Thứ Bảy, 24 tháng 12, 2022

 BÀ ẤY CHẲNG RA GÌ

              

                                                          Hans Christian Andersen

                                                          Phan Thiện Trì dịch

 

Ngài thị trưởng đứng ở cửa sổ đang mở. Ông ta trông bảnh bao, với áo sơ mi mỏng, thêu hoa, có các đường diềm bằng đăng ten, trên đó có dán một chiếc ghim trước ngực. Ông đã cạo râu cằm nhẵn một cách lạ thường, mặc dù ông đã làm đứt một tí mỡ mặt và dán vào chỗ đó bằng một miếng giấy báo. 

"Hark 'ee, chàng trai trẻ!" ông kêu lớn.

Cậu bé mà anh ta nói chuyện không ai khác hơn là con trai của một chị thợ giặt nghèo khổ, vừa đi ngang qua nhà. Cậu bé dừng lại, và kính cẩn cởi mũ lưỡi trai.  Phần đỉnh của chiếc mũ này được gập đôi lại vì cậu vẫn thường cuộn lại và bỏ vào túi. Cậu ta đứng trước thị trưởng trong bộ quần áo tồi tàn nhưng rất sạch sẽ và chỉnh tề, chân mang đôi guốc gỗ nặng nề, trông khúm núm như đứng trước nhà vua. 

"Mày là một cậu bé ngoan, mày lễ phép như thế là vừa ý ta lắm,” thị trưởng nói.  “Ta cho rằng mẹ mày đang bận giặt quần áo ngoài bờ sông, và mày định mang cho mẹ mày cái thứ đang ló ra từ túi kia chứ gì?  Nó rất tệ cho mẹ của mày.  Cái thứ đó bao nhiêu vậy?”  

“Chỉ có nửa chai ạ,” cậu bé lắp bắp với giọng sợ hãi.

"Và sáng nay mẹ mày cũng đã uống đúng từng ấy rồi chứ gì?” 

"Không, là ngày hôm qua đấy ạ!” cậu bé cãi lại.

"Hai nửa cộng thành một chai," thị trưởng nói.  “Mẹ mày thật chẳng ra sao cả. Thật là một điều đáng buồn với những con người này.  Nói với mẹ mày rằng bà ấy phải xấu hổ về bản thân. Còn mày đừng để trở thành một kẻ say xỉn, nhưng ta hy vọng rồi mày cũng sẽ như thế, chẳng tránh được đâu con ạ! Thật tội nghiệp!  Thôi đi ngay bây giờ đi”.

Cậu bé  bước đi với chiếc mũ lưỡi trai trên tay, trong khi gió thổi tung mái tóc vàng hoe của cậu, hất tung những lọn tóc xoăn dài. Cậu bé vòng qua góc phố, rẽ vào con ngõ nhỏ dẫn ra bờ sông, nơi mẹ cậu quỳ gối trên chiếc ghế dài, ráng sức nện cái bàn đập xuống chiếc khăn trải giường. Cửa cống ngăn lũ tại nhà máy xay đã được kéo lên, và khi dòng nước chảy xiết đã cuốn băng những tấm khăn trải giường lớn, và gần như sắp lật úp cả chiếc ghế dài, đến nỗi chị thợ giặt buộc phải dùng hết sức chống chân xuống giữ nó lại. 

Chị nói với con," Một tí nữa thì mẹ bị nước cuốn đi. May quá! Con đã đến, mẹ đang cần một thứ gì đó để tiếp thêm sức mạnh một chút. Nước buốt quá mà mẹ đã phải đứng ở đây sáu tiếng đồng hồ rồi. Con có mang gì cho mẹ không? ”

Cậu bé rút cái chai từ trong túi ra, người mẹ cầm lấy, đặt lên môi, tu một hơi.

Chị nói: “Tốt quá!  điều đó thật tốt biết ngần nào. Nóng cả người! Một ngụm này đã có công hiệu chẳng kém gì một bữa cơm nóng hổi, và nó làm ấm áp như thế nào”. Chị trông khá nhợt nhạt; chị đang run rẩy trong bộ quần áo mỏng của mình, và mùa thu đã thực sự đến.  Ôi, nước lạnh làm sao!  Mẹ hy vọng mẹ sẽ không bị ốm. Nhưng không, mẹ không được sợ điều đó.  Cho mẹ thêm một chút, và con cũng có thể nhấp một ngụm, nhưng chỉ một ngụm thôi;  Con không được quen với điều đó, con yêu của mẹ. ”  Chị bước lên cây cầu mà cậu bé đang đứng khi chị rời chiếc ghế dài để lên bờ.  Nước chảy ra từ tấm thảm rơm mà chị đã buộc quanh người và từ áo choàng của chị.  "Mẹ đem hết sức lực ra làm việc và chịu đau đớn đến nỗi gần như bật máu ra các đầu ngón tay," chị nói, "nhưng mẹ sẵn lòng làm điều đó, để có thể nuôi con một cách lương thiện, con trai yêu quí của mẹ!”

Cùng lúc đó, một người phụ nữ, nhiều tuổi hơn chị một chút, tiến về phía họ.  Bà ấy có vẻ ngoài khốn khổ, bị què một chân và có một búp tóc lớn rủ xuống che một bên mắt bị mù.  Lọn tóc này nhằm che đi phần mắt bị tật nhưng lại càng làm cho người ta thấy rõ hơn. Bà ấy là bạn của người thợ giặt, và được hàng xóm gọi là “Martha què, tóc xoã."  "Ồ, chị thật đáng thương; chị làm việc vất vả, đứng ở dưới nước lạnh buốt như thế này! ”  bà ấy kêu lên.  "Đúng là chị thực sự cần một cái gì đó để mang lại cho cho chị một chút ấm áp, vậy mà những người cay độc còn mở miệng ra chê trách vì những giọt chị uống."  Và sau đó Martha lặp lại với người thợ giặt, trong một vài phút, tất cả những gì ông thị trưởng đã tuôn ra với cậu bé lúc nãy mà bà đã nghe lỏm được;  và bà cảm thấy rất tức giận khi bất kỳ người đàn ông nào đã nói về một người mẹ với chính đứa con của bà ấy, về vài giọt rượu mà bà đã uống để giữ sức làm việc nặng nhọc. Bà còn tức giận hơn vì ngay ngày hôm đó, thị trưởng sẽ tổ chức một bữa tiệc tối, có đủ các thứ rượu mùi ngon, rượu vang nặng, nồng nặc, được uống bằng chai.  "Nhiều người sẽ uống nhiều    mức họ cần, nhưng họ không gọi đó là việc nhậu nhẹt!” Nhưng làm như thế, họ đâu có cho là uống rượu. Bọn họ không sao cả vì họ sang trọng, còn chị, họ cho là đồ chẳng ra gì!”  Martha phẫn nộ kêu lên.

Môi run lên vì đau đớn, chị thợ giặt nói, "A!  ông ấy đã nói chuyện với con theo cách đó, phải không, con tôi?"  người phụ nữ giặt giũ nói, và môi bà ấy run lên khi nói.  “Ông ấy nói rằng con có một người mẹ tính hạnh không tốt, là người chẳng ra gì cả. Chà, có lẽ ông ấy đúng, nhưng lẽ ra không nên nói điều đó với trẻ con. Biết bao nhiêu chuyện đau buồn đã xảy ra với mẹ đều từ nhà ấy mà ra cả!”

“Đúng thế,” Martha nói;  “Tôi nhớ chị đã phục vụ ở đó và sống trong ngôi nhà đó khi cha mẹ của thị trưởng còn sống;  đó là bao nhiêu năm trước. Người ta nói, “Đời cha ăn mặn, đời con khát nước”. Martha mỉm cười về câu khôi hài của mình và nói tiếp.  "Bữa tiệc tối thịnh soạn của thị trưởng đáng lẽ phải tạm dừng, nhưng tin tức đến quá muộn.  Người hầu nói với tôi bữa tối đã được nấu xong, khi một bức thư đến nói rằng em trai út của thị trưởng ở Copenhagen đã chết. "

"Chết!"  Chị thợ giặt kêu lên, mặt tái xanh như một cái xác không hồn. 

"Vâng, chắc chắn," Martha đáp;  “Nhưng tại sao chị lại để tâm đến điều đó?  Tôi cho rằng chị đã biết ông ta nhiều năm trước, khi chị còn phục vụ ở đó chứ gì? ”

"Anh ấy chết rồi à?"  chị kêu lên.  “Ồ, anh ấy thật là một người đàn ông có tâm hồn cao quý biết bao! Anh ta chính là hiện thân của lòng nhân từ và sự tử tế, không có nhiều người như anh ấy đâu”. Trong lúc nói thế, những giọt nước mắt lăn dài trên má chị thợ giặt. Rồi chị ấy khóc, “Ôi, tôi chóng mặt quá!  Tôi cảm thấy khá ốm yếu: mọi thứ đang diễn ra quanh tôi. Có phải tôi đã uống hết cả chai rượu? Chắc hẳn tôi đã uống quá mức nên không chịu được!” Chị tựa người vào một tấm ván.

Người phụ nữ kia nói: “Thưa chị, chị bị ốm thật rồi. Hãy cố vui lên một chút cho nó qua đi nào.  Không, thực sự, tôi thấy chị thực sự bị bệnh;  điều tốt nhất em nên làm là dẫn chị về nhà. "

"Nhưng còn chuyện giặt giũ của tôi?"

“Tôi sẽ lo việc đó.  Hãy đưa tay đây.  Cậu bé có thể ở lại đây trông bộ khăn trải giường, và tôi sẽ quay lại và giặt nốt chỗ còn lại cho; chỉ là chuyện vặt”.

Chân tay của người thợ giặt rung chuyển, lảo đảo bước đi, và chị ấy nói, “Tôi đã đứng quá lâu trong nước lạnh, và từ sáng đến giờ tôi chưa ăn uống gì cả. Hỡi Thiên Đường nhân hậu, hãy cứu giúp con về nhà; con đang lên cơn sốt.  Ôi, đứa con tội nghiệp của tôi,” và chị bật khóc sướt mướt.  Và cậu bé tội nghiệp cũng khóc khi ngồi lại một mình bên bờ sông, trông chừng những chiếc khăn trải giường ẩm ướt.

Hai người phụ nữ bước chầm chậm.  Chị thợ giặt trượt chân và loạng choạng lê qua ngõ hẻm, vòng qua góc phố, vào con phố nơi thị trưởng sống;  và vừa đến trước nhà thị trưởng, chị kiệt sức ngã lăn ra vỉa hè.  Nhiều người vây quanh chị, và Martha què chạy về nhà bạn gọi người đến giúp.  Thị trưởng và quan khách ra cửa sổ đứng xem.

“Ồ, đó là người thợ giặt,” ông chủ tiệc nói;  “Ả đấy lại uống rượu nhiều quá rồi. Ả ta là đồ quá hư hỏng, chả ra tích sự gì. Đó là một điều đáng buồn cho cậu con trai nhỏ xinh của ả. Thằng bé ngoan quá. Tôi yêu nó lắm, nhưng mẹ nó lại chẳng ra gì”.

 Một lúc sau, người thợ giặt đáng thương hồi tỉnh lại, và họ dẫn chị đến ngôi nhà tồi tàn của mình và đặt chị lên giường. Martha tốt bụng pha cho chị một cốc bia nóng, với bơ và đường – chị ấy coi đây là liều thuốc tốt nhất - rồi vội vã ra sông, giặt và giặt, chắc chắn là chỉ làm lấy lệ, hay đúng hơn là chỉ vớt những tấm vải lên bờ, ướt như ban đầu, rồi cho vào sọt. Chị đã cố hết sức, nhưng ngặt một nỗi chị quá yếu sức.

Trước buổi tối, chị đang ngồi trong căn phòng nhỏ tồi tàn với người thợ giặt.  Người đầu bếp của thị trưởng đã đưa cho chị ấy một ít khoai tây nướng và một miếng jambon mỡ cho người thợ giặt ốm yếu.  Martha và cậu bé rất thích những thứ này và chén một bữa thoả thích. Chị thợ giặt nói: “người ốm không ăn được gì thì ngửi mùi cho lại sức”. Cậu bé dần dần được đưa lên giường, cùng giường với mẹ, nhưng nó ngủ dưới chân mẹ, được đắp bằng một chiếc chăn bông cũ viền xanh đỏ và trắng chắp vá. Chị thợ giặt đã cảm thấy đỡ hơn một chút vào lúc này.  Bia ấm đã tiếp thêm sức mạnh, và mùi thức ăn ngon khiến chị dễ chịu.

“Cảm ơn rất nhiều, Martha,  bạn tốt với tôi lắm,” chị nói với Martha  “Bây giờ thằng bé đã ngủ, tôi sẽ kể hết cho bạn nghe, mà hình như nó đã ngủ say rồi thì phải. Chị xem cháu nó nằm ngủ ngoan, hiền, vô tội thế kia. Nó không biết rằng mẹ nó đã phải chịu đựng như thế nào; cầu trời cho nó không bao giờ biết chuyện ấy. 

 

Chị cũng biết, trước kia tôi phục vụ tại nhà quan hội thẩm trong triều, cha của ngài thị trưởng hiện giờ, và tình cờ là đứa con trai út ông ta, cậu sinh viên trở về thăm nhà.  Khi đó tôi là một cô gái trẻ dại, nhanh nhẹn, hoạt bát, nhưng trung thực;  có Chúa chứng giám cho điều đó.  Cậu sinh viên ấy vui vẻ và dễ tính, dũng cảm và giàu tình cảm;  mỗi giọt máu trong anh đều tốt đẹp và đáng trân trọng;  một người đàn ông tốt hơn chưa bao giờ sống trên trái đất.  Anh ấy là con trai trong nhà, còn tôi chỉ là một người giúp việc;  nhưng anh ấy yêu tôi thật lòng và danh dự, và anh ấy đã nói với mẹ anh ấy về điều đó. Bà đối với anh  như một thiên thần trên trái đất;  bà rất khôn ngoan, hiền hậu và yêu quý con cái.  Anh ấy ra đi trở lại, và trước khi bắt đầu, anh đã đeo một chiếc nhẫn vàng vào ngón tay tôi;  và ngay sau khi anh ta ra khỏi nhà, bà chủ cho gọi tôi lên.  Bà nghiêm nghị nhưng ngọt ngào lắm,  nhẹ nhàng và tha thiết kéo tôi đến với bà, và nói như thể một thiên thần đang nói. Bà đã giảng giải cho tôi thấy rõ ràng, trong tinh thần và sự thật, sự khác biệt giữa anh ấy và tôi.  “Bây giờ nó rất hài lòng,” bà nói, “với khuôn mặt xinh đẹp của con; nhưng ngoại hình đẹp không tồn tại lâu. Con đã không được học cao hiểu rộng bằng nó. Con không bình đẳng về tâm trí và cấp bậc, và trong đó có điều bất hạnh.  “Ta rất quý trọng người nghèo,”  bà nói thêm.  ‘Trước mắt Đức Chúa Trời, trên Thiên Đàng, nhiều người nghèo có thể chiếm một chỗ cao hơn nhiều người giàu có;  nhưng ở dưới trần gian này, chúng ta phải cẩn thận, chớ có đi lầm đường. Coi chừng chớ để bị lôi cuốn cả hai vào con đường đau khổ mà cả hai đứa tưởng lầm là bảo đảm được hạnh phúc, kẻo chúng ta bị đảo lộn trong kế hoạch của mình, giống như một cỗ xe đi trên một con đường nguy hiểm.  Ta biết một người đàn ông xứng đáng, một nghệ nhân, người muốn kết hôn với con.  Ý ta muốn nói đến Eric, thợ làm găng tay.  Ông là một người góa vợ, không con cái, gia thế tốt.  Con sẽ suy nghĩ kỹ lại chứ?” Mỗi lời bà ấy nói đều đâm vào tim tôi như một nhát dao;  nhưng tôi biết bà ấy đúng, và suy nghĩ đó đè nặng lên tôi.  Tôi hôn lên tay bà ấy, và khóc những giọt nước mắt cay đắng, và tôi càng khóc nhiều hơn khi về phòng và nằm vật mình trên giường.  Tôi đã đi qua một đêm kinh hoàng;  Có Chúa mới biết tôi đã phải chịu đựng những gì, và tôi đã phải đấu tranh như thế nào.  Chủ nhật tuần sau đó,  tôi đến nhà Chúa để cầu xin ánh sáng soi đường cho tôi.  Dường như một sự phù hộ của Thượng Đế rằng khi tôi bước ra khỏi nhà thờ, Eric đã đến gần tôi;  và sau đó không còn nghi ngờ gì trong tâm trí tôi.  Chúng tôi phù hợp với nhau về cấp bậc và hoàn cảnh.  Ngay cả khi đó, anh ấy vẫn là một người có nghĩa khí.  Tôi đến gần anh ta, nắm lấy tay anh và nói: “Anh có còn cảm thấy như vậy đối với tôi không?” “Vâng, đã từng và luôn luôn,”  anh ấy nói.  “Vậy thì bạn có kết hôn với một người con gái tôn vinh và quý trọng bạn, mặc dù người ấy không thể trao tình yêu cho bạn không? nhưng điều đó có thể đến. ”“ Vâng, điều đó sẽ đến, ”anh ta nói;  và chúng tôi cùng nắm tay nhau, và tôi về nhà chủ nhân tôi. Chiếc nhẫn vàng mà con trai bà ấy đã trao cho tôi, tôi đã đeo bên cạnh trái tim mình.  Tôi không thể đeo nó trên ngón tay tôi vào ban ngày, nhưng chỉ vào buổi tối, khi tôi đi ngủ.  Tôi hôn chiếc nhẫn cho đến khi môi tôi gần như chảy máu, và sau đó tôi đưa nó cho chủ nhân của mình, và nói với bà ấy rằng lệnh cấm sẽ được áp dụng cho tôi và người thợ làm găng tay vào tuần sau.  Sau đó, chủ nhân của tôi vòng tay quanh tôi, và hôn tôi.  Bà ấy không nói rằng tôi 'chẳng có ích lợi gì'; rất có thể lúc đó tôi tốt hơn tôi bây giờ;  nhưng những bất hạnh của thế giới này, lúc đó tôi không hề hay biết. Chúng tôi làm lễ kết hôn tại Michaelmas, và trong năm đầu tiên mọi thứ đã diễn ra tốt đẹp với chúng tôi.  Chúng tôi có một người làm công và một thợ học việc, và bạn là người giúp việc của chúng tôi, Martha. ”

“À, vâng, và bạn là một chủ nhân thân yêu, tốt bụng," Martha nói, "Tôi sẽ không bao giờ quên bạn và chồng bạn đã đối xử tốt với tôi như thế nào."

“Đúng, đó là những năm tháng hạnh phúc khi bạn ở bên chúng tôi, mặc dù ban đầu chúng tôi không có con. Người sinh viên mà tôi không bao giờ gặp lại.  Vậy mà tôi đã nhìn thấy anh ấy một lần, mặc dù anh ấy không nhìn thấy tôi.  Anh ta đã đến dự đám tang của mẹ anh ấy.  Tôi nhìn thấy anh ta, trông nhợt nhạt như chết, và vô cùng đau khổ, đang đứng bên mộ cô ấy;  vì bà ấy là mẹ của anh ấy.  Một thời gian sau, khi cha anh mất, anh ấy ở xứ lạ và không về nhà.  Tôi biết anh chưa bao giờ kết hôn, tôi tin rằng anh đã trở thành một luật sư.  Anh ấy đã quên tôi, và ngay cả khi chúng tôi gặp nhau, anh ấy cũng sẽ không biết tôi, vì tôi đã mất hết vẻ đẹp duyên dáng của mình, và có lẽ đó là tất cả những gì tốt đẹp nhất. "  Và rồi chị  kể về những ngày thử thách tăm tối, những ngày nghèo túng khi bất hạnh ập xuống họ.

Hồi đó chúng tôi đã có năm trăm đồng tiền vàng, ”chị nói,“ và có một ngôi nhà trên phố được bán với giá hai trăm, vì vậy chúng tôi nghĩ rằng sẽ đáng để chúng tôi nó dỡ bỏ nó xuống và xây một ngôi nhà mới ở vị trí đó; vì vậy nó đã được mua. Tính cả công thợ xây và công thợ mộc thì ngôi nhà mới sẽ tốn một ngàn không trăm hai mươi đồng tiền vàng. Eric có tín dụng, vì vậy anh  đã vay được tiền ở Copenhagen.  Nhưng thuyền trưởng, người đang mang số tiền ấy đến cho anh ta, đã bị đắm tàu, và số tiền vàng ấy cũng chìm xuống đáy biển. Đúng khoảng thời gian này, đứa con trai yêu dấu của tôi, đang nằm ngủ kìa, chào đời, và chồng tôi bị tấn công bởi một căn bệnh nan y và kéo dài. Suốt trong chín tháng trời, tôi bắt buộc phải thay quần áo cho anh ấy. Chúng tôi không trả được nợ, vay thêm tiền, và tất cả những gì chúng tôi có đã bị mất và bán hết, và sau đó chồng tôi mất.  Kể từ đó tôi đã làm việc cật lực, nỗ lực và phấn đấu vì lợi ích của đứa trẻ.  Tôi đã chà và giặt cả vải thô và vải mịn, nhưng tôi không thể làm cho mình khá giả hơn; và đó là ý muốn của Đức Chúa Trời.  Trong thời gian của chính Ngài, Ngài sẽ gọi tôi về với chính Ngài, nhưng tôi cũng tin rằng Ngài sẽ không bao giờ từ bỏ con trai tôi đâu”.  Nói xong, chị  ngủ thiếp đi.

 

Sáng hôm sau,, chị cảm thấy rất sảng khoái và đủ khỏe để tiếp tục công việc của mình.  Nhưng vừa khi chị bước xuống làn nước lạnh, một cơn ngất xỉu đột ngột ập đến khiến cô choáng   váng;  chị giơ tay ra bấu víu nhưng chỉ chơi vơi trên không thôi. Chị kêu lên một tiếng rồi ngã lăn ra.  Đầu chị tựa trên đất khô, nhưng chân thòng xuống nước;  Đôi guốc gỗ trong có lót rơm cho đỡ lạnh, chỉ buộc bằng một mớ rơm, đã được mang đi theo dòng nước, đó là cảnh tượng được Martha trông thấy khi mang cà phê đến cho chị.

Trong khi đó, một sứ giả đã được thị trưởng cử đến nhà chị để nói rằng chị phải đến gặp ông ta ngay lập tức, vì ông ta có điều gì đó muốn nói với chị.  Nhưng đã quá muộn;  Một bác sĩ phẫu thuật đã được mời đến để mở một tĩnh mạch trên cánh tay của chị, nhưng người phụ nữ tội nghiệp đã chết.

"Bà ấy rượu lắm vào nên mới chết," thị trưởng tàn nhẫn nói.  Trong bức thư báo tin về cái chết của em trai ông, nói rằng em ông đã để lại trong di chúc một di sản trị giá sáu trăm đồng tiền vàng cho người vợ góa của người thợ làm găng tay, người ngày xưa đã từng là người giúp việc của mẹ ông ta, số tiền này phải trả dần cho chị hay con chị, nhiều ít tuỳ theo sự cần dùng của họ.

“Trước kia chắc có điều gì đó giữa em trai mình và bà ta, tôi nhớ ra rồi," thị trưởng nghĩ thầm;  “Bà ấy chết đi cũng phải, còn bây giờ thằng bé con sẽ hưởng toàn bộ số tiền.  Ta sẽ gửi cậu ta đến  với những người trung thực để nuôi dạy cậu ta, để sau này có thể trở thành một người đàn ông làm việc đáng kính. ”  Và phước lành của Đức Chúa Trời quả nhiên cũng muốn cho những lời này được thực hiện đầy đủ.  

Thị trưởng cho gọi cậu bé đến gặp và hứa sẽ chăm sóc cậu, nhưng nói thêm một cách tàn nhẫn nhất rằng thật là một điều tốt đẹp khi mẹ cậu bé đã chết, vì "bà ấy là người chẳng ra gì”.  Họ khiêng chị thợ giặt đến nghĩa trang nhà thờ, nơi chôn cất những người nghèo.  Martha rải cát trên mộ và trồng một cây hoa hồng trên đó, và cậu bé đứng bên cạnh chị, khóc nức nở

"Ôi, mẹ tội nghiệp của con!"  cậu khóc, trong khi những giọt nước mắt lăn dài trên má.  "Những gì họ nói có đúng không, rằng mẹ là người chẳng tốt đẹp gì sao?"

“Không, quả thực không phải vậy,” người hầu già ngước mắt lên trời như muốn cầu xin Thượng Đế làm chứng và nói:  “Mẹ cháu đáng giá rất nhiều.  Ta biết điều đó nhiều năm trước, và biết rõ hơn sau câu chuyện kể đêm cuối cùng của cuộc đời chị ấy, ta chắc chắn về điều đó hơn bao giờ hết.  Ta thề với cháu rằng mẹ cháu là một người phụ nữ ngay thẳng và đức hạnh, và Chúa, đấng ở trên trời, biết ta đang nói sự thật. Vậy cháu mặc cho người đời chê bai mẹ cháu là người hư hỏng, dù thế giới có thể nói, ngay cả bây giờ, rằng chị ấy là người chẳng ra gì”.

 

                                            Phan Thiện Trì dịch

                                                   June, 2022

 

 

SHE WAS GOOD FOR NOTHING

                                                                by

                                                                Hans Christian Andersen

 

THE mayor stood at the open window. He looked smart, for his shirt-frill, in which he had stuck a breast-pin, and his ruffles, were very fine. He had shaved his chin uncommonly smooth, although he had cut himself slightly, and had stuck a piece of newspaper over the place. “Hark ’ee, youngster!” cried he.

The boy to whom he spoke was no other than the son of a poor washer-woman, who was just going past the house. He stopped, and respectfully took off his cap. The peak of this cap was broken in the middle, so that he could easily roll it up and put it in his pocket. He stood before the mayor in his poor but clean and well-mended clothes, with heavy wooden shoes on his feet, looking as humble as if it had been the king himself.

“You are a good and civil boy,” said the mayor. “I suppose your mother is busy washing the clothes down by the river, and you are going to carry that thing to her that you have in your pocket. It is very bad for your mother. How much have you got in it?”

“Only half a quartern,” stammered the boy in a frightened voice.

“And she has had just as much this morning already?”

“No, it was yesterday,” replied the boy.

“Two halves make a whole,” said the mayor. “She’s good for nothing. What a sad thing it is with these people. Tell your mother she ought to be ashamed of herself. Don’t you become a drunkard, but I expect you will though. Poor child! there, go now.”

The boy went on his way with his cap in his hand, while the wind fluttered his golden hair till the locks stood up straight. He turned round the corner of the street into the little lane that led to the river, where his mother stood in the water by her washing bench, beating the linen with a heavy wooden bar. The floodgates at the mill had been drawn up, and as the water rolled rapidly on, the sheets were dragged along by the stream, and nearly overturned the bench, so that the washer-woman was obliged to lean against it to keep it steady. “I have been very nearly carried away,” she said; “it is a good thing that you are come, for I want something to strengthen me. It is cold in the water, and I have stood here six hours. Have you brought anything for me?”

The boy drew the bottle from his pocket, and the mother put it to her lips, and drank a little.

“Ah, how much good that does, and how it warms me,” she said; “it is as good as a hot meal, and not so dear. Drink a little, my boy; you look quite pale; you are shivering in your thin clothes, and autumn has really come. Oh, how cold the water is! I hope I shall not be ill. But no, I must not be afraid of that. Give me a little more, and you may have a sip too, but only a sip; you must not get used to it, my poor, dear child.” She stepped up to the bridge on which the boy stood as she spoke, and came on shore. The water dripped from the straw mat which she had bound round her body, and from her gown. “I work hard and suffer pain with my poor hands,” said she, “but I do it willingly, that I may be able to bring you up honestly and truthfully, my dear boy.”

At the same moment, a woman, rather older than herself, came towards them. She was a miserable-looking object, lame of one leg, and with a large false curl hanging down over one of her eyes, which was blind. This curl was intended to conceal the blind eye, but it made the defect only more visible. She was a friend of the laundress, and was called, among the neighbors, “Lame Martha, with the curl.” “Oh, you poor thing; how you do work, standing there in the water!” she exclaimed. “You really do need something to give you a little warmth, and yet spiteful people cry out about the few drops you take.” And then Martha repeated to the laundress, in a very few minutes, all that the mayor had said to her boy, which she had overheard; and she felt very angry that any man could speak, as he had done, of a mother to her own child, about the few drops she had taken; and she was still more angry because, on that very day, the mayor was going to have a dinner-party, at which there would be wine, strong, rich wine, drunk by the bottle. “Many will take more than they ought, but they don’t call that drinking! They are all right, you are good for nothing indeed!” cried Martha indignantly.

“And so he spoke to you in that way, did he, my child?” said the washer-woman, and her lips trembled as she spoke. “He says you have a mother who is good for nothing. Well, perhaps he is right, but he should not have said it to my child. How much has happened to me from that house!”

“Yes,” said Martha; “I remember you were in service there, and lived in the house when the mayor’s parents were alive; how many years ago that is. Bushels of salt have been eaten since then, and people may well be thirsty,” and Martha smiled. “The mayor’s great dinner-party to-day ought to have been put off, but the news came too late. The footman told me the dinner was already cooked, when a letter came to say that the mayor’s younger brother in Copenhagen is dead.”

“Dead!” cried the laundress, turning pale as death.

“Yes, certainly,” replied Martha; “but why do you take it so much to heart? I suppose you knew him years ago, when you were in service there?”

“Is he dead?” she exclaimed. “Oh, he was such a kind, good-hearted man, there are not many like him,” and the tears rolled down her cheeks as she spoke. Then she cried, “Oh, dear me; I feel quite ill: everything is going round me, I cannot bear it. Is the bottle empty?” and she leaned against the plank.

“Dear me, you are ill indeed,” said the other woman. “Come, cheer up; perhaps it will pass off. No, indeed, I see you are really ill; the best thing for me to do is to lead you home.”

“But my washing yonder?”

“I will take care of that. Come, give me your arm. The boy can stay here and take care of the linen, and I’ll come back and finish the washing; it is but a trifle.”

The limbs of the laundress shook under her, and she said, “I have stood too long in the cold water, and I have had nothing to eat the whole day since the morning. O kind Heaven, help me to get home; I am in a burning fever. Oh, my poor child,” and she burst into tears. And he, poor boy, wept also, as he sat alone by the river, near to and watching the damp linen.

The two women walked very slowly. The laundress slipped and tottered through the lane, and round the corner, into the street where the mayor lived; and just as she reached the front of his house, she sank down upon the pavement. Many persons came round her, and Lame Martha ran into the house for help. The mayor and his guests came to the window.

“Oh, it is the laundress,” said he; “she has had a little drop too much. She is good for nothing. It is a sad thing for her pretty little son. I like the boy very well; but the mother is good for nothing.”

After a while the laundress recovered herself, and they led her to her poor dwelling, and put her to bed. Kind Martha warmed a mug of beer for her, with butter and sugar—she considered this the best medicine—and then hastened to the river, washed and rinsed, badly enough, to be sure, but she did her best. Then she drew the linen ashore, wet as it was, and laid it in a basket. Before evening, she was sitting in the poor little room with the laundress. The mayor’s cook had given her some roasted potatoes and a beautiful piece of fat for the sick woman. Martha and the boy enjoyed these good things very much; but the sick woman could only say that the smell was very nourishing, she thought. By-and-by the boy was put to bed, in the same bed as the one in which his mother lay; but he slept at her feet, covered with an old quilt made of blue and white patchwork. The laundress felt a little better by this time. The warm beer had strengthened her, and the smell of the good food had been pleasant to her.

“Many thanks, you good soul,” she said to Martha. “Now the boy is asleep, I will tell you all. He is soon asleep. How gentle and sweet he looks as he lies there with his eyes closed! He does not know how his mother has suffered; and Heaven grant he never may know it. I was in service at the counsellor’s, the father of the mayor, and it happened that the youngest of his sons, the student, came home. I was a young wild girl then, but honest; that I can declare in the sight of Heaven. The student was merry and gay, brave and affectionate; every drop of blood in him was good and honorable; a better man never lived on earth. He was the son of the house, and I was only a maid; but he loved me truly and honorably, and he told his mother of it. She was to him as an angel upon earth; she was so wise and loving. He went to travel, and before he started he placed a gold ring on my finger; and as soon as he was out of the house, my mistress sent for me. Gently and earnestly she drew me to her, and spake as if an angel were speaking. She showed me clearly, in spirit and in truth, the difference there was between him and me. ‘He is pleased now,’ she said, ‘with your pretty face; but good looks do not last long. You have not been educated like he has. You are not equals in mind and rank, and therein lies the misfortune. I esteem the poor,’ she added. ‘In the sight of God, they may occupy a higher place than many of the rich; but here upon earth we must beware of entering upon a false track, lest we are overturned in our plans, like a carriage that travels by a dangerous road. I know a worthy man, an artisan, who wishes to marry you. I mean Eric, the glovemaker. He is a widower, without children, and in a good position. Will you think it over?’ Every word she said pierced my heart like a knife; but I knew she was right, and the thought pressed heavily upon me. I kissed her hand, and wept bitter tears, and I wept still more when I went to my room, and threw myself on the bed. I passed through a dreadful night; God knows what I suffered, and how I struggled. The following Sunday I went to the house of God to pray for light to direct my path. It seemed like a providence that as I stepped out of church Eric came towards me; and then there remained not a doubt in my mind. We were suited to each other in rank and circumstances. He was, even then, a man of good means. I went up to him, and took his hand, and said, ‘Do you still feel the same for me?’ ‘Yes; ever and always,’ said he. ‘Will you, then, marry a maiden who honors and esteems you, although she cannot offer you her love? but that may come.’ ‘Yes, it will come,’ said he; and we joined our hands together, and I went home to my mistress. The gold ring which her son had given me I wore next to my heart. I could not place it on my finger during the daytime, but only in the evening, when I went to bed. I kissed the ring till my lips almost bled, and then I gave it to my mistress, and told her that the banns were to be put up for me and the glovemaker the following week. Then my mistress threw her arms round me, and kissed me. She did not say that I was ‘good for nothing;’ very likely I was better then than I am now; but the misfortunes of this world, were unknown to me then. At Michaelmas we were married, and for the first year everything went well with us. We had a journeyman and an apprentice, and you were our servant, Martha.”

“Ah, yes, and you were a dear, good mistress,” said Martha, “I shall never forget how kind you and your husband were to me.”

“Yes, those were happy years when you were with us, although we had no children at first. The student I never met again. Yet I saw him once, although he did not see me. He came to his mother’s funeral. I saw him, looking pale as death, and deeply troubled, standing at her grave; for she was his mother. Sometime after, when his father died, he was in foreign lands, and did not come home. I know that he never married, I believe he became a lawyer. He had forgotten me, and even had we met he would not have known me, for I have lost all my good looks, and perhaps that is all for the best.” And then she spoke of the dark days of trial, when misfortune had fallen upon them.

“We had five hundred dollars,” she said, “and there was a house in the street to be sold for two hundred, so we thought it would be worth our while to pull it down and build a new one in its place; so it was bought. The builder and carpenter made an estimate that the new house would cost ten hundred and twenty dollars to build. Eric had credit, so he borrowed the money in the chief town. But the captain, who was bringing it to him, was shipwrecked, and the money lost. Just about this time, my dear sweet boy, who lies sleeping there, was born, and my husband was attacked with a severe lingering illness. For three quarters of a year I was obliged to dress and undress him. We were backward in our payments, we borrowed more money, and all that we had was lost and sold, and then my husband died. Since then I have worked, toiled, and striven for the sake of the child. I have scrubbed and washed both coarse and fine linen, but I have not been able to make myself better off; and it was God’s will. In His own time He will take me to Himself, but I know He will never forsake my boy.” Then she fell asleep. In the morning she felt much refreshed, and strong enough, as she thought, to go on with her work. But as soon as she stepped into the cold water, a sudden faintness seized her; she clutched at the air convulsively with her hand, took one step forward, and fell. Her head rested on dry land, but her feet were in the water; her wooden shoes, which were only tied on by a wisp of straw, were carried away by the stream, and thus she was found by Martha when she came to bring her some coffee.

In the meantime a messenger had been sent to her house by the mayor, to say that she must come to him immediately, as he had something to tell her. It was too late; a surgeon had been sent for to open a vein in her arm, but the poor woman was dead.

“She has drunk herself to death,” said the cruel mayor. In the letter, containing the news of his brother’s death, it was stated that he had left in his will a legacy of six hundred dollars to the glovemaker’s widow, who had been his mother’s maid, to be paid with discretion, in large or small sums to the widow or her child.

“There was something between my brother and her, I remember,” said the mayor; “it is a good thing that she is out of the way, for now the boy will have the whole. I will place him with honest people to bring him up, that he may become a respectable working man.” And the blessing of God rested upon these words. The mayor sent for the boy to come to him, and promised to take care of him, but most cruelly added that it was a good thing that his mother was dead, for “she was good for nothing.” They carried her to the churchyard, the churchyard in which the poor were buried. Martha strewed sand on the grave and planted a rose-tree upon it, and the boy stood by her side.

“Oh, my poor mother!” he cried, while the tears rolled down his cheeks. “Is it true what they say, that she was good for nothing?”

“No, indeed, it is not true,” replied the old servant, raising her eyes to heaven; “she was worth a great deal; I knew it years ago, and since the last night of her life I am more certain of it than ever. I say she was a good and worthy woman, and God, who is in heaven, knows I am speaking the truth, though the world may say, even now she was good for nothing.”

 

                            Translated into Vietnamese by Phan Thien Tri

                                                        June, 2022

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

MUA RAO  - Hwang sun Won (uo) https://gtvh51.blogspot.com/2024/10/rao-sun-won-han-quoc-ngay-khi-cau-be.html