và đó là một điều tốt để có thể làm như vậy. Đóng lại trước khi cái chai được chuyển qua một cặp đơn, giống như cặp cô dâu chú rể - người bạn đời và con gái của người bán da thục lông thú - người đã lang thang trong rừng cách đây khá lâu. Dường như đối với cái chai như thể nó đang sống lại khoảng thời gian đó. Không chỉ những vị khách mà những người khác đang đi dạo trong khu vườn, những người được phép chứng kiến sự lộng lẫy và lễ hội. Trong số những người dự lễ hội là một thiếu phụ già, người dường như khá cô đơn trên thế giới. Bà ấy đang nghĩ, giống như cái chai, về khu rừng xanh, và về một đôi trẻ tuổi đã hứa hôn, có liên hệ gần gũi với chính bà; bà đang nghĩ đến giờ phút đó, lúc hạnh phúc nhất trong cuộc đời mà bà đã tham gia, khi mà chính bà là một trong hai người trẻ tuổi đã hứa hôn hôm đó; những giờ phút như thế không bao giờ được lãng quên, hãy để một người con gái được già như bà. Nhưng bà không nhận ra cái chai, cái chai cũng không để ý đến người thiếu phụ già. Và vì vậy chúng tôi thường qua mặt nhau trên thế giới khi gặp nhau, cả hai người này cũng vậy, ngay cả khi cùng ở trong một thị trấn.
Cái chai được lấy từ vườn, và một lần nữa được gửi đến một người buôn rượu, nơi đây một lần nữa nó được đổ đầy rượu và được bán cho một nhà hàng không, người sẽ bay lên trong một khinh khí cầu của anh ta vào Chủ nhật tuần sau. Một đám đông lớn tập hợp để chứng kiến cảnh tượng; quân nhạc đã được tham gia, và nhiều sự chuẩn bị khác đã được thực hiện. Cái chai đã nhìn thấy tất cả từ cái giỏ mà nó nằm trong đó gần một con thỏ còn sống. Chú thỏ tỏ ra khá phấn khích vì biết rằng nó sẽ được đưa lên cao và lại được thả xuống bằng dù. Tuy nhiên, cái chai không biết gì về "lên" hay "xuống;" nó chỉ thấy rằng quả bóng phồng lên mỗi lúc một to hơn cho đến khi nó không thể phồng hơn nữa, và bắt đầu cất lên và chuyển động không ngừng. Sau đó, những sợi dây thừng giữ nó bị cắt qua, và chiếc khinh khí cầu bay lên trong không trung với người lái khí cầu cùng chiếc giỏ đựng cái chai và con thỏ, trong khi âm nhạc vang lên và tất cả mọi người reo lên "Hoan hô”.
“Đây là một cuộc hành trình tuyệt vời lên không trung,” cái chai nghĩ; "Đó là một cách chèo thuyền mới, và ở đây, ít nhất, bạn không phải lo sợ về việc tấn công chống lại bất cứ thứ gì."
Hàng ngàn người nhìn khinh khí cầu, và thiếu phụ già đang ở trong vườn cũng nhìn thấy nó; vì bà đứng ở cửa sổ đang mở của căn gác xép, trên đó treo cái lồng nhốt con chim hồng tước, lúc đó không có ly đựng nước, nhưng bắt buộc phải bằng lòng với một cái cốc cũ. Trên bệ cửa sổ có một cây thường xanh trồng trong chậu, cây này đã được đẩy một chút sang một bên, để nó không rơi ra ngoài; vì người thiếu phụ già đang dựa ra ngoài cửa sổ, để có thể nhìn thấy. Và bà đã nhìn thấy rõ ràng người bay trong khinh khí cầu, và cách anh ta thả con thỏ xuống bằng dù, rồi uống rượu từ trong chai để chúc sức khỏe cho tất cả khán giả. Sau khi làm điều này, anh đã hất tung nó lên không trung. Bà nghĩ rằng đây chính là cái chai mà người bạn tình của bà đã ném lên cao để vinh danh bà, trong ngày mừng vui đầy hạnh phúc đó, trong rừng cây xanh, trong những ngày còn trẻ của bà. Cái chai không có thời gian để suy nghĩ, khi được nhấc lên quá đột ngột; và trước khi nhận thức được, nó đã đạt đến đỉnh cao nhất mà nó từng đạt được trong đời. Những tháp chuông nhà thờ và những mái nhà nằm xa, rất xa bên dưới nó, và mọi người trông càng lúc càng nhỏ. Sau đó, nó bắt đầu hạ xuống nhanh hơn nhiều so với những gì con thỏ đã làm, bay cuộn mình nhào lộn xộn trong không khí, và cảm thấy chính mình còn khá trẻ và không bị trói buộc, mặc dù rượu trong nó chỉ còn chưa đầy một nửa. Nhưng điều này không kéo dài. Đó là một cuộc hành trình! Tất cả những người có thể nhìn thấy cái chai; vì mặt trời đã chiếu vào nó. Chiếc khinh khí cầu đã ở rất xa, và chẳng bao lâu sau, cái chai cũng bay xa; vì nó rơi trên một mái nhà, và vỡ ra thành nhiều mảnh vụn. Nhưng những mảnh ghép đã có động lực thúc đẩy bên trong chúng đến nỗi chúng không thể ngăn mình lại. Chúng nhảy và lăn lộn mãi, cho đến khi cuối cùng rơi xuống sân, và bị vỡ thành nhiều mảnh nhỏ hơn; chỉ có cổ chai là giữ được nguyên vẹn, và nó bị vỡ ra sạch sẽ như thể nó được cắt bằng một viên kim cương.
“Cái cổ chai đó sẽ dùng làm ly thủy tinh của một con chim tuyệt đẹp,” một trong những người giữ kho rượu nói; nhưng không ai trong số họ có một con chim hoặc một cái lồng, và không thể mong đợi họ sẽ cung cấp một cái chỉ vì họ đã tìm thấy một chiếc cổ chai có thể dùng làm ly thủy tinh. Nhưng người thiếu phụ già đã sống trong căn gác xép có một con chim, và nó thực sự có ích cho bà ấy; vì vậy cổ chai được cung cấp cùng với một nút chai, và đưa đến cho bà; và, như thường xảy ra trong cuộc sống, phần trước kia ở bên trên giờ được quay xuống bên dưới và chứa đầy nước ngọt. Rồi họ đặt nó vào lồng của con chim nhỏ, nó hót líu lo và nhún nhảy vui vẻ hơn bao giờ hết.
“À, bạn có lý do chính đáng để ca hát,” chiếc cổ chai, được xem như một thứ gì đó rất đáng chú ý, nói, bởi vì nó nằm trong một quả khinh khí cầu; không có gì thêm được biết về lịch sử của nó. Khi treo ở đó trong lồng chim, nó có thể nghe thấy tiếng ồn ào và tiếng rầm rì của những người ở con phố bên dưới, cũng như cuộc trò chuyện của người thiếu phụ già ở căn phòng bên trong. Một người bạn cũ vừa đến thăm bà, và họ nói chuyện, không phải về cái cổ chai, mà là về cây thường xuân bên cửa sổ.
"Không, bạn không được chi một đô la cho bó hoa cô dâu của con gái bạn," người thiếu phụ già nói; “Bạn sẽ có một bó nhỏ xinh đẹp thay cho một bó hoa thơm đầy những bông hoa nở rộ. Bạn có thấy cây đã phát triển rực rỡ như thế nào không? Nó đã được lớn lên chỉ từ một nhánh cây nho nhỏ mà bạn tặng cho tôi vào ngày sau khi tôi hứa hôn, và từ đó tôi đã tự làm bó hoa cô dâu của riêng tôi khi một năm đã trôi qua: nhưng ngày đó không bao giờ đến; đôi mắt nhắm nghiền vốn là ánh sáng và niềm vui của tôi trong suốt cuộc đời. Dưới đáy biển sâu người yêu của tôi đã yên ngủ; cây thường xuân đã trở thành cây cổ thụ, và tôi vẫn là một thiếu phụ lớn tuổi. Trước khi cành cây bạn cho tôi tàn lụi, tôi đã chiết một cành nhỏ và trồng nó xuống đất; và bây giờ, như bạn thấy, nó đã trở thành một cái cây lớn, và một chùm hoa cuối cùng sẽ xuất hiện trong một lễ hội cưới, trong bó hoa của con gái bạn”.
Đôi mắt của người thiếu phụ già đã có những giọt nước mắt, khi bà nói về người yêu thời trẻ của mình, và về lời hứa hôn của họ trong rừng. Nhiều ý nghĩ hiện ra trong đầu bà; nhưng ý nghĩ đó đã không bao giờ đến, điều đó khá gần với bà, trong chính khung cửa sổ đó, là sự hồi tưởng về những thời xa xưa đó, — chiếc cổ chai, khi nó được reo lên vì sung sướng khi nút chai bay ra với một tiếng “bùng” vào ngày đính hôn đó. Nhưng cổ chai đã không nhận ra người thiếu phụ già; nó đã không lắng nghe những gì bà ấy kể lại, có lẽ vì nó đang nghĩ quá nhiều về cô dâu ngày ấy.
Phan Thiện Trì dịch
May, 2022
THE BOTTLE NECK
Hans Christian Andersen
Phan Thiện Trì dịch
CLOSE to the corner of a street, among other abodes of poverty, stood an exceedingly tall, narrow house, which had been so knocked about by time that it seemed out of joint in every direction. This house was inhabited by poor people, but the deepest poverty was apparent in the garret lodging in the gable. In front of the little window, an old bent bird-cage hung in the sunshine, which had not even a proper water-glass, but instead of it the broken neck of a bottle, turned upside down, and a cork stuck in to make it hold the water with which it was filled. An old maid stood at the window; she had hung chickweed over the cage, and the little linnet which it contained hopped from perch to perch and sang and twittered merrily.
“Yes, it’s all very well for you to sing,” said the bottle neck: that is, he did not really speak the words as we do, for the neck of a bottle cannot speak; but he thought them to himself in his own mind, just as people sometimes talk quietly to themselves.
“Yes, you may sing very well, you have all your limbs uninjured; you should feel what it is like to lose your body, and only have a neck and a mouth left, with a cork stuck in it, as I have: you wouldn’t sing then, I know. After all, it is just as well that there are some who can be happy. I have no reason to sing, nor could I sing now if I were ever so happy; but when I was a whole bottle, and they rubbed me with a cork, didn’t I sing then? I used to be called a complete lark. I remember when I went out to a picnic with the furrier’s family, on the day his daughter was betrothed,—it seems as if it only happened yesterday. I have gone through a great deal in my time, when I come to recollect: I have been in the fire and in the water, I have been deep in the earth, and have mounted higher in the air than most other people, and now I am swinging here, outside a bird-cage, in the air and the sunshine. Oh, indeed, it would be worth while to hear my history; but I do not speak it aloud, for a good reason—because I cannot.”
Then the bottle neck related his history, which was really rather remarkable; he, in fact, related it to himself, or, at least, thought it in his own mind. The little bird sang his own song merrily; in the street below there was driving and running to and fro, every one thought of his own affairs, or perhaps of nothing at all; but the bottle neck thought deeply. He thought of the blazing furnace in the factory, where he had been blown into life; he remembered how hot it felt when he was placed in the heated oven, the home from which he sprang, and that he had a strong inclination to leap out again directly; but after a while it became cooler, and he found himself very comfortable. He had been placed in a row, with a whole regiment of his brothers and sisters all brought out of the same furnace; some of them had certainly been blown into champagne bottles, and others into beer bottles, which made a little difference between them. In the world it often happens that a beer bottle may contain the most precious wine, and a champagne bottle be filled with blacking, but even in decay it may always be seen whether a man has been well born. Nobility remains noble, as a champagne bottle remains the same, even with blacking in its interior. When the bottles were packed our bottle was packed amongst them; it little expected then to finish its career as a bottle neck, or to be used as a water-glass to a bird’s-cage, which is, after all, a place of honor, for it is to be of some use in the world. The bottle did not behold the light of day again, until it was unpacked with the rest in the wine merchant’s cellar, and, for the first time, rinsed with water, which caused some very curious sensations. There it lay empty, and without a cork, and it had a peculiar feeling, as if it wanted something it knew not what. At last it was filled with rich and costly wine, a cork was placed in it, and sealed down. Then it was labelled “first quality,” as if it had carried off the first prize at an examination; besides, the wine and the bottle were both good, and while we are young is the time for poetry. There were sounds of song within the bottle, of things it could not understand, of green sunny mountains, where the vines grow and where the merry vine-dressers laugh, sing, and are merry. “Ah, how beautiful is life.” All these tones of joy and song in the bottle were like the working of a young poet’s brain, who often knows not the meaning of the tones which are sounding within him. One morning the bottle found a purchaser in the furrier’s apprentice, who was told to bring one of the best bottles of wine. It was placed in the provision basket with ham and cheese and sausages. The sweetest fresh butter and the finest bread were put into the basket by the furrier’s daughter herself, for she packed it. She was young and pretty; her brown eyes laughed, and a smile lingered round her mouth as sweet as that in her eyes. She had delicate hands, beautifully white, and her neck was whiter still. It could easily be seen that she was a very lovely girl, and as yet she was not engaged. The provision basket lay in the lap of the young girl as the family drove out to the forest, and the neck of the bottle peeped out from between the folds of the white napkin. There was the red wax on the cork, and the bottle looked straight at the young girl’s face, and also at the face of the young sailor who sat near her. He was a young friend, the son of a portrait painter. He had lately passed his examination with honor, as mate, and the next morning he was to sail in his ship to a distant coast. There had been a great deal of talk on this subject while the basket was being packed, and during this conversation the eyes and the mouth of the furrier’s daughter did not wear a very joyful expression. The young people wandered away into the green wood, and talked together. What did they talk about? The bottle could not say, for he was in the provision basket. It remained there a long time; but when at last it was brought forth it appeared as if something pleasant had happened, for every one was laughing; the furrier’s daughter laughed too, but she said very little, and her cheeks were like two roses. Then her father took the bottle and the cork-screw into his hands. What a strange sensation it was to have the cork drawn for the first time! The bottle could never after that forget the performance of that moment; indeed there was quite a convulsion within him as the cork flew out, and a gurgling sound as the wine was poured forth into the glasses.
“Long life to the betrothed,” cried the papa, and every glass was emptied to the dregs, while the young sailor kissed his beautiful bride.
“Happiness and blessing to you both,” said the old people-father and mother, and the young man filled the glasses again.
“Safe return, and a wedding this day next year,” he cried; and when the glasses were empty he took the bottle, raised it on high, and said, “Thou hast been present here on the happiest day of my life; thou shalt never be used by others!” So saying, he hurled it high in the air.
The furrier’s daughter thought she should never see it again, but she was mistaken. It fell among the rushes on the borders of a little woodland lake. The bottle neck remembered well how long it lay there unseen. “I gave them wine, and they gave me muddy water,” he had said to himself, “but I suppose it was all well meant.” He could no longer see the betrothed couple, nor the cheerful old people; but for a long time he could hear them rejoicing and singing. At length there came by two peasant boys, who peeped in among the reeds and spied out the bottle. Then they took it up and carried it home with them, so that once more it was provided for. At home in their wooden cottage these boys had an elder brother, a sailor, who was about to start on a long voyage. He had been there the day before to say farewell, and his mother was now very busy packing up various things for him to take with him on his voyage. In the evening his father was going to carry the parcel to the town to see his son once more, and take him a farewell greeting from his mother. A small bottle had already been filled with herb tea, mixed with brandy, and wrapped in a parcel; but when the boys came in they brought with them a larger and stronger bottle, which they had found. This bottle would hold so much more than the little one, and they all said the brandy would be so good for complaints of the stomach, especially as it was mixed with medical herbs. The liquid which they now poured into the bottle was not like the red wine with which it had once been filled; these were bitter drops, but they are of great use sometimes-for the stomach. The new large bottle was to go, not the little one: so the bottle once more started on its travels. It was taken on board (for Peter Jensen was one of the crew) the very same ship in which the young mate was to sail. But the mate did not see the bottle: indeed, if he had he would not have known it, or supposed it was the one out of which they had drunk to the felicity of the betrothed and to the prospect of a marriage on his own happy return. Certainly the bottle no longer poured forth wine, but it contained something quite as good; and so it happened that whenever Peter Jensen brought it out, his messmates gave it the name of “the apothecary,” for it contained the best medicine to cure the stomach, and he gave it out quite willingly as long as a drop remained. Those were happy days, and the bottle would sing when rubbed with a cork, and it was called a “great lark,” “Peter Jensen’s lark.”
Long days and months rolled by, during which the bottle stood empty in a corner, when a storm arose—whether on the passage out or home it could not tell, for it had never been ashore. It was a terrible storm, great waves arose, darkly heaving and tossing the vessel to and fro. The main mast was split asunder, the ship sprang a leak, and the pumps became useless, while all around was black as night. At the last moment, when the ship was sinking, the young mate wrote on a piece of paper, “We are going down: God’s will be done.” Then he wrote the name of his betrothed, his own name, and that of the ship. Then he put the leaf in an empty bottle that happened to be at hand, corked it down tightly, and threw it into the foaming sea. He knew not that it was the very same bottle from which the goblet of joy and hope had once been filled for him, and now it was tossing on the waves with his last greeting, and a message from the dead. The ship sank, and the crew sank with her; but the bottle flew on like a bird, for it bore within it a loving letter from a loving heart. And as the sun rose and set, the bottle felt as at the time of its first existence, when in the heated glowing stove it had a longing to fly away. It outlived the storms and the calm, it struck against no rocks, was not devoured by sharks, but drifted on for more than a year, sometimes towards the north, sometimes towards the south, just as the current carried it. It was in all other ways its own master, but even of that one may get tired. The written leaf, the last farewell of the bridegroom to his bride, would only bring sorrow when once it reached her hands; but where were those hands, so soft and delicate, which had once spread the table-cloth on the fresh grass in the green wood, on the day of her betrothal? Ah, yes! where was the furrier’s daughter? and where was the land which might lie nearest to her home?
The bottle knew not, it travelled onward and onward, and at last all this wandering about became wearisome; at all events it was not its usual occupation. But it had to travel, till at length it reached land—a foreign country. Not a word spoken in this country could the bottle understand; it was a language it had never before heard, and it is a great loss not to be able to understand a language. The bottle was fished out of the water, and examined on all sides. The little letter contained within it was discovered, taken out, and turned and twisted in every direction; but the people could not understand what was written upon it. They could be quite sure that the bottle had been thrown overboard from a vessel, and that something about it was written on this paper: but what was written? that was the question,—so the paper was put back into the bottle, and then both were put away in a large cupboard of one of the great houses of the town. Whenever any strangers arrived, the paper was taken out and turned over and over, so that the address, which was only written in pencil, became almost illegible, and at last no one could distinguish any letters on it at all. For a whole year the bottle remained standing in the cupboard, and then it was taken up to the loft, where it soon became covered with dust and cobwebs. Ah! how often then it thought of those better days—of the times when in the fresh, green wood, it had poured forth rich wine; or, while rocked by the swelling waves, it had carried in its bosom a secret, a letter, a last parting sigh. For full twenty years it stood in the loft, and it might have stayed there longer but that the house was going to be rebuilt. The bottle was discovered when the roof was taken off; they talked about it, but the bottle did not understand what they said—a language is not to be learnt by living in a loft, even for twenty years. “If I had been down stairs in the room,” thought the bottle, “I might have learnt it.” It was now washed and rinsed, which process was really quite necessary, and afterwards it looked clean and transparent, and felt young again in its old age; but the paper which it had carried so faithfully was destroyed in the washing. They filled the bottle with seeds, though it scarcely knew what had been placed in it. Then they corked it down tightly, and carefully wrapped it up. There not even the light of a torch or lantern could reach it, much less the brightness of the sun or moon. “And yet,” thought the bottle, “men go on a journey that they may see as much as possible, and I can see nothing.” However, it did something quite as important; it travelled to the place of its destination, and was unpacked.
“What trouble they have taken with that bottle over yonder!” said one, “and very likely it is broken after all.” But the bottle was not broken, and, better still, it understood every word that was said: this language it had heard at the furnaces and at the wine merchant’s; in the forest and on the ship,—it was the only good old language it could understand. It had returned home, and the language was as a welcome greeting. For very joy, it felt ready to jump out of people’s hands, and scarcely noticed that its cork had been drawn, and its contents emptied out, till it found itself carried to a cellar, to be left there and forgotten. “There’s no place like home, even if it’s a cellar.” It never occurred to him to think that he might lie there for years, he felt so comfortable. For many long years he remained in the cellar, till at last some people came to carry away the bottles, and ours amongst the number.
Out in the garden there was a great festival. Brilliant lamps hung in festoons from tree to tree; and paper lanterns, through which the light shone till they looked like transparent tulips. It was a beautiful evening, and the weather mild and clear. The stars twinkled; and the new moon, in the form of a crescent, was surrounded by the shadowy disc of the whole moon, and looked like a gray globe with a golden rim: it was a beautiful sight for those who had good eyes. The illumination extended even to the most retired of the garden walks, at least not so retired that any one need lose himself there. In the borders were placed bottles, each containing a light, and among them the bottle with which we are acquainted, and whose fate it was, one day, to be only a bottle neck, and to serve as a water-glass to a bird’s-cage. Everything here appeared lovely to our bottle, for it was again in the green wood, amid joy and feasting; again it heard music and song, and the noise and murmur of a crowd, especially in that part of the garden where the lamps blazed, and the paper lanterns displayed their brilliant colors. It stood in a distant walk certainly, but a place pleasant for contemplation; and it carried a light; and was at once useful and ornamental. In such an hour it is easy to forget that one has spent twenty years in a loft, and a good thing it is to be able to do so. Close before the bottle passed a single pair, like the bridal pair—the mate and the furrier’s daughter—who had so long ago wandered in the wood. It seemed to the bottle as if he were living that time over again. Not only the guests but other people were walking in the garden, who were allowed to witness the splendor and the festivities. Among the latter came an old maid, who seemed to be quite alone in the world. She was thinking, like the bottle, of the green wood, and of a young betrothed pair, who were closely connected with herself; she was thinking of that hour, the happiest of her life, in which she had taken part, when she had herself been one of that betrothed pair; such hours are never to be forgotten, let a maiden be as old as she may. But she did not recognize the bottle, neither did the bottle notice the old maid. And so we often pass each other in the world when we meet, as did these two, even while together in the same town.
The bottle was taken from the garden, and again sent to a wine merchant, where it was once more filled with wine, and sold to an aeronaut, who was to make an ascent in his balloon on the following Sunday. A great crowd assembled to witness the sight; military music had been engaged, and many other preparations made. The bottle saw it all from the basket in which he lay close to a live rabbit. The rabbit was quite excited because he knew that he was to be taken up, and let down again in a parachute. The bottle, however, knew nothing of the “up,” or the “down;” he saw only that the balloon was swelling larger and larger till it could swell no more, and began to rise and be restless. Then the ropes which held it were cut through, and the aerial ship rose in the air with the aeronaut and the basket containing the bottle and the rabbit, while the music sounded and all the people shouted “Hurrah.”
“This is a wonderful journey up into the air,” thought the bottle; “it is a new way of sailing, and here, at least, there is no fear of striking against anything.”
Thousands of people gazed at the balloon, and the old maid who was in the garden saw it also; for she stood at the open window of the garret, by which hung the cage containing the linnet, who then had no water-glass, but was obliged to be contented with an old cup. In the window-sill stood a myrtle in a pot, and this had been pushed a little on one side, that it might not fall out; for the old maid was leaning out of the window, that she might see. And she did see distinctly the aeronaut in the balloon, and how he let down the rabbit in the parachute, and then drank to the health of all the spectators in the wine from the bottle. After doing this, he hurled it high into the air. How little she thought that this was the very same bottle which her friend had thrown aloft in her honor, on that happy day of rejoicing, in the green wood, in her youthful days. The bottle had no time to think, when raised so suddenly; and before it was aware, it reached the highest point it had ever attained in its life. Steeples and roofs lay far, far beneath it, and the people looked as tiny as possible. Then it began to descend much more rapidly than the rabbit had done, made somersaults in the air, and felt itself quite young and unfettered, although it was half full of wine. But this did not last long. What a journey it was! All the people could see the bottle; for the sun shone upon it. The balloon was already far away, and very soon the bottle was far away also; for it fell upon a roof, and broke in pieces. But the pieces had got such an impetus in them, that they could not stop themselves. They went jumping and rolling about, till at last they fell into the court-yard, and were broken into still smaller pieces; only the neck of the bottle managed to keep whole, and it was broken off as clean as if it had been cut with a diamond.
“That would make a capital bird’s glass,” said one of the cellar-men; but none of them had either a bird or a cage, and it was not to be expected they would provide one just because they had found a bottle neck that could be used as a glass. But the old maid who lived in the garret had a bird, and it really might be useful to her; so the bottle neck was provided with a cork, and taken up to her; and, as it often happens in life, the part that had been uppermost was now turned downwards, and it was filled with fresh water. Then they hung it in the cage of the little bird, who sang and twittered more merrily than ever.
“Ah, you have good reason to sing,” said the bottle neck, which was looked upon as something very remarkable, because it had been in a balloon; nothing further was known of its history. As it hung there in the bird’s-cage, it could hear the noise and murmur of the people in the street below, as well as the conversation of the old maid in the room within. An old friend had just come to visit her, and they talked, not about the bottle neck, but of the myrtle in the window.
“No, you must not spend a dollar for your daughter’s bridal bouquet,” said the old maid; “you shall have a beautiful little bunch for a nosegay, full of blossoms. Do you see how splendidly the tree has grown? It has been raised from only a little sprig of myrtle that you gave me on the day after my betrothal, and from which I was to make my own bridal bouquet when a year had passed: but that day never came; the eyes were closed which were to have been my light and joy through life. In the depths of the sea my beloved sleeps sweetly; the myrtle has become an old tree, and I am a still older woman. Before the sprig you gave me faded, I took a spray, and planted it in the earth; and now, as you see, it has become a large tree, and a bunch of the blossoms shall at last appear at a wedding festival, in the bouquet of your daughter.”
There were tears in the eyes of the old maid, as she spoke of the beloved of her youth, and of their betrothal in the wood. Many thoughts came into her mind; but the thought never came, that quite close to her, in that very window, was a remembrance of those olden times,—the neck of the bottle which had, as it were shouted for joy when the cork flew out with a bang on the betrothal day. But the bottle neck did not recognize the old maid; he had not been listening to what she had related, perhaps because he was thinking so much about her.
Translated into Vietnamese by Phan Thien Tri
May, 2022
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét